CHÍNH SÁCH BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI PHẦN MỀM MÁY TÍNH VIỆT NAM

BÙI MẠNH HẢI (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học và công nghệ và được chứng kiến thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ vào một nền kinh tế mang bản chất hoàn toàn mới – nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, kết cấu giá trị của sản phẩm, dịch vụ có sự thay đổi cơ bản – hàm lượng vật chất ngày càng giảm và ngược lại hàm lượng trí tuệ không ngừng tăng lên. Đối với một số sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng trí tuệ chiếm giá trị gần như tuyệt đối, trong số đó không thể không kể đến phần mềm máy tính. Có thể nói rằng không một ngành công nghiệp nào cần ít vốn đầu tư ban đầu về cơ sở vật chất nhưng mang lại giá trị tăng cao như ngành công nghiệp phần mềm.

Tuy nhiên, một trong những đặc điểm ưu việt của sản phẩm phần mềm – đặc điểm dễ sao chép, nhân bản – lại trở thành một nguyên nhân cơ bản là nạn sao chép trái phép làm cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp này nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Chính vì lẽ đó, để phát triển ngành công nghiệp này, bên cạnh những chính sách ưu đãi khác, cần phải có một cơ chế bảo hộ hữu hiệu chống lại việc sao chép trái phép phần mềm.

Sớm tiên đoán trước được vai trò của ngành công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và công nghiệp phần mềm nói riêng trong nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra chiến lược đồng bộ nhằm phát triển ngành công nghiệp này từ rất sớm và coi đó là một lĩnh vực mũi nhọn có tính chất đột phá cần được ưu tiên đầu tư, phát triển. Cùng với các chính sách, chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế quan, tài chính v.v. cho ngành công nghiệp phần mềm, việc hoàn thiện và kiện toàn hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và phần mềm máy tính nói riêng cũng được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm thoả đáng. Cụ thể là, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020 và những nhiệm vụ đến năm 2010 đã đề ra nhiệm vụ: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ …”; Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị (Khoá VIII) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã giao cho “Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc rà soát lại và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh việc ứng dụng và phát triển CNTT…”; và Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã bổ sung nhiệm vụ “Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ …”.

Continue reading

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH

LS. TS. NGUYỄN HOÀN THÀNH – Văn phòng luật sư Phạm và Liên Danh (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Hiện nay vấn đề bảo hộ bản quyền phần mềm máy tính đang được dư luận và giới chuyên môn quan tâm nhiều như là giải pháp đối với sự sống còn và phát triển công nghiệp sản xuất phần mêm máy tính của nước ta. Điều 747 khoản 1 Bộ luật dân sự CHXHCN Việt nam (BLDS) đã xác định phần mềm máy tính là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Điều 4 Nghị định số 76/CP ngày 29-12-1996 còn xác định “phần mềm máy tính gồm chương trình máy tính, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, cơ sở dữ liệu”. Tuy nhiên, khái niệm phần mềm máy tính rộng hơn, bao hàm các đối tượng, tài liệu không thuộc phần cứng liên kết với việc xây dựng và hoạt động của chương trình máy tính và có thể phân loại thành:

1. các tài liệu thiết kế bước đầu thí dụ như sơ đồ khối, biểu đồ, các đặc tả, mẫu biểu bảng …

2. các chương trình máy tính bao gồm mã nguồn và mã đối tượng

3. các phương tiện xây dựng phần mềm như các chương trình dịch, chương trình bổ trợ…

4. thông tin được lưu trữ trên máy tính thí dụ như các tác phẩm viết, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc… được lưu trữ ở dạng số

5. cơ sở dữ liệu

6. các thông tin đầu ra của máy tính như âm thanh, các file, các trang in …

7. hiển thị màn hình

8. các tài liệu hướng dẫn, tra cứu in trên giấy hay ở dạng số

9. các ngôn ngữ lập trình

Continue reading

BẢO HỘ PHẦN MỀM MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM

TS.  NGUYỄN ĐÌNH HUY – Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP.HCM (Bài được viết trước thời điểm Luật SHTT năm 2005 được ban hành)

Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hửu trí tuệ, một loại quyền sở hửu đối với tài sản vô hình – thành quả của hoạt động sáng tạo của con người.Tài sản vô hình là tài sản không nhìn thấy được song trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những đối tượng của quyền tác giả rất dễ bị xâm phạm từ phía người sử dụng, gây ra những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến quyền lợi của người sáng tạo ra tác phẩm nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Xét từ góc độ lý luận, quan hệ quyền tác giả là một loại quan hệ pháp luật tuyệt đối, là quan hệ vật quyền mà đối tượng (khách thể) của nó là những tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật là món ăn tinh thần không thể thiếu được của cuộc sống con người, phản ánh mức độ phát triển của một đất nước.

Phần mềm máy tính (PMMT) là một trong số các loại hình tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật được pháp luật bảo hộ (Điều 747 BLDS) là một đối tượng có những đặc thù riêng so với các đối tượng khác. PMMT là một hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó và các tập dữ liệu liên quan, chỉ dẫn cho máy tính hoặc hệ thống tin học biết phải làm gì để thực hiện nhiệm vụ đã đề ra. PMMT có thể được cài đặt ngay trong máy tính hoặc được lưu trữ ở ngoài máy tính dưới các hình thức khác nhau như văn bản, đĩa từ, đĩa quang…. Mặc dù trong các Công ước quốc tế về quyền tác giả, PMMT không được coi là một loại hình tác phẩm được bảo hộ nhưng pháp luật tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều bảo hộ PMMT bằng chế định quyền tác giả. Riêng ở Hoa Kỳ, PMMT còn có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế nếu thỏa mãn được các điều kiện như: tính mới, tính sáng tạo và tính hữu ích.

Luật pháp của các quốc gia không đồng nhất trong khái niệm về PMMT cũng như tồn
tại những quan điểm khác nhau về lĩnh vực bảo hộ đối với PMMT. Một luồng quan điểm cho rằng PMMT không có những đặc trưng của một tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật và một người bình thường nếu không biết sử dụng máy tính thì không thể khai thác được công dụng của PMMT. Đối tượng của quyền tác giả phải là những tác phẩm chứa đựng nội dung văn học, khoa học, nghệ thuật được sáng tạo dưới một hình thức vật chất nhất định mà con người có thể cảm nhận được bằng các cơ quan thính giác, thị giác, xúc giác… nghĩa là có thể nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy được….

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 63/NQ-CP NGÀY 23 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC QUỐC GIA

Vấn đề an ninh lương thực (bao gồm lương thực, thực phẩm) được Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, đã đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật là:

Sản lượng lương thực có hạt tăng bình quân 3,7%/năm trong giai đoạn 2001 – 2008, cao hơn khoảng 3 lần tốc độ gia tăng dân số trong cùng thời kỳ. Sản xuất lúa gạo đã đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu bình quân khoảng 4 – 5 triệu tấn gạo/năm. Sản lượng thực phẩm từ rau màu, quả, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản cũng gia tăng đáng kể.

Hệ thống lưu thông lương thực đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận lương thực. Thị trường nội địa chuyển dần sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Tình trạng suy dinh dưỡng của người dân được cải thiện. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đã giảm từ 25% vào năm 2005 đến năm 2008 còn 20%, đạt trước mục tiêu kế hoạch của năm 2010.

Tuy đạt được các thành tựu trên, an ninh lương thực nước ta vẫn còn hạn chế, yếu kém là: sản xuất lương thực, thực phẩm chưa thực sự bền vững; tổ chức sản xuất nông nghiệp chậm được đổi mới, cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất còn nhiều yếu kém; quản lý sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu còn bất cập; thu nhập của người sản xuất còn thấp.

An ninh lương thực là vấn đề trọng đại của đất nước trước mắt cũng như lâu dài, để khắc phục hạn chế yếu kém trên đây, Chính phủ ban hành Nghị quyết về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia với nội dung sau:

Continue reading

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ – KÊNH GIAO THƯƠNG QUỐC TẾ HIỆU QUẢ

MINH HOÀNG

Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT – TT), sự ra đời và phát triển của siêu xa lộ thông tin toàn cầu Internet, nhân loại được bổ sung thêm một nguồn tài nguyên mới – Tài nguyên thông tin. Và đã làm thay đổi mọi hoạt động của nền kinh tế thế giới. Thương mại điện tử (TMĐT) ra đời, với sự phát triển ngoạn mục xét cả về nội dung cũng như phạm vi, đối tượng và tính hiệu quả của nó, đã nhanh chóng khẳng định vị thế trong nền kinh tế quốc tế. Bên cạnh những lợi ích tiềm tàng, TMĐT đang đặt ra nhiều thách thức, nhất là các nước đang phát triển về vốn, về hạ tầng cơ sở, về pháp lý và … cả thói quen của thị trường, xã hội.

Ngày nay cuộc cách mạng CNTT và viễn thông (ICT) diễn ra một cách sôi động đang tác động trực tiếp và sâu sắc đến mọi hoạt động kinh tế xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Càng về những năm gần đây, tại các nước công nghiệp phát triển cũng như ở các nước NICs, xuất hiện ngày càng nhiều loại hình kinh doanh mới hoạt động trên các mạng truyền thông số và đặc biệt là trên mạng Internet, đó là các doanh nghiệp TMĐT. Sự xuất hiện của mô hình kinh doanh này không chỉ làm đa dạng hoá hoạt động doanh nghiệp của con người mà còn thực sự trở thành một cuộc cách mạng kinh tế – xã hội có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước đột phá mới về kinh tế của nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba.

TMĐT sử dụng hệ thống mạng truyền thông số toàn cầu để tạo ra một thị trường điện tử cho tất cả các loại hình sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và hàng hoá; bao hàm tất cả các hoạt động cần thiết để hoàn tất một thương vụ, trong đó có đàm phán, trao đổi chứng từ, truy cập thông tin từ các dịch vụ trợ giúp (thuế, bảo hiểm, vận tải…) và ngân hàng, tất cả được thực hiện trong các điều kiện an toàn và bảo mật. Trong TMĐT, người ta sử dụng các phương tiện chủ yếu như máy điện thoại, fax, hệ thống thiết bị thanh toán điện tử, mạng nội bộ (Inttranet), mạng ngoại bộ (Extranet) và mạng toàn cầu (Internet).

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 10: BẦU CHỌN, NHIỆM KỲ VÀTÁI CỬ CỦA TỔNG THỐNG

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 24 và 25 tháng Bảy năm 1787

Cách thức bầu chọn và nhiệm kỳ của Tổng thống là một điểm quan trọng của bản Hiến pháp Mỹ. Mọi đại biểu đều lo lắng và mong muốn tìm ra được giải pháp tối ưu để chọn được một Tổng thống có tư cách đạo đức tốt, không phụ thuộc vào những mưu đồ của những phe phái khác, cũng như không phụ thuộc vào các thế lực nước ngoài, như sau này vẫn xảy ra ở nhiều quốc gia khác.

Cũng như hiện nay, việc bầu chọn nguyên thủ quốc gia của rất nhiều nước chịu sức ép của chính nước Mỹ, điều mà khi đó, các đại biểu đều lo ngại. Giải pháp bầu cử bởi những đại cử tri là sự thỏa hiệp và sáng kiến của Hội nghị nhằm vừa có những cử tri có chất lượng, vừa bầu chọn theo tỷ lệ của các tiểu bang, lại không làm cho Tổng thống phụ thuộc vào Quốc hội.

Đôi khi có cảm tưởng rằng các đại biểu đã quá cẩn thận khi tính đến mọi chuyện có thể xảy ra, nhưng thực tế lại cho thấy, sự lựa chọn của họ là rất sáng suốt và mọi thảo luận kỹ lưỡng này đều là nhằm giảm tối đa bất cứ nguy cơ nào có thể phát sinh.

Qui định "Tổng thống được các đại cử tri bầu chọn" được đưa ra xem xét.

Ngài HOUSTON: Đề xuất Tổng thống sẽ được "cơ quan lập pháp quốc gia" bổ nhiệm thay cho "việc các đại cử tri được các cơ quan lập pháp tiểu bang chọn lựa, để bầu Tổng thống". Ông cho rằng không thể tập hợp được những đại cử tri ở những vùng quá xa xôi của đất nước.

Ngài SPAIGHT: Ủng hộ đề xuất này.

Ngài GERRY: Phản đối đề xuất đó vì không thấy những khó khăn nào như Ngài Houston nói. Việc bầu chọn Tổng thống cần phải được coi là quan trọng đặc biệt vì chức vụ này kích động lòng khao khát mãnh liệt của nhiều người muốn đạt chức vụ này. Nếu quan điểm này được đồng ý, cần phải để Tổng thống không thể được tái cử để ông ta độc lập với cơ quan lập pháp, vì sự phụ thuộc sẽ ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến cách suy nghĩ và hành động của ông ta.

Continue reading

NGUYÊN TẮC TỶ LỆ TRONG LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ LUẬT CẠNH TRANH – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG VÀO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Cách đây hơn 2000 năm, nhà Triết học Hy Lạp nổi tiếng thế giới Aristote đã có một câu bất hủ "Con người – nếu tách khỏi pháp luật sẽ trở thành loài động vật dã man nhất; nếu gắn với pháp luật sẽ trở thành loại động vật văn minh nhất". Tác giả xin phép bổ sung: mục đích của pháp luật – xét cho cùng, không phải là làm cho con người trở thành dã man mà chính là làm cho con người trở thành văn minh.

Nguyên tắc tỷ lệ được hiểu là việc "đi tìm sự kết hợp giữa phương tiện và mục đích đạt được"[1]. Theo quan điểm đã được thừa nhận rộng rãi tại Hoa Kỳ và các nước EU, trong nhà nước pháp quyền, cơ quan nhà nước chỉ áp dụng các biện pháp thật sự cần thiết để duy trì và tái lập trật tự công cộng. Nhà nước không nên và không cần làm quá những gì cần thiết để đạt được mục đích của mình, đặc biệt là trong quá trình ra quyết định. Ví dụ thực tiễn ở EU: trong chừng mực có thể, về mặt hình thức, Uỷ ban Châu Âu luôn ưu tiên chọn các phương pháp hành động ít mang tính ràng buộc nhất đối với các nước thành viên, ví dụ như ban hành các Chỉ thị (directive) nhiều hơn là Nghị định (règlement), vì Chỉ thị ít mang tính ràng buộc hơn Nghị định (vốn được áp dụng trực tiếp, không cần nội luật hóa). Về mặt nội dung, EU xác định tránh ban hành những quy phạm quá chi tiết, nên dành một khoảng không gian để cho các cơ quan thực thi pháp luật vận dụng sáng tạo pháp luật phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn cụ thể.

Có 3 nguyên tắc chi phối nguyên tắc tỷ lệ.

Một là quy phạm khả năng (rules of capability): hiểu một cách đơn giản thì quy phạm khả năng dùng để chỉ một biện pháp bất kỳ do nhà nước tiến hành phải có khả năng thực tế đạt được mục đích mong muốn. Muốn vậy, trước khi ra quyết định, nhà nước cần có đánh giá mang tính dự báo về những hệ quả có thể phát sinh theo hướng tích cực hay tiêu cực. Ngoài những hệ quả có thể dự báo được, cũng cần phải đánh giá cả những hệ quả khách quan khác không nhìn thấy trước được (đánh giá rủi ro), để từ đó có cơ sở cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định.

Continue reading

XỬ LÝ CÔNG NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

LS. ĐOÀN THỊ LAN – Đoàn Luật sư TPHCM

Vị trí của ngành ngân hàng được ví như bộ xương sống trong nền kinh tế, hoạt động ngân hàng với nhiều loại hình phục vụ, nhiều chức năng nhưng chủ chốt của hoạt động ngân hàng chỉ là một định chế tài chính trung gian, hiểu nôm na là huy động vốn từ nơi này và cho nơi khác vay dưới nhiều hình thức, chính vì vậy hoạt động vào dịp cuối năm của các ngân hàng, ngoài các nghiệp vụ khác, việc thu hồi nợ và xử lý các khoản vay quá hạn cũng là trọng tâm của các ngân hàng, bài viết này chỉ khoanh vùng trong phạm vi xử lý nợ quá hạn tại các ngân hàng với vài kinh nghiệm trong các vụ kiện đòi nợ tại ngân hàng nên xin chia sẻ chút ý kiến của cá nhân mình trong lãnh vực hoạt động này.

Muốn xử lý tốt công nợ tại ngân hàng cần phải để tâm các vấn đề sau:

Trước hết phải xem xét toàn bộ hồ sơ , phân loại hồ sơ theo các tiêu chí:

– Hồ sơ pháp lý có đầy đủ, đúng qui trình?

– Tài sản thế chấp cầm cố có công chứng?

Một bộ hồ sơ cho vay tại ngân hàng theo đúng qui trình thì rất nhiều giấy tờ, nhưng khi xảy ra vấn đề trong hoạt động của bên vay và chuyển qua bộ phận xử lý thì hồ sơ đó phải được xem xét thật chi tiết về tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay đó:

– Việc  thế chấp, cầm cố tài sản có hợp lệ không?

Chú ý đến loại tài sản thế chấp dưới hình thức bảo lãnh,

– Tình hình tài sản thế chấp , cầm cố đó hiện tại như thế nào?

Nếu thấy không ổn thì cần phải bổ sung hoặc thay thế tài sản khác.

Đặc biệt đối với những hồ sơ cầm cố hàng hóa phải xem lại hàng nhất là giá trị thực của loại hàng đó trên thị trường.., phải kiểm tra lại kho chứa hàng và tình hình bảo hiểm hàng nếu để tại kho của bên thứ 3.

Continue reading

HỆ THỐNG KIỂM TOÁN VIỆT NAM THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GS.TS. VƯƠNG ĐÌNH HUỆ – Tổng Kiểm toán Nhà nước

Hệ thống kiểm toán ở VN – một trong những công cụ quản lý kinh tế – tài chính hữu hiệu, sản phẩm của nền kinh tế thị trường, của hội nhập kinh tế quốc tế đã được hình thành và có những bước phát triển đáng ghi nhận. Hệ thống kiểm toán gồm 3 phân hệ cấu thành là Kiểm toán Nhà nước (KTNN), kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.

Các phân hệ có vị trí, vai trò và phạm vi hoạt động khác nhau, nhưng cùng thực hiện chức năng kiểm tra, kiểmsoát đối với các hoạt động kinh tế – tài chính, có sự tương đồng nhất định vềphương pháp chuyên môn nghiệp vụ. Hoạt động kiểm toán độc lập được hình thành từ năm 1991, KTNN từ năm 1994, kiểm toán nội bộ  từ năm 1997. Từ đó đến nay, các phân hệ kiểm toán đã dần khẳng định được vị trí, vai trò và có những đóng góp tích cực đối với quá trình quản lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực tài chính và tài sản trong xã hội; góp phần làm lành mạnh các quan hệ tài chính – tiền tệ; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường ở VN.

1. Những thành tựu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN

Có thể khẳng định những thành tựu chủ yếu về phát triển của hệ thống kiểm toán VN như sau:

Một là, pháp luật về kiểm toán sớm hình thành (văn bản quy phạm pháp luật về KTNN và về kiểm toán độc lập được ban hành vào năm 1994, về kiểm toán nội bộ năm 1997), đã tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán. Đến nay, Nhà nước đã ban hành Luật KTNN, Nghị định về kiểm toán độc lập, quy định của Bộ Tài chính về quy chế kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây là cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho sự phát triển hệ thống kiểm toán ở VN. Bên cạnh đó, KTNN đã ban hành được hệ thống chuẩn mực KTNN và nhiều quy trình kiểm toán chuyên ngành áp dụng cho đối tượng kiểm toán cụ thể, Bộ Tài chính cũng đã ban hành 38 chuẩn mực kiểm toán để áp dụng trong hoạt động kiểm toán độc lập và kiểm soát chất lượng kiểm toán;

Continue reading

KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU TIẾT SÁP NHẬP, MUA LẠI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Vai trò của Nhà nước chính là tạo dựng một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, một khung khổ pháp lý khuyến khích đầu tư tư nhân và cạnh tranh, thực thi chính sách mở cửa hướng vào thương mại quốc tế . Theo nhà kinh tế học J. Stigliz, vai trò của Nhà nước là tạo dựng một kết cấu hạ tầng thể chế, bao gồm: hệ thống hợp đồng và pháp lý đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách đúng đắn; các quyền sở hữu; hạ tầng vật chất (kể cả dịch vụ tài chính và viễn thông); và hạ tầng trí tuệ (thông qua giáo dục, nghiên cứu triển khai và công nghệ).

Xuất phát từ thực tế và các quan điểm kinh tế phổ biến, thể chế kinh tế thị trường đối với doanh nghiệp Việt Nam được hiểu là bao gồm toàn bộ hệ thống các quy định pháp luật, cơ chế chính sách và bộ máy thực thi của Nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc: Nhà nước tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường vận hành có hiệu quả và bền vững; hình thành các khung khổ pháp lý khuyến khích đầu tư và cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ cách hiểu trên, chúng ta thấy trong thể chế thị trường, hệ thống các quy định pháp luật chính là khung pháp lý; nguyên tắc được nêu ra là Nhà nước hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường (trong đó có thị trường mua bán doanh nghiệp) và hình thành các khung pháp lý khuyến khích đầu tư (trong đó có sáp nhập, mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư).

Mục tiêu của bài viết này là nhằm góp phần vào việc xác định những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hình thành và hoàn thiện khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua việc làm rõ quan niệm về sát nhập, mua bán doanh nghiệp và đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam và như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam. Qua đây chúng tôi hy vọng có những đóng góp cụ thể cho dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

THS. NGUYỄN THỊ MINH HUỆ

Hiện nay, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng đã được thành lập theo Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ và đã đi vào hoạt động. Các nội dung về hoạt động giám sát cũng đang từng bước được hoàn thiện, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu. Dưới đây xin đề cập đến các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát và thanh tra của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với các ngân hàng thương mại (NHTM).

1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát

Việc cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ của một số Vụ, Cục của NHNN hiện nay thành Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN đã và đang đảm bảo Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ là cơ quan thực hiện đầy đủ một chu trình gồm 4 khâu: Cấp phép; Ban hành quy chế; Thực hiện giám sát (giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ); Xử phạt và thu hồi giấy phép.

Việc cơ cấu lại chức năng theo hướng trên nhằm hạn chế những bất cập trong việc tách bạch giữa các khâu này, tạo ra bức tranh toàn diện và sâu sắc hơn về từng NHTM, đảm bảo sự nhất quán và nâng cao hiệu lực của hoạt động giám sát.

2. Đổi mới phương pháp giám sát

Hiện nay, phương pháp giám sát tuân thủ với các nội dung giám sát theo các quyết định vẫn đang có hiệu lực đã tỏ ra kém hiệu quả và không theo kịp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng cũng như không phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, NHNN đã tiến hành xây dựng và đang thực hiện triển khai phương pháp giám sát theo CAMELS. Tuy nhiên, tiến độ triển khai vẫn chậm và các nội dung liên quan đến phương pháp giám sát này vẫn chưa được làm rõ về mặt pháp lý.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở: GẶP RỐI KHI MUA NHÀ CỦA NGƯỜI MẮC NỢ

THANH LƯU

Nhà đã mua nhưng lại bị phong tỏa để bảo đảm thi hành án cho người bán.Tiền bảo đảm bao nhiêu thì vừa?

TAND TP.HCM vừa hủy một bản án sơ thẩm của TAND quận 11 do việc chứng minh, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Trong vụ này, cấp sơ thẩm đã chấp nhận một văn bản có chữ ký giả mạo để làm căn cứ xét xử.

Bị giả chữ ký

Tháng 4-2008, bà M. đặt cọc hơn 5 tỉ đồng để mua hai căn nhà ở quận 11, TP.HCM của ông C. với giá 7 tỉ đồng. Sau khi hoàn tất các giấy tờ liên quan, hai căn nhà trên đã được đăng bộ với tên bà M.

Bảy tháng sau, bà M. bất ngờ nhận được giấy triệu tập của Tòa án quận 11 yêu cầu bà cung cấp hợp đồng mua bán hai căn nhà trên. Trước đó tòa xác định bà là người có liên quan trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông C. và hai chủ nợ.

Đến tòa, bà M. được tòa cho xem một biên bản thỏa thuận có chữ ký của bà với cam kết sẽ giúp ông C. làm thủ tục vay ngân hàng để ông này trả nợ cho hai nguyên đơn 2 tỉ đồng.

Cho rằng đây là giấy tờ giả mạo, bà yêu cầu tòa trưng cầu giám định chữ ký. Tuy nhiên, trong một lần hòa giải sau đó, cả hai chủ nợ của ông C. đều khai chữ ký trên không phải của bà M. nên tòa không trưng cầu giám định chữ ký nữa.

Tại phiên sơ thẩm, dù không thừa nhận nợ nần nhưng ông C. khai chữ ký trong biên bản thỏa thuận trên là của mình. Từ đó, tòa đã xem biên bản thỏa thuận này là hợp đồng vay nợ giữa ông C. với hai chủ nợ và buộc ông phải trả cho mỗi người 1 tỉ đồng.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

VĂN THANH

Với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều tổ chức tài chính nước ngoài đã tiếp cận thị trường tài chính-tiền tệ Việt Nam để tham gia vào thị trường này dưới nhiều hình thức khác nhau. Do việc áp dụng lộ trình nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài, mở chi nhánh và các điểm giao dịch, dỡ bỏ dần hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND và khả năng mở rộng dịch vụ ngân hàng nên hoạt động của các ngân hàng nước ngoài ngày càng sôi động.

Kể từ khi Việt Nam mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng đến nay, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng nước ngoài có mặt tại thị trường Việt Nam ngay từ đầu những năm 1990, sau khi hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân thành hai cấp, với hai loại hình: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 đã cho phép thêm một hình thức hiện diện thương mại mới, đó là ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Với sự xuất hiện thêm loại hình ngân hàng mới này đã làm tăng tính hấp dẫn và phong phú cho thị trường tài chính Việt Nam, nhưng cũng thêm một thách thức đối với các ngân hàng thương mại trong nước.

Tính đến nay, có 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg) được cấp Giấy phép hoạt động tại Việt Nam, trong đó có một số ngân hàng nước ngoài có 2 chi nhánh độc lập, 5 ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc. Ngoài ra, thực hiện các cam kết với WTO, Ngân hàng Nhà nước đã cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam đó là Ngân hàng HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong. Hầu hết, các ngân hàng nước ngoài đều mở chi nhánh tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Về phạm vi hoạt động của các NHNNg chủ yếu tập trung tại trụ sở của chi nhánh. Bên cạnh đó, còn có trên 50 văn phòng đại diện của các TCTD. Nhìn chung, các ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các tổ chức này là những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của các ngân hàng thương mại trong nước, nhưng cũng là kênh truyền dẫn vào Việt Nam những công nghệ ngân hàng hiện đại, những thông lệ quốc tế về quản trị tốt nhất và là nguồn tài chính không nhỏ bổ sung cho thị trường tài chính của Việt Nam.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2009/TT-TTCP NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005);
Căn cứ Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;
Căn cứ Nghị định số 65/2008/NĐ-CP ngày 20 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ;
Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo như sau:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định trình tự, thủ tục, nội dung nghiệp vụ giải quyết tố cáo bao gồm chuẩn bị, tiến hành và kết thúc giải quyết tố cáo.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền thuộc cơ quan hành chính nhà nước khi tiến hành giải quyết tố cáo.

2. Việc giải quyết tố cáo thông qua hoạt động của đoàn thanh tra thực hiện theo Quy chế hoạt động của đoàn thanh tra và các quy định khác có liên quan, đồng thời phải thực hiện các thủ tục quy định tại Điều 4 và Điều 21 của Thông tư này.

3. Việc giải quyết tố cáo hành vi phạm tội do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Điều 3. Nguyên tắc thực hiện

1. Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, kịp thời, thận trọng, đúng nội dung, đối tượng, tuân thủ các quy định của pháp luật.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 113/2009/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 VỀ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12;
Căn cứ Luật Đầu tư số 59/2005/QH11;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

a. Nghị định này quy định về nội dung giám sát, đánh giá và việc tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư và hoạt động đầu tư trực tiếp sử dụng tất cả các nguồn vốn;

b. Việc giám sát, đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ;

c. Các quy định về theo dõi, đánh giá các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) khác với quy định tại Nghị định này, thực hiện theo pháp luật về quản lý và sử dụng vốn ODA. Việc kiểm tra dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

d. Việc giám sát cộng đồng được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp và hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 2803/2009/QĐ-UBND NGÀY 21 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾVỀ GIÁ CÁC LOẠI ĐẤT NĂM 2010 THUỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính Phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Căn cứ Nghị quyết số 13e/2009/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về giá các loại đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010;
Theo đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số /TTr-TNMT-QLĐĐ ngày tháng 12 năm 2009,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định giá các loại đất năm 2010 thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 và được áp dụng để xác định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2010.

Continue reading

TỔ CHỨC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP THEO CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH SẴN VÀ THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

GS.TS. LÊ THẠC CÁN

Học chế theo tín chỉ giảng dạy trình bày các mục tiêu đào tạo có thể có trong một phạm vi chuyên môn nhất định về khoa học và công nghệ, chỉ dẫn các con đường đi khác nhau để đạt tới các mục tiêu này, bao gồm nội dung học tập, phương thức học tập, kế hoạch học tập. Sinh viên được tự chọn nội dung, phương pháp, kế hoạch học để đạt tới mục tiêu đã chọn. Trong quá trình học có thể tuỳ yêu cầu của xã hội, sở thích và khả năng của mình để thay đổi mục tiêu, và liên quan tới đó nội dung, phương pháp học tập. Nhà trường giữ vai trò hướng dẫn, sinh viên giữ quyền tự quyết.

1. Thí dụ về tổ chức giảng dạy – học tập theo chương trình định sẵn

Từ những năm 1990 về trước ở nước ta cũng như tất cả các nước xã hội chủ nghĩa khác tổ chức giảng dạy và học tập tại các trường đại học ở các bậc đại học, sau đại học đều được thực hiện theo các chương trình đào tạo định sẵn. Ở nhiều nước châu Âu vào thời kỳ đó chương trình đào tạo định sẵn cũng được sử dụng phổ biến như là công cụ để quản lý đào tạo. Ở Hoa Kỳ, Anh quốc và một số các nước khác việc tổ chức đào tạo ở đại học được thực hiện theo học chế tín chỉ. Gần đây hơn nhiều nước châu Âu đã hình thành hệ chuyển đổi tín chỉ học tập (ECTS – Europeen Credit Transfer System) để tổ chức quá trình đào tạo đại học trong từng nước và hợp tác đào tạo giữa các nước. Tuy nhiên một số đại học có chất lượng đào tạo cao trên thế giới vẫn sử dụng các chương trình đào tạo định sẵn làm công cụ chính để quản lý quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo bậc đại học, theo chuyên ngành Khoa học Máy tính và Tin học của Đại học Năng lượng Mascơva sau đây, công bố năm 2005, là một thí dụ cụ thể.

Moscow Power Engineering Institute (MPEI – TU)

Syllabus Bachelor of Engineering and Technology Computer Science and Informatics

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG MINH TÀI SẢN KHI CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC DI CHÚC

LS. NGUYỄN HỒNG LÂM – CÔNG CHỨNG VIÊN. PHAN VĂN CHEO

1.  Lập di chúc khi chưa có tài sản thật?

Theo quy định của pháp luật dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tài sản của người lập di chúc để lại được gọi là di sản. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt đối với di sản của mình (để lại cho ai, tỉ lệ thừa hưởng…).

Hiện nay, khi có yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc, người lập di chúc phải chứng minh tài sản của mình là hợp pháp và có thật (nếu là nhà, xe, cổ phần, cổ phiếu… thì phải có chứng từ sở hữu; nếu là tiền thì được thể hiện qua tài khoản ngân hàng). Nói cách khác, đó phải là tài sản cụ thể. Nếu không chứng minh đuợc tài sản ấy có thật thì cơ quan thẩm quyền sẽ từ chối công chứng, chứng thực di chúc. Đáng nói là có nhiều người lập di chúc có yêu cầu để lại những tài sản của mình có được tại thời điểm qua đời, tức bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai. Mà những tài sản này thì không thể chứng minh tính có thật. Từ đó làm phát sinh tình huống mỗi lần được sở hữu một tài sản mới thì chủ sở hữu phải lập di chúc mới, có liệt kê thêm tài sản mới thì mới đảm bảo quyền định đoạt của mình đối với di sản.

Được biết, nhiều công chứng viên đang hành nghề tại các phòng công chứng và văn phòng công chứng đều không đồng ý công chứng vào di chúc có đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai. Việc từ chối được căn cứ vào các quy định của Luật Công chứng. Cụ thể, người đi công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định.

Continue reading

KHIẾU KIỆN VỀ ĐẤT ĐAI: LUẬT LÀM KHÓ DÂN!

NGUYÊN TẤN

Nhiều quy định pháp luật mâu thuẫn và bất hợp lý đang gây trở ngại cho người dân khi họ muốn khiếu nại hoặc khởi kiện các quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai.

“Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện có còn nữa không?”, đó là vấn đề quan tâm “cốt tử” đầu tiên gần như không thể thiếu của các luật sư khi tư vấn cho khách hàng về các vụ khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực đất đai. “Cốt tử” vì nếu quá thời hạn luật định thì đương sự sẽ bị mất quyền khiếu nại hay khởi kiện cho dù nội dung khiếu kiện có bức xúc đến mấy và thậm chí thấy rõ là quyết định hành chính đó sai.

Hệ trọng với người dân như thế nhưng các quy định của pháp luật về vấn đề này lại mâu thuẫn một cách kỳ lạ. Điều 31, Luật Khiếu nại Tố cáo (1998) cho phép thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính. Trong khi đó, khoản 1, điều 64, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2008 của Chính phủ lại quy định đối với quyết định hành chính trong quản lý đất đai của ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thì thời hiệu khiếu nại là 30 ngày, kể từ ngày cơ quan này có quyết định đó.

Nghị định trên của Chính phủ chẳng những làm cho thời hiệu khiếu nại bị rút xuống còn một phần ba mà còn gây vô vàn khó khăn cho người khiếu nại khi quy định thời hiệu khiếu nại được tính kể từ ngày UBND tỉnh ban hành quyết định hành chính, thay vì kể từ ngày đương sự nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính theo như Luật Khiếu nại Tố cáo. Nếu chính quyền tìm cách “ém” quyết định hành chính đã ban hành, cho đến khi đương sự vỡ lẽ, thì thời hiệu khiếu nại đã hết, hay nói cách khác, quyền khiếu nại của họ đã bị vô hiệu. Nhiều luật sư cho biết đây là thủ thuật được không ít chính quyền địa phương áp dụng nhằm tránh bị người dân khiếu kiện.

Ngoài cơ chế khiếu nại, điều 39, Luật Khiếu nại Tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung tại điều 12, Luật Khiếu nại Tố cáo năm 2005) còn cho phép người dân được khởi kiện vụ án hành chính ra tòa trong hai trường hợp: a) hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà không được giải quyết; b) hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu). Tuy nhiên, ông Lê Văn Khiêm, chuyên viên pháp lý của Văn phòng Luật sư người nghèo, cho biết rất nhiều trường hợp đã bị tòa trả lại đơn khởi kiện do không có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại không đúng hình thức.

Continue reading