Về mối quan hệ giữa tự do và TRÁCH NHIỆM TRONG HÔN NHÂN

GS. LÊ THI

Bài viết đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta: quan niệm hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ. Từ đó, bài viết bàn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm trong hôn nhân như là sự hoá giải hai quan niệm đối lập trên. Cụ thể, cha mẹ phải tôn trọng sự  lựa chọn của con cái trong việc kết hôn, không đem lợi ích gia đình đè bẹp lợi ích riêng của con cái trong hôn nhân. Đồng thời, con cái cần xem trọng ý kiến của cha mẹ trong việc hôn nhân của mình. Nghĩa là, từng cá nhân – cha, mẹ, con cái – bên cạnh yếu tố tình cảm, cần có trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Trong xu hướng của hôn nhân hiện đại, chúng ta ngày càng thấy nhiều đôi bạn trẻ nam nữ yêu nhau, lấy nhau theo sở thích cá nhân, theo tình yêu mà không tính đến sự đồng thuận của cha mẹ hai bên nội, ngoại. Đây là một sự tiến bộ so với những cuộc kết hôn bị cha mẹ áp đặt trước đây. Đồng thời, điều này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình xây dựng hạnh phúc lâu dài của đôi vợ chồng trẻ.

Chúng ta đang chứng kiến nhiều vụ ly hôn mà chủ yếu ở lớp trẻ, tuổi từ 25 – 35, có khi chỉ lấy nhau độ 1 năm đ ã đưa nhau ra Toà xin ly hôn, với lý do chung chung là tính tình không hợp nhau. Lý do này chứa đựng bên trong nó rất nhiều nguyên cơ công khai và che dấu, đẩy cuộc hôn nhân đến chỗ khủng hoảng, tan rã và đưa nhau ra Toà.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân: quan niệm coi hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ dường như là hai quan niệm đối lập nhau hiện đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta để từ đó, đưa ra giải pháp cho vấn đề này.

1. Trước hết, chúng ta phân tích quan niệm hôn nhân là sự liên kết mới giữa hai gia đình nội và ngoại, gắn với sự đồng ý của hai họ.

Đối với cha mẹ, hôn nhân của con cái là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự kế tục dòng dõi của hai gia đình nội, ngoại. Từ đây, bức hoạ đồ gia phả dòng họ của mỗi bên đã nảy sinhmột nhánh mới, nhánh đó liên kết với một gia đình khác, dẫn tới sự ra đời của thế hệ thứ 3, so với thế hệ xuất phát là bố mẹ. Do đó, theo họ, hôn nhân của con cái, trước hết, cần được sự đồng ý của cha mẹ đôi bên nội, ngoại vì nó khởi đầu cho sự ra đời thế hệ kế tiếp của dòng họ; thế hệ này có tương lai hay không, có phát huy được truyền thống của gia đình gốc hay không v.v. cũng phụ thuộc một phần vào cuộc hôn nhân này.

Continue reading

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM TRONG HÔN NHÂN

GS. LÊ THI

Bài viết đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta: quan niệm hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ. Từ đó, bài viết bàn về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm trong hôn nhân như là sự hoá giải hai quan niệm đối lập trên. Cụ thể, cha mẹ phải tôn trọng sự  lựa chọn của con cái trong việc kết hôn, không đem lợi ích gia đình đè bẹp lợi ích riêng của con cái trong hôn nhân. Đồng thời, con cái cần xem trọng ý kiến của cha mẹ trong việc hôn nhân của mình. Nghĩa là, từng cá nhân – cha, mẹ, con cái – bên cạnh yếu tố tình cảm, cần có trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Trong xu hướng của hôn nhân hiện đại, chúng ta ngày càng thấy nhiều đôi bạn trẻ nam nữ yêu nhau, lấy nhau theo sở thích cá nhân, theo tình yêu mà không tính đến sự đồng thuận của cha mẹ hai bên nội, ngoại. Đây là một sự tiến bộ so với những cuộc kết hôn bị cha mẹ áp đặt trước đây. Đồng thời, điều này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình xây dựng hạnh phúc lâu dài của đôi vợ chồng trẻ.

Chúng ta đang chứng kiến nhiều vụ ly hôn mà chủ yếu ở lớp trẻ, tuổi từ 25 – 35, có khi chỉ lấy nhau độ 1 năm đ ã đưa nhau ra Toà xin ly hôn, với lý do chung chung là tính tình không hợp nhau. Lý do này chứa đựng bên trong nó rất nhiều nguyên cơ công khai và che dấu, đẩy cuộc hôn nhân đến chỗ khủng hoảng, tan rã và đưa nhau ra Toà.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới hai quan niệm về hôn nhân: quan niệm coi hôn nhân là sự liên kết giữa hai gia đình (nội, ngoại) và quan niệm coi hôn nhân là sự kiện có tính chất cá nhân của đôi nam nữ dường như là hai quan niệm đối lập nhau hiện đang tồn tại phổ biến trong xã hội ta để từ đó, đưa ra giải pháp cho vấn đề này.

1. Trước hết, chúng ta phân tích quan niệm hôn nhân là sự liên kết mới giữa hai gia đình nội và ngoại, gắn với sự đồng ý của hai họ.

Đối với cha mẹ, hôn nhân của con cái là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự kế tục dòng dõi của hai gia đình nội, ngoại. Từ đây, bức hoạ đồ gia phả dòng họ của mỗi bên đã nảy sinhmột nhánh mới, nhánh đó liên kết với một gia đình khác, dẫn tới sự ra đời của thế hệ thứ 3, so với thế hệ xuất phát là bố mẹ. Do đó, theo họ, hôn nhân của con cái, trước hết, cần được sự đồng ý của cha mẹ đôi bên nội, ngoại vì nó khởi đầu cho sự ra đời thế hệ kế tiếp của dòng họ; thế hệ này có tương lai hay không, có phát huy được truyền thống của gia đình gốc hay không v.v. cũng phụ thuộc một phần vào cuộc hôn nhân này.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4685/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ ÁP DỤNG LOẠI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Kính gửi:

Công ty TNHH Yamaha Motor Electronics Việt Nam
(Xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội)

Trả lời công văn số 01/2009/CV-YEVN ngày 04/12/2009 của Công ty TNHH Yamaha Motor Electronics Việt Nam về việc áp dụng loại hợp đồng lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 1, 2, 3, Điều 4 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ và điểm a, khoản  2, Mục I Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì:

– Hợp đồng lao động không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng;

– Hợp đồng lao động xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng;

– Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.

Người sử dụng lao động và người lao động căn cứ vào thời hạn của công việc để áp dụng một trong các loại hợp đồng lao động nêu trên…

Continue reading

TRÁNH RẮC RỐI KHI MUA NHÀ, ĐẤT . . .

MINH TÂM

Mua nhà đất xong, bỗng “đùng một cái” bị buộc phải trả lại, đó là tình trạng khá nhiều người gặp phải hiện nay.

Mua nhà tám năm, vẫn bị buộc trả lại

Bà T.T.T. qua đời để lại hai căn nhà cho mười người con. Tất cả thống nhất giao một căn cho một người con ở để thờ cúng cha mẹ. Chín người con khác ở chung trong căn nhà còn lại. Năm 2000 vì kế sinh nhai, mọi người đi làm ăn tứ tán, chỉ còn ông T. và một người em ở lại nhà.

Năm 2001, ông T. bán căn nhà cho vợ chồng bà X. với giá trên 10 cây vàng, mua bán bằng giấy tay, chỉ có ông T. và ba người em ký vào đó. Năm 2003, bà X. được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Tuy nhiên, sau đó người em út đại diện cho các anh chị mình khởi kiện ông T., yêu cầu tòa án công nhận căn nhà và đất nói trên là di sản thừa kế và hủy hợp đồng mua bán nhà.

Tám năm sau khi mua nhà, vợ chồng bà X. vẫn bị tòa án tuyên xử hủy hợp đồng mua bán, buộc phải giao lại căn nhà cho những người thừa kế. Ngày 15 và 16-10-2009, tại TAND quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, hội đồng xét xử nhận định hợp đồng mua bán nhà giữa ông T. và bà X. chỉ xác lập bằng giấy viết tay là chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật về mua bán nhà.

Mặt khác, căn nhà là di sản thừa kế của mười người, việc bốn người tự ý định đoạt căn nhà trên là vi phạm quyền sở hữu tài sản trong khối tàn sản chung. Như vậy, hợp đồng mua bán nhà nói trên vô hiệu cả về hình thức lẫn nội dung.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG – Trung tâm Luật so sánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, chúng ta đã xây dựng được nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mối quan hệ kinh tế này là việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay còn gọi là xuất khẩu lao động (XKLĐ). Hoạt động XKLĐ của Việt Nam đang ngày càng mở rộng đến nhiều quốc gia và các vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đáp ứng một phần nhu cầu về nguồn lao động của các nước, với đủ các loại hình lao động khác nhau. Đồng thời, hoạt động này đã tạo cho người lao động Việt Nam nhiều cơ hội làm việc, tìm kiếm được nguồn thu nhập tốt. Tuy nhiên, xung quanh hoạt động XKLĐ đang tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Theo thống kê, đến tháng 6 năm 2009 Việt Nam đã có hơn 96.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Macau và một số quốc gia Trung Đông… (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ.

Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, để đạt mục tiêu tăng số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đến năm 2010 là hơn 100.000 lao động, Cục sẽ thực hiện một số giải pháp trọng tâm như đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người lao động sang thị trường trọng điểm Malaysia; mở rộng các thị trường mới, thị trường có thu nhập cao, khuyến khích XKLĐ có nghề, lao động kỹ thuật…

So với nguồn lao động dồi dào của Việt Nam hiện nay, thì việc hoàn thành chỉ tiêu trên không phải là khó. Nếu như trong thời gian qua, các hoạt động liên quan tới việc XKLĐ được thực hiện nghiêm túc, có sự quản lý tốt, thì chắc chắn con số đi lao động ở nước ngoài còn lớn hơn nhiều, so với kết quả đã đạt được.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 146/BXD-QLN NGÀY 7 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Kính gửi:

Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi

Trả lời Công văn số 979/SXD-QLN&HTKT ngày 26/10/2009 của Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu công trình xây dựng, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Đối với nhà ở, công trình xây dựng trong khu vực đã có quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt, theo quy định của pháp luật trước khi xây dựng phải có giấy phép xây dựng, nhưng chủ đầu tư đã không xin giấy phép xây dựng thì được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng nếu phù hợp với quy hoạch xây dựng; tuy nhiên trước khi xem xét cấp giấy chứng nhận phải thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và chủ đầu tư phải xin cấp giấy phép xây dựng theo quy định. Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng không phù hợp với quy hoạch xây dựng thì không thực hiện việc xem xét cấp giấy chứng nhận.

2. Theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản thì doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở khi bán nhà ở cho Bên mua thì phải thông qua sàn giao dịch bất động sản; trường hợp trên địa bàn tỉnh chưa có sàn giao dịch bất động sản thì thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho Bên mua mà không yêu cầu phải có giấy tờ xác nhận đã qua sàn giao dịch bất động sản.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi nghiên cứu và thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về nhà ở và công trình xây dựng./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN ĐỨC LUẬN – Đại học Lâm Nghiệp

Trong bài viết này, tác giả đã luận giải một số vấn đề cơ bản liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Đó là, thứ nhất, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là kết quả do sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện tư duy mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thứ hai, khẳng định có những thành phần kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình, song cũng có thành phần kinh tế còn nhiều yếu kém, bất cập. Theo tác giả, bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ kinh tế nhà nước, chúng ta cần tập trung phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước.

Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cơ bản là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và luôn đạt mức tăng trưởng cao. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới nói chung và chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ những tiêu cực do nền kinh tế nhiều thành phần gây ra, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử. Trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền thì không thể thủ tiêu chế độ t ư hữu ngay lập tức đư­ợc mà phải cải tạo nó dần dần. Đến Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, sau khi giành được thắng lợi chính trị, giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản.

Continue reading