“GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT”: TOÀ ÁN TỐI CAO VỚI TƯ CÁCH LÀ CƠ QUAN THẨM ĐỊNH TÍNH HỢP HIẾN

A.E. DICK HOWARD

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành nguyên tắc của chế độ bảo hiến – quyền quyết định tính hợp hiến trong các đạo luật – ngay trong một trong những phán quyết đầu tiên của Tòa. Một chuyên gia pháp lý nổi tiếng đề cập tới việc thực hiện chế độ bảo hiến của Tòa trong suốt 220 năm lịch sử của Tòa, trong đó có nhiều ví dụ từ thế kỷ XIX tới nay. Dù Tòa có nhiều phán quyết trong các vụ án cụ thể, song tác giả kết luận rằng “Vai trò đảm bảo chế độ pháp trị của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ”.

A.E. Dick Howard là Giáo sư Luật và Hành chính tại White Burkett Miller kiêm Giáo sư Luật tại Trung tâm Nghiên cứu Roy L. và Rosamond Woodruff Morgan, Đại học Virginia tại Charlottesville. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực luật hiến pháp và Tòa án Tối cao. Từ năm 1985 đến 1992, ông là chủ tịch Hội đồng 200 năm Hiến pháp Hoa Kỳ tại Đại học Virginia.

Những người soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tuyên bố rõ ràng rằng văn bản này sẽ được coi là luật của các loại luật. Điều VI quy định Hiến pháp và các đạo luật “được ban hành theo Hiến pháp này” (cũng như các điều ước) sẽ là “Luật tối cao của quốc gia”. Các nhà soạn thảo Hiến pháp cũng trao quyền, tại Điều III, cho một Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập. Liệu hai điều khoản này, cùng được viện dẫn, có tạo điều kiện cho Tòa án Tối cao quyền hạn bác bỏ các văn bản luật, trong đó có các đạo luật của Quốc hội, được coi là mâu thuẫn với Hiến pháp hay không?

Nếu như các nhà soạn thảo Hiến pháp đã có chủ trương rõ ràng tại Hội nghị lập hiến năm 1787 tại Thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania rằng chính quyền liên bang mới cần phải có một ngành tư pháp thì họ lại dành rất ít thời gian để cân nhắc “quyền tư pháp” sẽ có phạm vi đến chừng mực nào. Họ dành thời gian nhiều hơn để tranh luận về quyền hạn mà chính quyền liên bang mới có thể có, cơ cấu của Quốc hội liên bang, việc cân bằng quyền lực giữa tiểu bang và liên bang và bản chất của cơ quan hành pháp liên bang mới. Khi Hiến pháp dự thảo được chuyển tới một số tiểu bang để thông qua thì các cuộc tranh luận về phê chuẩn lại tập trung chủ yếu vào các mối quan tâm về quyền lực của liên bang nói chung – và về việc thiếu một tuyên ngôn nhân quyền.

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

THOMAS G. FIELD JR.*

ĐIỂM MẤU CHỐT

“Rum và Coca-Cola”, một bài hát Calypsocó lẽ là nổi tiếng nhất mọi thời đại về một đề tài nóng bỏng, vào những năm 1940 là bài hát ăn khách nhất của ban nhạc Andrews Sisters. Bài hát này cũng là nguyên nhân của một vụ án nổi tiếng của Mỹ nhằm giành lại quyền tác giả cho nhạc sỹ Lionel Belasco người Trinidad vốn đã viết bài hát này từ vài thập kỷ trước đó với nhan đề “L’Année Passée”. Luật sư đại diện cho người xuất bản bản nhạc gốc của Belasco đã chứng minh được với tòa rằng bài hát “Rum và Coca-Cola” là tác phẩm của nhạc sỹ Belasco chứ không phải của người khác.

Belasco đã được công nhận là tác giả của bài hát và nhận được tiền bồi thường cho việc người ta sử dụng tác phẩm của mình mà không xin phép vì Hoa Kỳ có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ của các nhân tài như Belasco và thi hành những luật này để ngăn chặn việc vi phạm sở hữu trí tuệ. Nhưng giả sử người xuất bản đi kiện tại một quốc gia không có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ hoặc có nhưng yếu kém thì có lẽ quá trình đi kiện và việc đòi bồi thường của Belasco đã không có một kết cục tốt đẹp như vậy.

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

Tại sao những quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan lại bảo vệ các phát minh; các tác phẩm nghệ thuật và văn học; các biểu tượng, hình ảnh, tên, thiết kế dùng trong thương mại: thông tin và lời nói được dùng lần đầu của những cá nhân sáng tạo ra chúng được gọi là sở hữu trí tuệ (IP)? Các quốc gia này làm như vậy bởi lẽ họ biết rằng bảo vệ những quyền sở hữu này thì mới thúc đẩy được phát triển kinh tế, khuyến khích phát minh kỹ thuật và thu hút được đầu tư để tạo ra công ăn việc làm mới và những cơ hội cho công dân của họ. Báo cáo về Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 2002 đã khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ đối với các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay và phát hiện ra rằng “với các mức thu nhập khác nhau thì quyền sở hữu trí tuệ (IPR) thường gắn liền với thương mại và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn và nhờ vậy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn”.

Continue reading