QUAN HỆ GIỮA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH: SỰ TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ TỰ DO HÓA

TS. NGUYỄN MINH PHONG

I. Quan hệ giữa khủng hoảng kinh tế chu kỳ và khủng hoảng tài chính

1. Nhìn suốt quá trình lịch sử triển kinh tế dễ nhận thấy xu hướng rút ngắn lại khoảng cách giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ TBCN thế giới. Từ trung bình 10 năm ở thế kỷ XIX, 8 năm cho nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1901; 1907 – 1908; 1920 – 1921; 1929 – 1933; 1937 – 1937), khoảng cách từ 6 – 5 năm cho thời kỳ chiến tranh lạnh (1948 – 1949; 1953 – 1954; 1957 – 1958; 1960 – 1961; 1967 – 1968; 1974 – 1975; 1979 – 1982), và chỉ còn 3 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay (1991 – 1993; 1997 – 1999 và 2008 – 2009). Ngoài ra, trong sự vận động của chu kỳ, ranh giới và khoảng cách giữa các giai đoạn cũng mờ dần, khó xác định hơn không chỉ giữa giai đoạn tiêu điều và giai đoạn phục hồi trong một chu kỳ, mà còn ngay cả giữa giai đoạn hưng thịnh của chu kỳ sau so với giai đoạn trì trệ của chu kỳ trước. Đây là một đặc trưng nổi bật của chu kỳ TBCN hiện đại khá phổ biến ở các quốc gia và được lý giải bởi những nguyên do sau:

– Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KH – KT đã rút ngắn thời gian ra đời các phát minh cải tiến công nghệ mới và cả thời gian ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất – kinh doanh. Nếu trước thế chiến hai, thời gian đưa một phát minh hay ý tưởng khoa học – công nghệ vào sản xuất đòi hỏi 30 – 40 năm, những năm sau thế chiến thứ hai là 20 – 15 năm, thập kỷ 70 – 80 là 7 – 10 năm, thì ở thập kỷ 90 chỉ còn một vài năm, thậm chí một vài tháng.

– Nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá cho phép kinh doanh ngày càng đa dạng hơn về các sản phẩm (gắn liền với dịch vụ và tiêu dùng tri thức, tinh thần…), chúng có nhu cầu lớn, phạm vi rộng và biến đổi nhanh hơn những nhu cầu hàng hoá tiêu dùng vật chất cổ điển vừa kém đa dạng, vừa bị giới hạn cả bởi đặc điểm của nhu cầu tiêu dùng vật chất cá nhân và bởi thị trường chưa được toàn cầu hoá trước đây.

Continue reading

VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

TS. PHẠM ĐÌNH THÀNH

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta được quy định tại Luật BHXH và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009. Để giúp bạn đọc thấy rõ hơn về hiện trạng thị trường lao động Việt Nam cũng như các chính sách tác động đến thị trường lao động đã và sẽ thực hiện, chúng tôi giới thiệu những lý luận cơ bản về chính sách việc làm, chính sách thị trường lao động ở các nước công nghiệp đã phát triển để từ đó so sánh và đưa ra những giải pháp thích hợp cho việc tổ chức thực hiện và hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.

Vị trí của thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường người ta phân chia ra nhiều thị trường khác nhau theo phạm vi, nội dung và tính chất hoạt động riêng biệt của từng loại “hàng hoá”. Nhưng tựu chung lại, có thể thấy được 3 loại thị trường khái quát, mang tính đại diện, đó là thị trường hàng hóa, thị trường tư bản (thị trường tiền tệ) và thị trường lao động. Một nền kinh tế thị trường đầy đủ sẽ thể hiện sự phát triển đồng bộ của cả 3 thị trường này và đặc biệt sẽ thấy rõ được mối quan hệ tác động tương hỗ chặt chẽ giữa các thị trường theo mô hình sau (Bảng biểu trang 19).

Khởi điểm của mọi quá trình xem xét được bắt đầu từ thị trường hàng hoá. Mỗi quá trình sản xuất sẽ ứng với một nhu cầu nhất định về sức lao động, hay nói cách khác nhu cầu về sức lao động phụ thuộc vào việc sản xuất hàng hoá – gọi là “cầu về lao động”. Thị trường hàng hoá thay đổi theo nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, nhưng nó lại phụ thuộc lớn vào vấn đề đầu tư và sự hoạt động tích cực của thị trường tiền tệ cũng như thị trường vốn. Sự thay đổi của tỷ lệ lãi suất có tác động mạnh mẽ đến thị trường hàng hoá: lãi suất cao thì không khuyến khích được sản xuất, thậm chí còn kìm hãm phát triển sản xuất và đi cùng với nó là sự giảm về nhu cầu lao động, có thể giảm cả chỗ làm việc.

Continue reading

QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG THÔI VIỆC HOẶC MẤT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ ANH THƠ

Pháp luật Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ tốt nhất có thể các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc biệt khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, lao động, bảo hiểm… ngày càng phát triển. Chính vì vậy, nhu cầu phải được pháp luật điều chỉnh nói chung và đặc biệt là đối với lĩnh vực BHXH cho người lao động nói riêng thông qua các quy định của pháp luật với những chế tài hữu hiệu ngày càng trở nên cấp thiết.

Có thể thấy rằng, để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHXH hầu hết các nước trên thế giới đều đã ban hành các đạo luật về BHXH hoặc bảo đảm xã hội. Về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đến nay đã có gần 70 quốc gia thực hiện, mà sớm nhất là Vương quốc Anh, bắt đầu thực hiện từ năm 1911, Hợp chủng quốc Hoa kỳ thực hiện vào năm 1935, Cộng hoà Pháp thực hiện năm 1958, Trung quốc bắt đầu thực hiện năm 1986… ở Việt Nam ngày 29/6/2006, Luật BHXH đã được Quốc hội thông qua trong đó quy định thời điểm có hiệu lực thực hiện BHTN từ 01/01/2009.

Xét dưới góc độ tự nhiên, con người suy cho cùng để sống bình thường, ai cũng phải ăn, mặc, ở, đi lại… và đặc biệt là phải lao động. Nhưng cũng vẫn là cuộc sống bình thường, ngày nay cũng là chuyện rất mới. Giữa cái cũ và mới ấy, có thể nhận ra sự khác nhau về cách làm, đó là làm dựa trên kinh nghiệm hay khoa học – công nghệ, thụ động trước những rủi ro hay ta tìm cách chế ngự chúng… Và sự phát triển đó là một quá trình, ví như ngày nay, sức lao động cá nhân hiện đại không còn là tự cung, tự cấp như xưa nữa mà đã là hàng hoá, mà đã là hàng hoá thì lại phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu của thị trường lao động, khi cung lớn hơn cầu là vấn đề thiếu việc làm, vấn đề thất nghiệp được đặt ra. Tìm cách hạn chế bớt những rủi ro có thể xảy ra với con người, BHTN đã ra đời, và tuỳ vào điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia mà BHTN được thực hiện sớm hoặc muộn.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ GIÁ BÁN NHÀ Ở LÀ NHÀ BIỆT THỰ THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CHO NGƯỜI ĐANG Ở THUÊ THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/CP NGÀY 5/7/1994 CỦA CHÍNH PHỦ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 116/2009/QĐ-UBND ngày 01 tháng 12 năm 2009 của UBND Thành phố Hà Nội)

Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh

Người đang ở thuê nhà ở là nhà biệt thự thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn Thành phố Hà Nội theo đúng quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ và các quy định có liên quan.

Điều 2. Giá bán nhà biệt thự

1. Giá nhà

Thực hiện theo Quyết định số 28/QĐ-UB ngày 6/1/1995 của UBND Thành phố về giá chuẩn nhà ở xây dựng mới.

2. Giá đất

a) Hạn mức đất ở khi bán nhà biệt thự theo Nghị định số 61/CP trên địa bàn Thành phố Hà Nội thực hiện theo Quyết định số 61/1998/QĐ-UB ngày 4/11/1998 của UBND Thành phố Hà Nội quy định mức đất ở khi mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, cụ thể như sau:

– Từ đường vành đai 2 trở vào trung tâm Thành phố, thuộc 4 quận nội thành cũ: không quá 120 m2/hộ.

– Từ đường vành đai 2 trở ra: không quá 180 m2/hộ.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 23/2009/TT-NHNN NGÀY 2 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VIỆC THIẾT KẾ MẪU, CHẾ BẢN VÀ QUẢN LÝ IN, ĐÚC TIỀN VIỆT NAM

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 81/1998/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 1998 của Chính phủ về in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại; bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống ngân hàng;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc thiết kế mẫu, chế bản và quản lý in, đúc tiền Việt Nam như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc thiết kế mẫu tiền; chế bản in, tạo khuôn đúc tiền; quản lý in, đúc tiền Việt Nam và bảo vệ bí mật Nhà nước trong in, đúc tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước).

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức, quản lý in, đúc tiền Việt Nam

1. Việc in, đúc tiền được thực hiện theo hợp đồng giữa Ngân hàng Nhà nước (Cục Phát hành và Kho quỹ) và nhà máy in, đúc tiền trên cơ sở kế hoạch in, đúc tiền và tiêu chuẩn kỹ thuật đồng tiền được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.

Continue reading

QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG CHƯA ĐƯỢC BẢO ĐẢM

NGUYỄN THÁI QUÍ

Quy định về quyền của người làm chứng là một trong những điểm mới và tiến bộ của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS). Song, đã gần 5 năm triển khai thực hiện, quy định mới này vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống.

Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án mà Tòa án giải quyết. Do đó, lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây, khi tham gia tố tụng người làm chứng chỉ có nghĩa vụ khai báo trung thực mà không có bất kỳ quyền lợi gì. Khắc phục những hạn chế đó, tại Điều 66 BLTTDS không chỉ quy định cụ thể nghĩa vụ mà đã bổ sung thêm các quyền của người làm chứng, đó là: quyền được hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật; quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Đây là điểm tiến bộ của BLTTDS, tuy nhiên do mang tính nửa vời nên các quy định này khó thực thi.

Thứ nhất, về chi phí cho người làm chứng. Khác với tố tụng hình sự, trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, do đó Điều 143 BLTTDS quy định: “Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm chứng do đương sự chịu”. Cụ thể là: “Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng, nếu lời làm chứng phù hợp sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trong trường hợp lời làm chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng thì chi này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị chịu”.

Continue reading

XÃ HỘI CÔNG DÂN TRUNG QUỐC: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MÔI TRƯỜNG CHÍNH SÁCH

TS. PHÙNG THỊ HUỆ & THS. PHẠM NGỌC THẠCH – Viện Nghiên cứu Trung Quốc

Xã hội công dân đang dần có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Trung Quốc và nó cũng là một chủ đề thu hút sự thảo luận rộng rãi trong giới học thuật của nước này. Bài viết giới thiệu về xã hội công dân của Trung Quốc từ khía cạnh cơ sở hình thành cùng môi trường chính sách của Nhà nước Trung Quốc hiện nay, đồng thời tìm hiểu về tác động của nó đối với đời sống xã hội Trung Quốc hiện tại cũng như triển vọng của nó trong tương lai.

Trong vài thập niên trở lại đây, thế giới đã chứng kiến sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức có phạm vi hoạt động ngoài nhà nước và thị trường – “xã hội công dân”. Được mệnh danh là “cuộc cách mạng hiệp hội toàn cầu” (Global Associational Revolution), sự phát triển của các tổ chức này diễn ra trong bối cảnh “cuộc khủng hoảng của nhà nước” đang lan tràn trên thế giới. Tại các nước có nền kinh tế phát triển, nhà nước đang đau đầu với bài toán về phúc lợi xã hội. Còn ở các nước đang phát triển, bất bình đẳng nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội đang làm gia tăng sự không hài lòng của người dân đối với nhà nước. Ngoài ra, nhiều vấn đề vượt ra khỏi biên giới quốc gia, như căn bệnh HIV, nghèo đói, thiên tai và suy thoái môi trường… đang đe dọa sức khỏe và an toàn sinh mạng của con người trên phạm vi toàn cầu cũng là một thách thức lớn đối với khả năng của chính quyền các nước(1). Trong bối cảnh đó, “xã hội công dân” – một bộ phận nằm ngoài nhà nước và thị trường, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kết nối người dân. Với cách thức tổ chức nhỏ gọn, linh hoạt cũng như có khả năng huy động sáng kiến và nguồn lực của người dân nhằm phục vụ xã hội, “xã hội công dân” có tầm quan trọng chiến lược trong quá trình tìm kiếm “con đường trung dung”, hay cách thức tránh sự quá phụ thuộc vào Nhà nước và thị trường để giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội nghiêm trọng đang tồn tại hiện nay(2).

Trong “cuộc cách mạng hiệp hội toàn cầu” nói trên, Trung Quốc không là ngoại lệ. Từ khi nước này tiến hành cải cách mở cửa năm 1978 đến nay, xã hội công dân Trung Quốc dần hình thành và có sự phát triển đáng chú ý. Các tổ chức công dân tham gia vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và đang dần nắm vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước có dân số lớn nhất thế giới này.

Continue reading

ĐỂ GIẢM TẢI CHO CÁC TÒA ÁN . . .

LS. CAO THỊ HÀ GIANG – LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC

Hiện nay, tòa án tại các thành phố lớn đang đối mặt với tình trạng án tồn đọng khá nhiều. Theo quy định, ngay cả những vụ kiện có tính chất phức tạp thì thời gian để tòa án đưa ra xét xử cũng không quá bốn hoặc sáu tháng nhưng thường ít có vụ nào được xét xử đúng thời hạn.

Đối với hầu hết các vụ kiện dân sự thì bên khởi kiện chỉ quan tâm đến việc họ sẽ đạt được lợi ích vật chất hay tinh thần gì nếu thắng kiện. Chính vì vậy, trong rất nhiều vụ việc, bên khởi kiện thường không xem xét đến những thiệt hại mà họ phải gánh chịu nếu thua kiện (trừ phí luật sư mà họ thuê để bảo vệ quyền lợi).

Tuy nhiên, tại một số nước theo hệ thống thông luật thì bên thua kiện phải thanh toán tất cả các chi phí phát sinh từ vụ kiện, kể cả tiền thù lao hợp lý cho luật sư của bên thắng kiện.

Mặc dù có nhiều quan điểm về vấn đề này nhưng có một điều không thể phủ nhận là chính quy định buộc bên thua kiện phải thanh toán tiền thù lao cho luật sư của bên thắng kiện sẽ giúp hạn chế các vụ kiện dân sự và thương mại.

Bên khởi kiện sẽ phải cân nhắc kỹ thiệt hơn trước khi quyết định khởi kiện vì nếu không thắng kiện thì họ không những phải chịu nghĩa vụ tài chính của mình mà còn phải gánh luôn các chi phí liên quan đến vụ kiện của bên thắng kiện.

Thực tế xét xử tại Việt Nam cho thấy, có rất nhiều vụ kiện có giá trị tranh chấp rất thấp hoặc những vụ kiện “tầm phào” thường tiền tạm ứng án phí của bên khởi kiện hoặc án phí mà bên thua kiện phải nộp rất thấp.

Continue reading

QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

TS. LÊ THANH TÂM & PHẠM BÍCH LIÊN

“Hãy nói cho tôi biết bạn quản lý rủi ro ra sao, tôi sẽ nói ngân hàng bạn thế nào?” (1)

Rủi ro hoạt động, còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất. Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và trên thế giới đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro hoạt động, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và tài sản của NHTM.

Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập; công nghệ ứng dụng trong ngân hàng ngày càng hiện đại và đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay, ngành ngân hàng cần phải cải cách mạnh mẽ để tăng cường quản trị rủi ro hoạt động. Ủy ban Basel đã đưa vấn đề rủi ro hoạt động vào nội dung sửa đổi Basel II. Hiện nay, nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các biện pháp hiện đại để quản trị rủi ro hoạt động. Các biện pháp này có thể áp dụng cho các NHTM Việt Nam. Đó là ý tưởng chủ đạo của bài viết này.

RỦI RO HOẠT ĐỘNG: CÁC THÀNH PHẦN VÀ KHUNG QUẢN TRỊ

Rủi ro hoạt động (RRHĐ) luôn hiện hữu hầu như trong tất cả các giao dịch và hoạt động của NHTM. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.(2) Rất nhiều vụ RRHĐ nổi tiếng xảy ra gần đây trên thế giới và ở Việt Nam như vụ rủi ro tại Ngân hàng Societe Generale của Pháp năm 2008 làm thiệt hại 4,9 tỷ EUR. Hoặc vụ việc nhân viên điểm giao dịch của một NHTM nhà nước giả mạo chữ ký khách hàng “thụt két” tới 24 tỷ đồng. Tổ trưởng tổ kế toán một điểm giao dịch một NHTM cổ phần biển thủ 7 tỷ đồng cá độ bóng đá. Cán bộ kho quỹ một NHTM cổ phần rút ruột 1,28 tỷ đồng và 8 nghìn USD trái phiếu là tài sản cầm cố của khách hàng để chơi chứng khoán. Thanh toán viên chọn nhầm loại tiền từ VND thành AUD. Khách hàng chuyển 4 triệu VND bị hạch toán thành 4 triệu AUD (tương đương 48,5 tỷ VND). (3)

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 37/2009/TT-BXD NGÀY 1 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ QUẢN LÝ GIÁ DỊCH VỤ NHÀ CHUNG CƯ

Căn cứ Luật Nhà ở số 56/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội khoá 11;
Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp xác định và quản lý giá dịch vụ nhà chung cư, như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh : Thông tư này hướng dẫn phương pháp xác định và quản lý giá dịch vụ đối với nhà chung cư và nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có phần diện tích là nhà ở (sau đây gọi chung là nhà chung cư); không bao gồm nhà chung cư xây dựng theo Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thuê; Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê; Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Đối tượng áp dụng : Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xác định, quản lý giá dịch vụ nhà chung cư.

Điều 2. Nguyên tắc xác định giá dịch vụ nhà chung cư

1. Giá dịch vụ nhà chung cư được xác định theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí, một phần lợi nhuận định mức hợp lý để quản lý, vận hành nhà chung cư hoạt động bình thường; nhưng phải phù hợp với thực tế kinh tế xã hội của từng địa phương và thu nhập của người dân từng thời kỳ và được trên 50% các thành viên trong Ban quản trị nhà chung cư thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Đối với nhà chung cư chưa thành lập được Ban quản trị thì giá dịch vụ nhà chung cư phải được trên 50% hộ dân cư đang sống tại nhà chung cư nhất trí thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Trường hợp giá dịch vụ nhà chung cư đã có thoả thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ thì thực hiện như thoả thuận đó.

Continue reading