BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI

GS.TS. VÕ KHÁNH VINH – Phó chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề có tầm quan trọngđặc biệt trong sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát các quan niệm khác nhau trong lịch sử về xung đột xã hội, từ thời cổ đại, cận đại đến nửa đầu thế kỷ XX. Theo tác giả, những ưu điểm và nhược điểm tạo thành thực chất của hiện tượng hết sức phức tạp như xung đột xã hội, ở mức độ đáng kể, được xác định bởi đặc điểm phương pháp luận của các phương hướng nghiên cứu; chúng ta có thể lựa chọn trong đó những tư tưởng có tính phổ quát và tính thời sự đối với các quan điểm hiện đại về xung đột xã hội.

Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, có phạm vi và quy mô rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung, lĩnh vực cụ thể khác nhau. Kinh nghiệm nghiên cứunhững vấn đề này chưa có nhiều, hơn nữa, lại được đặt trong quá trình đổi mới đang được tiến hành ngày càng sâu rộng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nước ta. Do vậy, xét trên tất cả các phương diện, đây là những vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là những vấn đề “trường tồn” gắn liền với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, đồng thời ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội, ngoài những quy luật, đặc điểm chung còn có các đặc điểm đặc thù do thực tiễn phát triển xã hội ở giai đoạn đó đặt ra. Có thể nói, nghiên cứu xung đột xã hội và đồng thuận xã hội là nội dung quan trọngcủa nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, là những vấn đề cơ bản cần được tiến hành thường xuyên, có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọngtrong việc bảo đảm cho đất nước phát triển ổn định và bền vững.

Trong những vấn đề nghiên cứu về xung đột xã hội, có những vấn đề thuộc về phương diện lịch sử của nó. Bài viết này bước đầu tìm hiểu phương diện đó.

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp, đầy đủ và chi tiết.

Với khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể đề cập được một cách cụ thể và toàn diện về các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ trình bày những vấn đề quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các doanh nghiệp cần lưu tâm trong quá trình soạn thảo.

1.   Xác định chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Khi giao kết, tham gia bất kỳ một hợp đồng nào, điều đầu tiên mà các bên phải kiểm tra đó chính là đối tác giao kết, tham gia và thực hiện hợp đồng.

1.1.    Bên bán và bên mua

Trong thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi xẩy ra hiện tượng:

a)    Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng với tư cách là bên bán/bên mua) nhưng bên ký hợp đồng lại là công ty con.

b)    Bên bán/bên mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký kết hợp đồng chỉ là đơn vị trực thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng kinh doanh,…

c)    Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết của công ty ký kết hợp đồng.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC. NGUYÊN LÝ “CÔNG TÍNH” TRONG BỐI CẢNH CHỦ NGHĨA TỰ DO MỚI

TS. CHOE HYONDOK  – Trường Đại học Phụ nữ Ehwa, Seoul, Hàn Quốc

Người dịch: ThS.LƯƠNG MỸ VÂN
Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG

Trong bài viết này, tác giả đưa ra và luận giải quá trình hình thành và phát triển xã hội dân sự và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc trên cơ sở của nguyên lý “công tính” trong bối cảnh chủ nghĩa tự do mới. Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, tác giả cho rằng, để điều chỉnh những lợi ích cá biệt, cần phải xây dựng và phát triển xã hội dân sự theo hướng phục tùng lợi ích chung của toàn xã hội trên cơ sở của nguyên tắc “công tính”.

Đầu tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban tổ chức đã mời tôi tham dự Hội thảo này và dành cho tôi cơ hội được học hỏi qua những tranh luận với các học giả Việt Nam về những vấn đề nóng bỏng mà xã hội Việt Nam đang đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Ngày nay, nhất là khi tiến trình toàn cầu hoá đang song hành với sự bành trướng toàn cầu của kinh tế thị trường, không một đất nước nào thoát khỏi ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của những vấn đề nghiêm trọng do kinh tế thị trường đem lại. Tôi vô cùng quan tâm đến việc trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng với các học giả Việt Nam, cũng như các học giả nước ngoài khác đến từ những bối cảnh kinh tế thị trường khác nhau.

Hàn Quốc thường được dẫn ra như một hình mẫu thành công, một quốc gia đã gặt hái được những thành tựu trong phát triển kinh tế và cả trong tiến trình dân chủ hoá về mặt chính trị. Ở một góc độ nào đó, điều đó là sự thật, nhưng từ những khía cạnh khác, chúng tôi hiện đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, không chỉ là vấn đề kinh tế có liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn thế giới hiện thời, mà cả những vấn đề kinh tế – xã hội và văn hoá đáng lo ngại gắn với những biện pháp của chủ nghĩa tự do mới (ví dụ như cái gọi là “sự linh động hoá” của thị trường lao động và người lao động thời vụ), cũng như những vấn đề chính trị, bao gồm cả những xung đột về lợi ích trong lĩnh vực xã hội dân sự. Tôi xin trình bày ở đây kinh nghiệm của Hàn Quốc. Báo cáo của tôi là báo cáo mang tính mở. Tôi không giấu diếm những vấn đề tiêu cực, bởi tôi tin rằng, chúng ta có thể học hỏi được, kể cả từ những khiếm khuyết và sai lầm.

Continue reading

THẨM QUYỀN HỦY BỎ CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THANH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading

AI PHẢI CHỊU CHI PHÍ ĐÀO TẠO?

LS. NGÔ QUANG THỤY

Một trong những vấn đề về lao động gây đau đầu đối với các doanh nghiệp đó là yêu cầu người lao động bồi hoàn chi phí đào tạo cho doanh nghiệp nếu không thực hiện đúng hoặc đầy đủ cam kết với doanh nghiệp.

Trên thực tế, do mặt bằng đào tạo ở Việt Nam còn yếu kém, các công ty đa quốc gia, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ cao thường gửi nhân viên chủ chốt người Việt Nam ra nước ngoài để nâng cao tay nghề. Việc đào tạo thường gắn với điều kiện là những nhân viên này khi kết thúc khóa đào tạo phải quay lại làm việc cho công ty đã gửi họ đi trong một thời gian nhất định.

Tuy nhiên khi mà một trong số những người được đào tạo từ chối quay lại làm việc theo cam kết và vụ việc được đưa ra xét xử tại cơ quan tòa án có thẩm quyền, phía doanh nghiệp thường nắm chắc phần thua nếu người lao động được coi là chấm dứt hợp đồng lao động “đúng luật”.

Không nói đến những tác động tiêu cực về mặt xã hội hoặc kinh tế mà hiện tượng trên gây ra, bài viết này tập trung phân tích ý kiến hoặc quyết định của các cơ quan nhà nước hữu quan như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) (qua công văn trả lời cho doanh nghiệp về vấn đề bồi thường chi phí đào tạo) hoặc tòa án (qua các phán quyết có lợi cho người lao động trên thực tế) dưới góc độ quy định luật pháp hiện hành.

Ai đúng, ai sai?

Công văn của Bộ LĐ-TB&XH và phán quyết của cơ quan tòa án thường dẫn chiếu một cơ sở pháp lý duy nhất: điều 13 Nghị định số 44 của Chính phủ ngày 9-5-2003. Cụ thể điều 13 quy định như sau: “Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9-1-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề, trừ trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà thực hiện đúng và đủ các quy định tại điều 37 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3814/BTTTT-VT NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VỀ QUẢN LÝ THUÊ BAO DI ĐỘNG TRẢ TRƯỚC THEO THÔNG TƯ SỐ 22/2009/TT-BTTTT.

Kính gửi:

– Các Doanh nghiệp thông tin di động;
– Trung tâm Thông tin;
– Báo Bưu Điện;
– Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC;
– Báo Điện tử Vietnamnet;
– Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông.

Sau ba tháng triển khai Thông tư 22/2009/TT-BTTTT quy định về quản lý thuê bao di động trả trước và văn bản hướng dẫn số 2546/BTTTT-VT, trên cơ sở báo cáo tình hình triển khai thực hiện của các doanh nghiệp thông tin di động về cơ bản số lượng thuê bao di động trả trước có thông tin đăng ký đạt trên 99% tổng số thuê bao hiện có trên toàn mạng. Dự kiến đến trước ngày 31 tháng 12 năm 2009 có thể hoàn thành kế hoạch đăng ký thông tin theo đúng Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Thông tư 22/2009/TT-BTTTT cũng đã phát sinh một số bất cập, tồn tại cần phải nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục như độ chính xác của thông tin thuê bao đối với các cá nhân sử dụng số chứng minh thư của mình đăng ký trên ba số thuê bao di động trả trước; việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng khi thực hiện thay đổi thông tin thuê bao đã đăng ký (đăng ký lại thông tin thuê bao) theo quy định; việc tổ chức trang bị máy tính tại các điểm giao dịch được ủy quyền; công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số chủ điểm giao dịch và chủ thuê bao trong việc chấp hành các quy định có liên quan.

Để khắc phục các bất cập, tồn tại trên, Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ và các doanh nghiệp thông tin di động tổ chức triển khai thực hiện ngay các công việc sau đây:

Continue reading

NHỮNG THỜI KỲ BIẾN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHO TƯƠNG LAI

PHẠM MINH CHÍNH (Bộ Công an) – TS. VƯƠNG QUAN HOÀNG (Đại học Tổng hợp Bruxelles) – THS. TRẦN TRÍ DŨNG (Chuyên gia Hệ thống dữ liệu và phân tích tài chính)

Cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 của thế kỷ XX đã góp thêm động lực cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, được khởi xướng từ mốc thời gian 1986 bằng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Từ đó đến nay, nhìn chung nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng cũng có những đợt suy giảm gợi lên tính chất chu kỳ kinh tế (xem sơ đồ 1).

Sơ đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế Việt Nam từ 1984 đến 2008

Chính những đợt suy giảm đó đã làm xuất hiện nhiều lo ngại, thậm chí có ý kiến cực đoan đã liên tưởng tới khả năng một kịch bản tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997 sẽ lặp lại với Việt Nam trong tương lai gần. Đồng thời, đã xuất hiện một số quan ngại về kết cục tương đồng của các biến động kinh tế, đặc biệt là giữa hai thời kỳ suy giảm tốc độ tăng trưởng 1997 – 1998 và 2007 – 2008.

Để tìm câu trả lời, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích cụ thể, như sau: Một số khía cạnh so sánh cơ bản, và Luận điểm cốt lõi và mấy vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

1.1. Bối cảnh của những biến động kinh tế

Những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề vĩ mô hàng đầu của Việt Nam là xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp cận với dòng chảy của khu vực và quốc tế. Các biến động kinh tế tại Việt Nam thời kỳ 1997 – 1998 chịu ảnh hưởng lan truyền từ khủng hoảng tài chính-tiền tệ của khu vực Đông Á, với tư cách là một thành viên của kinh tế khu vực.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ ÁP DỤNG XÂY DỰNG LUẬT TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Trong một hình thái kinh tế – xã hội, pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, do vậy pháp luật phải xuất phát từ thực tế và phải dựa trên những quy luật khách quan của các quan hệ xã hội mà chúng hướng đến điều chỉnh. Thực tiễn pháp luật Việt Nam đã cho thấy, nhiều quy định của pháp luật sau khi ban hành đã không được thực hiện do pháp luật không phù hợp với thực tế cuộc sống. Pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam sẽ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất nếu được ban hành phù hợp với những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Việc sửa đổi Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 đòi hỏi chúng ta phải cùng nhìn nhận và phân tích những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp này.

1. Nguyên lý về tính chất tư trong hoạt động xét xử của trọng tài

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phương thức theo đó các bên thỏa thuận lựa chọn một chủ thể không phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh. Chủ thể được lựa chọn gọi là trọng tài và sẽ ra phán quyết về tranh chấp giữa các bên có liên quan. Có hai loại trọng tài là trọng tài vụ việc (ad-hoc) và trọng tài thường trực. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai mô hình này là ở chỗ, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và sẽ tự giải thể khi tranh chấp được giải quyết xong. Trong khi đó, trọng tài thường trực – như chính tên gọi của nó – tồn tại có tính chất ổn định, có trọng tài viên riêng, có điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Trọng tài thường trực là một thực thể pháp lý độc lập với đầy đủ các dấu hiệu của một pháp nhân, trong đó dấu hiệu quan trọng nhất là có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình. Việc lựa chọn hình thức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Tuy nhiên, dù là trọng tài thường trực hay trọng tài vụ việc thì đều không phải là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, do vậy trong hoạt động xét xử, trọng tài không được sử dụng quyền lực công như tòa án. Chính vì hoạt động xét xử của trọng tài không gắn với quyền lực công nên trọng tài được coi là cơ quan tài phán tư.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4483/LĐTBXH-NCC NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH ĐỒNG THỜI LÀ CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC NGHỈ HƯỞNG CHẾ ĐỘ MẤT SỨC LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhận được đơn của ông Nguyễn Quốc Bình, trú tại số 4, phố Vọng Đức, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đề nghị hưởng lại chế độ trợ cấp mất sức lao động.

Theo công văn số 427/BHXH-CĐCS ngày 27/5/2008 của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội thì ông Nguyễn Quốc Bình, sinh năm 1949, có thời gian công tác thực tế là 23 năm 01 tháng, nghỉ hưởng chế độ mất sức lao động từ ngày 01/4/1990. Tháng 8/1996, ông Bình được xác nhận là thương binh. Ngày 25/8/1999, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tây ra Quyết định thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động để chuyển sang hưởng trợ cấp thương binh kể từ tháng 10/1999.

Theo quy định tại Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15/11/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: “Công nhân viên chức có thời gian công tác thực tế từ 20 năm trở lên hoặc chưa đủ 20 năm công tác thực tế nhưng có đủ 15 năm công tác liên tục trong quân đội, công an đồng thời là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% trở lên thì được hưởng hai chế độ trợ cấp: mất sức lao động và thương tật”.

Trường hợp của ông Nguyễn Quốc Bình có thời gian công tác thực tế là 23 năm 01 tháng đồng thời là thương binh, đủ điều kiện hưởng đồng thời cả hai chế độ trợ cấp thương binh và mất sức lao động. Đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội ra quyết định hưởng trợ cấp mất sức lao động đối với ông Nguyễn Quốc Bình.

Để đảm bảo quyền lợi của người lao động, thống nhất trong việc thực hiện chế độ và quản lý đối tượng, đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định hưởng trợ cấp mất sức lao động đối với trường hợp đủ điều kiện hưởng đồng thời cả hai chế độ trợ cấp thương binh và mất sức lao động theo quy định tại khoản 8, Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15/11/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội./.

BỘ TRƯỞNG  
Nguyễn Thị Kim Ngân

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG NỖI NIỀM . . .

PHAN THẾ HẢI

Trong nhiều ngày qua, trên các diễn đàn đại chúng, doanh nghiệp nhà nước được coi là tâm điểm của dư luận với không ít điều tiếng. Người ta chỉ trích những ưu ái giành cho khối này và phê phán sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên ít ai hiểu được nỗi niềm của những người trong cuộc.

Bị trói bởi một hệ thống luật chưa rõ ràng

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh mà toàn bộ vốn thuộc sở hữu nhà nước. Vậy nên, phần lớn cán bộ công nhân viên đều là người Nhà nước. Mặc dù trong đó có Hội đồng quản trị, có ban giám đốc điều hành nhưng thực chất họ đều là người làm thuê 100%, không hơn không kém. Nếu như ở các loại hình doanh nghiệp khác, Hội đồng quản trị (HĐQT) là người đại diện cho cổ đông thì với các DN Nhà nước, HĐQT là người đại diện cho vốn của nhà nước, vốn của nhà nước lại thuộc sở hữu toàn dân, một ông chủ vừa mơ hồ vừa chịu sự chi phối của hàng loạt quy định bùng nhùng rắc rối.

Chính vì vậy nên ở trong các DN như vậy, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên chỉ là mối quan hệ giữa những người làm thuê với nhau. Điều này khác hẳn với ở các DN ngoài quốc doanh, là mối quan hệ chủ tớ. Chính vì mối quan hệ giữa các người làm thuê nên khó có sự mạch lạc của quyền lực.

Ông Lê Văn, một người từng là Tổng giám đốc một DN nhà nước tâm sự: Khó nhất là quản lý nhân viên. Tuyển dụng vào thì dễ mà sa thải thì khó. Tâm lý cho rằng, họ là “người nhà nước”, không dễ gì sa thải khi khuyết điểm chưa rõ ràng. Trong khi đó, yếu kém về năng lực chưa phải là một lỗi được quy định trong luật. Chuyện xử lý nhân viên chỉ cần sơ suất về thủ tục là sẽ bị kiện tụng, phức tạp vô cùng.

Continue reading

LUẬT TỐT CHƯA ĐỦ!

DIỆP VĂN SƠN

Luật tốt chưa đủ, khi dưới luật còn rất nhiều những nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị… ban hành kém chất lượng, thiếu tính khả thi. Muốn cho một nền hành chính có hiệu quả, hiệu lực và thông suốt, yêu cầu đầu tiên có tính tiên quyết: các văn bản hành chính phải có chất lượng.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất của Chính phủ, bộ ngành và chính quyền địa phương các cấp là làm sao cho các văn bản ban hành đạt chất lượng cao nhất. Nhưng làm thế nào để đo được chất lượng ban hành văn bản? Có những văn bản dễ dàng nhận thấy là kém chất lượng. Đó là những văn bản trái với Hiến pháp và pháp luật, phi thực tế, rõ ràng không khả thi, chứa đựng nhiều sai lầm không thể chấp nhận được… Ngoài những trường hợp hiển nhiên đó, rất khó có thể đánh giá chất lượng của việc ban hành văn bản. Một khiếm khuyết lâu nay rất dễ nhận thấy và đã để lại nhiều hệ luỵ là việc phân tích chính sách ít được quan tâm đúng mức để làm cơ sở cho việc ban hành văn bản. Thậm chí ngay trong luật ban hành các văn bản pháp luật cũng không đề cập đến công đoạn phân tích chính sách.

Có thể thấy các văn bản kém chất lượng thường xuất phát từ những nguyên nhân sau: không thiết lập được những ưu tiên chính sách chính yếu, không đưa ra được những lựa chọn khó khăn giữa các mục tiêu mâu thuẫn nhau, hoặc không chuyển hoá được những ưu tiên thành các văn bản cụ thể. Có tình trạng thường xuyên né tránh các quy trình, nguyên tắc chính thức trong việc ban hành văn bản. Hoặc do vai trò của tổ chức không rõ ràng, hoặc do có sự mâu thuẫn giữa các chương trình công tác của các bộ ngành, hoặc vì cả hai lý do này, cộng với thất bại trong việc lấy ý kiến của tất cả các bộ có liên quan về các quyết định cụ thể, các ý kiến đệ trình lên Chính phủ được soạn thảo sơ sài và không đánh giá đầy đủ về các chi phí. Nguy hại nhất là có sự cố tình “cài cắm” những nội dung có lợi cho nhóm lợi ích này, nhưng bất lợi cho nhóm khác! Đây là những nhóm thường là vô hình, không chịu trách nhiệm, nhưng lại tác động lên chính sách từ bên ngoài Chính phủ.

Continue reading

XÁC ĐỊNH NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI NGƯỜI BỊ HẠI ĐÃ CHẾT TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – Tòa án nhân dân TPHCM

Vấn đề xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định các vấn đề có liên quan trong vụ án mà Hội đồng xét xử cần phải giải quyết, đặc biệt là việc xác định tư cách người đại diện hợp pháp của người bị hại đã chết trong các vụ án hình sự.

Đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Người đại diện theo pháp luật bao gồm:

1.Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

2.Người giám hộ đối với người được giám hộ;

3.Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

4.Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

5.Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;

6.Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác;

7.Những người khác theo pháp luật quyê định.

Đại diện theo ủy quyền

1.Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyề giữa người đại diện và người được đại diện.

2.Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.

Continue reading

TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN: LIỆU CÓ “CHÍN ÉP”?

MINH ÁNH

Xung quanh chuyện về tập đoàn kinh tế tư nhân đang có những đề xuất đòi “chính danh”, những băn khoăn xuất hiện song hành cùng sự kỳ vọng về sự lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân. Nhớ lại, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời, cùng với sự phát triển nhanh của cộng đồng doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân xuất hiện như những dấu ấn mới.

Những cái tên như Tập đoàn HIPT, Tập đoàn Thái Tuấn, Tập đoàn Việt Á, Tập đoàn Mai Linh, Tập đoàn Hòa Phát… bắt đầu được biết đến một cách thuyết phục và ấn tượng.

Câu chuyện tự phong

Thị trường chấp nhận những cái tên này một cách nhanh chóng bởi sự tăng trưởng, phát triển và sức lan tỏa mạnh của chính thương hiệu mà những doanh nghiệp đó tạo dựng. Khi đó, không có quá nhiều băn khoăn về tiền tố tập đoàn trong những thương hiệu được công bố.

Tuy nhiên, mọi việc lại có vẻ không dễ dàng ở khía cạnh pháp lý. Vướng mắc lớn xuất hiện ngay từ những thủ tục đầu tiên, tưởng chừng như rất nhỏ, là đăng ký tên gọi của doanh nghiệp khi chính các tập đoàn tư nhân đầu tiên của Việt Nam quyết định đăng ký đổi tên cho phù hợp với vị thế và quy mô mới. Có lẽ mọi sự rắc rối bắt đầu từ những từ chối của cơ quan đăng ký kinh doanh khi không tìm thấy quy định về tiền tố tập đoàn trong tên gọi. Khi đó, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải vào cuộc. Và những cái tên công ty cổ phần tập đoàn A, công ty TNHH tập đoàn B xuất hiện như một sự dung hòa giữa pháp lý và đời sống doanh nghiệp.

Continue reading

NHỮNG MÂU THUẪN TRONG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT KHIẾU NẠI TỐ CÁO, LUẬT ĐẤT ĐAI, PHÁP LỆNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VÁN HÀNH CHÍNH TRONG MỘT VỤ VIỆC CỤ THỂ

LS. VÕ THÀNH VỊ

Tóm tắt nội dung vụ việc Ngày 30/12/1998, Chính Phủ ban hành Quyết định số 1168/QĐ-TTg về việc cho Công ty Thương mại Củ Chi thuê 2.206.433m2 đất để đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi tại các Xã Tân An Hội, Trung Lập Hạ và thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi- TP.HCM.

Ngày 30/09/2004, Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi có Quyết định số 6187/QĐ-UB về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, nhà cửa, vật kiến trúc, hoa màu đối với hộ gia đình của ông Nguyễn Văn Đức.

Ông Đức có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích đất 17.196m2 trong diện tích 2.206.433 m2 nêu trên, khiếu nại Quyết định số 6187 của Ủy ban Nhân dân huyện Củ Chi là ông chưa có quyết định thu hồi đất theo từng hộ gia đình.

Ông Đức khiếu nại Quyết định số 1168 chỉ gửi cho các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện quyết định theo thẩm quyền, không có gửi cho ông để thi hành, chưa xác định diện tích đất của từng hộ dân bị thu hồi đất, số tờ bản đồ, số thửa, loại đất. Đến nay, ông Đức chưa có quyết định thu hồi đất theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ.

Ngày 24/08/2007 Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi có Quyết định số 3881/QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của ông Đức . Ngày 14/09/2007 ông Đức làm đơn khiếu nại quyết định số 3881 gửi đến ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) TP.HCM.

Ngày 11/09/2008 UBND TP.HCM có Quyết định số 3898/QĐ- UBND bác đơn khiếu nại của ông Đức, quy định: “Đây là quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch UBND thành phố, đối với khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đức. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này, ông Nguyễn Văn Đức có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định”.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: ĐÒI TIỀN TỈ VÌ BỊ “CHÔM” BÀI PHỐI ÂM KARAOKE?

HỒNG TÚ

Ngày 25-11 – 2009, TAND TP.HCM đã thụ lý vụ Công ty Cổ phần Dịch vụ Phú Nhuận (Maseco) kiện Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ-Sản xuất điện tử Cali và Công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ Đông Hải. Maseco tỏ ra bức xúc vì cho rằng mình đã phải tốn rất nhiều công sức, chi phí để sáng tạo ra các sản phẩm phối âm MIDI từ các bài hát có sẵn.

Theo đơn kiện, Maseco cho rằng Cali và Đông Hải đã xâm phạm quyền tác giả bài phối âm MIDI Karaoke của mình nên yêu cầu hai công ty trên chấm dứt hành vi xâm phạm, thu hồi toàn bộ số đĩa karaoke đã bán ra thị trường và xin lỗi công khai. Ngoài ra, Cali còn phải bồi thường hơn 8 tỉ đồng, Đông Hải bồi thường gần 4,5 tỉ đồng và thanh toán 380 triệu đồng tiền bản quyền cho Maseco.

Sử dụng không xin phép?

Maseco là nhà sản xuất đầu đĩa thương hiệu Arirang. Năm 2004, Maseco đã được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận quyền tác giả cho bài phối âm Maseco Midi Vision từ Vol 1 đến Vol 36 với hơn 3.000 bài hát thể hiện dưới hình thức tập tin định dạng MIDI.

Sự việc trở nên ầm ĩ khi Maseco gửi văn bản tới cơ quan chức năng tố cáo nhiều công ty, trong đó có Cali và Đông Hải đã tự ý sử dụng các sản phẩm phối âm MIDI Karaoke của Maseco để kinh doanh thu lợi. Maseco cũng gửi nhiều văn bản cho Cali và Đông Hải yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm và thu hồi toàn bộ đĩa karaoke đã bán ra thị trường.

Phúc đáp Maseco, Cali khẳng định mình chỉ có chức năng sản xuất các mặt hàng điện tử, không có chức năng sản xuất, phát hành, kinh doanh băng đĩa nên không liên quan gì. Cali chỉ thừa nhận trong quá trình bán các đầu máy karaoke sáu số mang nhãn hiệu California, có bán kèm đĩa nhạc mua lại từ Đông Hải.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 1359/QĐ-BHXH NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ CẤP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THẺ BẢO HIỂM Y TẾ.

TỔNG GIÁM ĐỐC BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

Căn cứ Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
Căn cứ Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-TC ngày 14 tháng 8 năm 2009 của Liên Bộ Y tế – Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế;
Xét đề nghị của Trưởng Ban Cấp sổ, thẻ.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định về cấp, quản lý và sử dụng thẻ bảo hiểm y tế thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Điều 2. Quy định các chữ viết tắt

Trong văn bản này, các chữ viết tắt và rút gọn được hiểu như sau:

– Bảo hiểm xã hội: viết tắt là BHXH;

– Bảo hiểm y tế: viết tắt là BHYT;

– Khám bệnh, chữa bệnh: viết tắt là KCB;

– Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: gọi chung là BHXH tỉnh;

– Bảo hiểm xã hội các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: gọi chung là BHXH huyện;

– Cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc Đại lý thu BHYT: gọi chung là đơn vị quản lý đối tượng.

Continue reading

NHO GIÁO VÀ PHÁP LUẬT

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Nho giáo, “một cái nhà đẹp, lâu ngày không ai sửa sang, đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống”, tưởng như đã hoang tàn vụn nát trước đủ luồng triết lý Tây phương, liệu có còn giá trị đáng kể gì trong cuộc kiến thiết hệ thống pháp luật Việt Nam. Một câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người đương thời và các thế hệ con cháu mai sau. Bài viết dưới đây bước đầu nghiên cứu vai trò và giới hạn của pháp luật trong những phương cách tác động đến thói quen hành xử của con người, sự tương tác giữa các phương pháp của Nho giáo và phương pháp điều chỉnh của pháp luật, cũng như đưa ra một vài thiển ý góp phần làm cho pháp luật nước ta ngày càng gần hơn với cuộc đời.

Các giáo trình nhà nước và pháp luật đại cương ngày nay thường hối hả phổ biến những phương thức tổ chức kinh tế, xã hội từ Cộng sản Nguyên thuỷ, xã hội Nô lệ, xã hội Phong kiến, xã hội Tư bản, xã hội Xã hội Chủ nghĩa và tiến tới Cộng sản Chủ nghĩa, thậm chí có lúc “cố gọt bỏ thực tế của dân tộc mình để làm sao nhét nó vào được cái khuôn khổ đã có sẵn ấy”. Từ thuyết đó, nảy sinh ra các kiểu nhà nước, các kiểu pháp luật. Khi cắt nghĩa nhà nước và pháp luật, người ta dựa vào triết lý pháp quyền phương Tây, mà không bắt nguồn tử triết lý sống của người Việt Nam về vũ trụ, con người và xã hội. Có những tư duy mới được vay mượn vào nước ta, ví dụ “nhà nước pháp quyền”, nếu chưa biết quy nạp vào đâu, thì cứ theo công thức sáo mòn ấy, không ít người suy luận bừa rằng đó cũng là một kiểu nhà nước. Tuy nhiên giới học thức đúng đắn đã bắt đau tỉnh ngộ; “pháp luật không chỉ là công cụ” trong tay người cam quyền.

Nếu cứ theo khuôn khổ đó, thì điều gì là riêng biệt trong lịch sử phát triển nhà nước và pháp luật Việt Nam. Bên cạnh nền văn hóa Trung Hoa, nền văn hóa pháp luật Việt Nam có những đặc sắc gì? Hết thảy những điều này đều cần có lời giải đáp, bởi con người hành xử theo thói quen, tập tục, bản lĩnh, tâm thức của dân tộc mình. Sau chiến tranh lạnh, ý thức hệ tư tưởng không còn là hố ngăn con người. Tự do thương mại toàn cầu làm cho pháp luật được hài hoà hoá ngày càng nhanh. Trong bối cảnh đó, níu giữ lấy bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có văn hóa pháp lý, trở nên hệ trọng, hệt như giữ lấy sự độc lập quốc gia trước sự xâu xé của thực dân trong thế kỷ XIX. Muốn giữ quốc tuý và rửa nhục nghèo nàn cho đất nước, mượn cách nói của cụ Lương Văn Can (bảo quốc tuý, tuyết quốc sỉ), người học luật nước ta trước hết phải hiểu và tìm cách tôn vinh văn hóa pháp lý và triết học pháp quyền của dân tộc mình.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN VÀ TRÁCH NHIỆM NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS. LÊ THI – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Sau khi định nghĩa khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm nhà nước, xác định trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam và trách nhiệm của cá nhân công dân nước Việt Nam, tác giả đã tập trung phân tích mối quan hệ mật thiết, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam và trách nhiệm của công dân Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo tác giả, bồi đắp sức mạnh liên hợp, tổng hợp giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nhà nước vì lợi ích chính đáng của mỗi người dân và lợi ích chung của toàn thể cộng đồng xã hội cần có sự cố gắng từ cả hai phía người dân và nhà nước, cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân của toàn thể công dân và ý thức trách nhiệm nhà nước của toàn thể bộ máy, của cán bộ, nhân viên nhà nước.

1. Về định nghĩa khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm nhà nước

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, trách nhiệm là khái niệm của ý thức đạo đức ý thức pháp luật, nói lên nhân cách con người trong việc thực hiệnnghĩa vụ do xã hội đặt ra cho con người. Nội dung vấn đề trách nhiệm đặt ra là: con người hoàn thành và hoàn thành đến mức độ nào, hoặc không hoàn thànhnhững yêu cầu xã hội đặt ra cho họ.

Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hành độngnghĩa vụ,hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc điểm cho hành động có ý thức của con người.

Con người ngày càng nhận thức được các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội thì năng lực chi phối tự nhiên, xã hội càng lớn và trách nhiệm con người đối với hành vi của mình càng lớn hơn.

Về mặt pháp lý, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyềnnghĩa vụ, quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn.

Theo Từ điển Triết học (Nxb Mátxcơva, 1986), trách nhiệm là phạm trù đạo đức và luật học phản ánh thái độ đạo đức, pháp luật của cá nhân đối với xã hội(đối với nhân loại nói chung). Thái độ này biểu thị ở sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 144/BXD-QLN NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH PHẦN DIỆN TÍCH SỞ HỮU CHUNG, SỞ HỮU RIÊNG KHI CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở ĐỐI VỚI NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời Công văn số 8711/SXD-QLN&CS ngày 22/10/2009 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh về việc xác định phần diện tích sở hữu chung, sở hữu riêng khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà chung cư, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Về việc xác định phần diện tích sở hữu chung, sở hữu riêng trong nhà chung cư ở số 479A Bến Phú Lâm, phường 9, quận 6 – thành phố Hồ Chí Minh

Theo tài liệu hiện có thì nhà chung cư ở số 479A Bến Phú Lâm, phường 9, quận 6 của Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Sài Gòn được đầu tư xây dựng trước khi Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành. Do vậy, để xác định phần diện tích sở hữu chung, sở hữu riêng trong nhà chung cư cần xem xét nội dung Hợp đồng mua bán nhà ở mà Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Sài Gòn đã ký với khách hàng và những hồ sơ, tài liệu, dự án liên quan. Cụ thể là:

Trường hợp Hợp đồng có quy định trong phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư có phần diện tích nơi để xe của nhà chung cư được chủ đầu tư đồng ý cho sử dụng chung thì chủ đầu tư phải xác định rõ công năng phần diện tích nơi để xe là phần sử dụng chung và công năng phần diện tích còn lại trong diện tích sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Trường hợp Hợp đồng không có quy định về phần diện tích nơi để xe thì căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt để xác định phần diện tích nơi để xe thuộc phần sở hữu chung hay sở hữu riêng; nếu trong hồ sơ, tài liệu, dự án cũng không có quy định về quyền sở hữu diện tích nơi để xe thì chủ đầu tư và các chủ sở hữu phải thoả thuận đảm bảo quyền lợi của cả chủ đầu tư và các chủ sở hữu với mức thu tiền trông giữ xe không được vượt quá mức phí do HĐND-UBND thành phố Hồ Chí Minh quy định.

Continue reading