THƯ CỦA MỘT THẦY GIÁO GỬI HỌC TRÒ NHÂN NGÀY 20/11

  8894-001-16-1076LÊ THỊ LIÊN HOAN

Tý thân yêu!

Thầy biết rằng giờ này em đang băn khoăn ghê gớm là sẽ làm gì vào ngày 20 – 11. Em muốn tới thăm nhà thầy nhưng không biết nói thế nào… Em muốn tặng thầy một món quà nhưng em có ít tiền… Bao nhiêu là cân nhắc ngổn ngang.

Sở dĩ thầy hiểu điều đó vì thầy cũng đã trải qua tất cả những tâm trạng ấy khi còn đi học. Suốt ngày 19 và 20, từng tốp trẻ em lùng sục ngoài phố, mò vào các cửa hàng lưu niệm, mua không biết bao nhiêu những bưu thiếp, những đồ vật xinh xắn, nho nhỏ giống hệt nhau nhưng ai cũng tưởng rằng mình đặc biệt.

Tuy vẫn tôn trọng những thứ đó, nhưng Tý ơi, thầy nói thật với em nếu mấy chục năm dạy học, thầy chất tất cả các món quà ấy trong phòng thì chắc chắn thầy đã ở trên nóc nhà từ lâu rồi, do nhà thầy rất bé.

Với tất cả lòng thành thật của mình, thầy có thể nói món quà quý nhất mà em mang lại cho thầy chính là khi em trở thành một con người tốt, sau khi học ở trường ra. Chắc Tý nghĩ câu này cũng không có gì đặc biệt, nhưng đã tới nhấn mạnh chẳng phải vậy đâu em ạ.

Tý thương yêu!

Ngay từ khi sinh ra hình như mọi thứ để em trở thành người tốt đã sẵn sàng: Đó là ở nhà thì nghe lời cha mẹ, tới trường thì nghe lời thầy cô. Lớn hơn chút nữa em biết ra đường phải nghe theo luật giao thông, ăn uống phái chấp hành luật vệ sinh, cư xử phải để ý tới thái độ của bạn bè, tuy không viết ra nhưng cũng coi như luật.

Continue reading

NGƯỜI THẦY TRONG THỜI ĐẠI MỚI

HÀ VĂN THỊNH

"Cơn bão" của thời kinh tế thị trường, toàn cầu hoá, net hoá đang ào đến mọi ngõ ngách xã hội; một mặt, khẳng định vị thế ngày càng quan trọng hơn của người thầy; mặt khác, nó "định nghĩa lại", quy nạp lại hai chữ làm thầy. Câu ngạn ngữ "Không thầy đố mày làm nên" từ xa xưa đã minh xác sự tôn vinh vai trò của người thầy đối với xã hội. Trong thời đại mới, thầy cô giáo được xã hội gọi chung là người thầy.

Trước kia, trong một ngôi làng, người thầy là người có học vấn cao nhất. Trật tự đó ít thay đổi nên bản thân người thầy không có nhiều nhu cầu tự đổi mới. Kiến thức mà ông thầy truyền dạy không cần phải xem xét, truy nguyên hay đặt hỏi cách nghĩ phản biện. Những định ngữ mặc nhiên còn gia tăng hơn nữa cách hiểu này như "nhất tự vi sư, bán tự vi sư", người xưa có bao giờ sai, xưa bày nay làm, tứ thập nhi bất hoặc… Đã 40 tuổi là không còn sai lầm, huống chi thầy!

Sự phát triển của xã hội ngày nay có tốc độ nhanh. Cách nhìn, cách hiểu và cách dạy của người thầy tất nhiên phải luôn đổi mới. Ngày xưa, khi dạy học trò, thầy không phải lo phim ảnh đồi trụy, những cảnh bạo lực trong games ảnh hưởng xấu đến tâm lý trẻ vị thành niên; hoặc sinh viên đại học nếu chịu khó truy cập mạng, không ít kiến thức của thầy đã tự biến thành bảo tàng buồn tẻ…

Nói như thế để thấy rằng trách nhiệm của người thầy ngày nay nặng nề lắm.

Thứ nhất, ở cấp học mầm non, tiểu học, người thầy phải là mẹ hiền, đúng như mơ ước của trẻ thơ. Nếu thầy cô chỉ lo kiếm gạo, làm thêm thì làm sao đủ kiên nhẫn để truyền đạt kiến thức, đủ thời gian để giao thoa, cộng hưởng về tình cảm với học trò?
Thứ hai, ở cấp THCS, THPT, nếu không hiểu biết về tâm lý học của lứa tuổi đang "trở thành người lớn", chúng đòi hỏi sự sâu sắc của hiểu biết, sự tôn trọng và khẳng định, thì làm sao quan hệ thầy trò có thể là tấm gương?

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 137 /BC-NHNN NGÀY 16 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC GIẢI TRÌNH CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TẠI KỲ HỌP THỨ 6, QUỐC HỘI KHÓA XII

Kính gửi:

Các vị Đại biểu Quốc hội

Thực hiện yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nêu tại văn bản số 2290/VPQH-CTĐB ngày 13/11/2009) và thực hiện sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin giải trình và báo cáo trước Quốc hội một số vấn đề về hoạt động ngân hàng được Đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm.

I- TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC LƯU Ý CỦA CHỦ TỊCH QUỐC HỘI TẠI KỲ HỌP THỨ 4, QUỐC HỘI KHOÁ XII:

Tại Kỳ họp thứ 4, Chủ tịch Quốc hội đã có ý kiến kết luận lưu ý Thống đốc Ngân hàng Nhà nước một số vấn đề quan trọng như sau: theo dõi chặt chẽ diễn biến khủng hoảng tài chính toàn cầu và những tác động tiêu cực đối với nước ta để tham mưu biện pháp xử lý; điều hành chính sách tiền tệ hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát; quan tâm xử lý số tiền gửi của hệ thống ngân hàng ở nước ngoài và đảm bảo an toàn hệ thống trước ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Ngay sau khi kết thúc Kỳ họp, ngành Ngân hàng đã cụ thể hoá các vấn đề Chủ tịch Quốc hội lưu ý, tham mưu cho Chính phủ và tập trung dồn sức thực hiện các biện pháp.

Ngân hàng Nhà nước cùng với các tổ chức tín dụng theo dõi sát diễn biến và dự báo của các nước, tổ chức tài chính quốc tế, đã xây dựng phương án trình Chính phủ quyết định các giải pháp để chủ động xử lý tình huống rủi ro đối với hệ thống ngân hàng; xây dựng và triển khai các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Chính phủ, chuyển hướng từ mục tiêu ngăn chặn lạm phát sang mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế.

Ngành Ngân hàng đã tập trung rà soát các khoản tiền gửi của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở nước ngoài, chuyển sang gửi ở các ngân hàng có hệ số tín nhiệm cao và NHTW các nước để phòng ngừa rủi ro. Kết quả là tiền gửi của hệ thống ngân hàng được đảm bảo an toàn. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện nghiêm các quy định về tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh, đẩy mạnh huy động vốn để mở rộng tín dụng có hiệu quả, tiếp tục phát triển các dịch vụ tiện ích ngân hàng. Đến nay, toàn hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động ổn định, an toàn và thực hiện tốt các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định vĩ mô và ngăn chặn suy giảm kinh tế.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4422/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 18 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Văn phòng dự án Phục vụ trẻ em Quốc tế Holt tại thành phố Hà Nội
(103-C8B, Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội)

Trả lời văn bản đề ngày 10/11/2009 của Tổ chức Phục vụ trẻ em Quốc tế Holt về việc chấm dứt hợp đồng lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo nội dung văn bản đề ngày 10/11/2009 của Văn phòng dự án Phục vụ trẻ em Quốc tế Holt tại thành phố Hà Nội thì văn phòng dự án muốn giảm lao động do bị cắt giảm tiền tài trợ, do đó, văn phòng dự án phải thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo quy định của Bộ luật Lao động thì Văn phòng dự án Phục vụ trẻ em Quốc tế Holt tại thành phố Hà Nội có thể thực hiện:

Chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động, khi đó, Văn phòng dự án có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.

Chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 17 Bộ luật Lao động, trình tự thủ tục chấm dứt hợp đồng theo Điều 17 Bộ luật Lao động đã được quy định tại khoản 2 Điều 38 và hướng dẫn tại Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ, khi đó, Văn phòng dự án phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để quý Văn phòng biết và thực hiện.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

THÔNG TƯ SỐ 39/2009/TT-BLĐTBXH NGÀY 18 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN THI HÀNH ĐIỀU 12 CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 39/2003/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 4 NĂM 2003 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC LÀM

Căn cứ Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm;
Căn cứ Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp;
Căn cứ Nghị định 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành Điều 12 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm (sau đây được viết tắt là Nghị định số 39/2003/NĐ-CP) như sau:

Điều 1. Mức trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP được hướng dẫn như sau:

1. Công thức tính trợ cấp mất việc làm:

Tiền trợ cấp mất việc làm =  Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm x Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm x 01

Trong đó:

– Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm (được tính theo năm) được xác định là tổng thời gian người lao động làm việc liên tục cho người sử dụng lao động đó được tính từ khi bắt đầu làm việc đến khi người lao động bị mất việc làm, trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 41 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp. Trường hợp tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tính trợ cấp mất việc làm dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau:

Continue reading

ĐỒNG ĐÔ LA VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

VĂN THANH

Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã đẩy mạnh xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài, dẫn đến những thay đổi về qui mô và quyền lực tài chính giữa các nước phát triển và đang phát triển.

Trong khi nền kinh tế Mỹ đã đóng vai trò chính trong nền kinh tế thế giới suốt từ sau thế chiến 2 cho đến những năm 1990, từ cuối thế kỷ qua đã chứng kiến sự nổi lên của một số nền kinh tế lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Liên bang Nga, Brazil. Những thay đổi này đã gây tác động đến dòng vốn quốc tế và tỉ giá hối đoái, từng bước hình thành sự điều chỉnh quốc tế. Thêm vào đó, sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tác động xấu đến cán cân thanh toán của Mỹ, mà đỉnh cao là đổ vỡ tín dụng tại Mỹ và dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính sự mất cân đối ngân sách kỷ lục tại Mỹ và sự nổi lên của các nền kinh tế mới nổi đã khiến cho USD mất giá 16% tính từ tháng 3/2009 và trên 20% tính từ năm 2002 và còn tiếp tục xuống giá. Tỉ trọng USD trong dự trữ thế giới giảm từ 72% vào năm 1999 (đồng euro bắt đầu lưu hành) xuống còn 62,8% vào quí 2/2009.

Những lo ngại về sự gia tăng thâm hụt tại Mỹ để kích thích nền kinh tế sau khủng hoảng và sự phục hồi kinh tế toàn cầu là những yếu tố tiếp tục làm giảm nhu cầu nước ngoài về tài sản USD, góp phần làm cho USD suy yếu thêm. Cùng với sự mất giá của USD, giá vàng liên tục lập kỷ lục mới đã gây ra sự lúng túng của nhiều doanh nghiệp và các nhà tạo lập chính sách, nhất là những nước có tỉ giá thả nổi. Trong tình hình đó, FED và nhiều NHTW đã lập phương án điều chỉnh dự trữ để tạo danh mục cân đối hơn theo hướng giảm tỉ trọng USD trong dự trữ ngoại hối, và điều này làm USD giảm sâu hơn nữa.

Continue reading