ĐẠO ĐỨC NGƯỜI THẦY – ĐÔI LỜI NÓI THẲNG

LÊ SĨ TỨ

Niềm tự hào của người thầy

Ngày nay, vào bất kỳ một trường học nào, từ mẫu giáo đến THPT, ở chỗ trang trọng nhất đều treo một khẩu hiệu làm “kim chỉ nam” cho phương châm chỉ đạo, nhắc nhở cả thầy lẫn trò: “Tiên học Lễ, hậu học Văn”.

Như vậy trò đến trường trước hết phải học “Lễ”, tức là học đạo đức, học đạo lý làm người để trở thành “con ngoan, trò giỏi”, xa hơn nữa khi trưởng thành sẽ là những nhân tài góp sức xây dựng đất nước ta “sánh vai các cường quốc năm châu” như lời Bác Hồ dạy. Và đương nhiên, người thầy dù làm cán bộ quản lý hay trực tiếp đứng trên bục giảng, hoặc làm chủ nhiệm hay chỉ là giáo viên bộ môn dạy toán, văn, sử, địa, thể dục… đều phải biết dạy “Lễ” cho học trò. Để làm tròn trọng trách đó, người thầy phải nghiêm khắc, thường xuyên  rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tác phong luôn “là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”. Nếu người thầy cái “tâm” không sáng, trò không “tâm phục, khẩu phục”, khó mà đứng lớp để dạy đạo đức cho trò. Đội ngũ các nhà giáo có quyền tự hào, lúc đất nước khó khăn, cam go nhất, thời thế đã tạo nên một “thế hệ vàng” các thầy cô giáo “sống mãi với thời gian”. Chỉ riêng Trường Đại học Sư phạm, “cái nôi” đào tạo các “kỹ sư tâm hồn”, ta có thể kể đến thầy Nguyễn Khánh Toàn, thầy Nguyễn Lân, thầy Lê Trí Viễn, thầy Nguyễn Lương Ngọc, cô Hoàng Xuân Sính, thầy Dương Trọng Bái, thầy Trương Chính…

Đất nước đổi mới, mở cửa, hội nhập, có nhiều thuận lợi  để con người thực hiện lẽ sống “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhiều thầy cô giáo tâm huyết với nghề “trồng người” đã biết vượt lên  chính mình. Không ít thầy cô giáo để lại sau lưng ánh đèn thành phố, chia tay tiện nghi, dám đối diện với muôn vàn khó khăn “cầm đàn lên đỉnh núi”, “cõng cái chữ” lên vùng sâu, vùng xa. Họ là người giáo viên nhân dân “trái tim đỏ như hoa phượng tím”, biết sống “mình vì mọi người”. Chính họ là niềm tự hào cho nghề dạy học của chúng tôi.

Continue reading

CÁC TRANH CHẤP LÃNH HẢI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC BIỂN: MỘT GÓC NHÌN LỊCH SỬ

GS. BRUCE A. ELLEMAN – Trường Cao đẳng Hải quân Mỹ (US Naval War College)

*Đây là bản dịch Chương 3: “Maritime territorial disputes and their impact on maritime strategy: A historical perspective” trong cuốn Security and International Politics in the South China Sea (An ninh và chính trị quốc tế ở biển Đông) do Sam Bateman và Ralf Emmers chủ biên, NXB Routledge, New York, 2009, tr. 42-57.  Tạp chí Thời Đại Mới giữ bản quyền bản dịch này.

Trung Quốc đã nhiều lần đơn phương tuyên bố chủ quyền tại các đảo trên biển Đông từ hơn 100 năm nay. Đô đốc Tát Trấn Băng (Sa Zhenbing), tổng tư lệnh Hải quân Thanh triều đã từng dẫn đầu một tầu viễn dương đến những vùng biển đang trong vòng tranh chấp này vào năm 1907 để khẳng định các tuyên bố về chủ quyền của Thanh triều. Vào thập niên 1930, Nhật Bản đã cho quân đồn trú tại nhiều đảo ở đó cho tới khi những hòn đảo này lọt vào vòng kiểm soát của Trung Hoa Quốc Dân Đảng sau Thế Chiến Thứ Hai. Bất chấp các cuộc phản đối của Trung Quốc, Đài Loan vẫn tiếp tục chiếm đóng một số đảo mang tính chiến lược, bao gồm đảo Đông Sa (Pratas) và Ba Đình (Itu Aba – Taiping Island).

Bù lại việc Trung Quốc đã muộn màng trong việc hiện đại hóa quân đội và ngay cả chưa có hàng không mẫu hạm cho đến tận bây giờ, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (People’s Liberation Army  ̶  PLA) vẫn phải bám quân ở nhiều đảo và vỉa san hô đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông. Để tăng cường khả năng chỉ huy quân báo, Trung Quốc đang từng bước xây dựng các trạm vô tuyến trên các đồn trú quân rải rác này với các thiết bị điện tử đa dạng, từ các máy chuyển tiếp tín hiệu truyền thông hiện đại cho đến các radar sóng ngắn. Điều này không những cho thấy sự gia tăng về tiềm năng quân sự của Trung Quốc trong khu vực, mà rõ ràng còn là những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang chuẩn bị ráo riết cho việc bành trướng thêm nữa đối với các vùng biển còn đang trong vòng tranh chấp ở biển Đông.

Bằng việc phân tích các mâu thuẫn trong quá khứ ở biển Đông, bài viết này sẽ cho thấy tác động của việc tranh chấp chủ quyền lên việc tăng cường lực lượng hải quân Trung Quốc cũng như tác động lên một chiến lược hiếu chiến hơn về quyền lợi biển nhằm khoanh vùng và ngăn cản các nước khác xâm phạm các vùng lãnh hải mà Trung Quốc tuyên bố là thuộc về họ. Rõ ràng, việc xây dựng dần dần các căn cứ trên các đảo sẽ cho phép Bắc Kinh một ngày nào đó khẳng định nhiều hơn chủ quyền của họ ở biển Đông. Điều suy đoán này đã được xác định vào ngày 4 tháng 12, 2007 khi Trung Quốc đơn phương thông báo thành lập “một thành phố mới” thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý hành chánh quần đảo Hoàng Sa (Paracels), quần đảo Trung Sa (Maccles field Bank) và quần đảo Trường Sa (Spratlys) bất chấp rằng chủ quyền của những quần đảo này vẫn còn đang trong vòng tranh chấp.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG

LÊ MINH NGHĨA – Nguyên Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc.  Trong đó lãnh thổ và biên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như hình với bóng do đó pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia.  Cho đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm chiếm một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp.  Nhưng ngay sau chiến tranh thế gìới thứ haì, Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một Quốc gia. Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các dân tộc thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai mà dân tộc ta là một đội ngũ tiên phong với chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể và đầy đủ hơn của Liên Hợp Quốc về vấn đề này.

Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kể thuộc loại nào, chống lạỉ các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dút để các dân tộc đó có thể thực hiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽ được tôn trọng".

Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hơp Quốc lại viết: "Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc gìa khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các Quốc gia".

"Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp".

Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới – lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ đó.

Theo Tống sử, Tông Cảo sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990 sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai năm 98 1 đã báo cáo rằng khi họ đến "hảì giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300 quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định. Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết rằng: dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa ‘bíển Giao Chỉ" và biển Quỳnh – Liêm (tức vùng biển Quỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc).

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 7: ĐA SỐ LÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA NỀN CỘNG HÒA

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 2 và 5 tháng Bảy năm 1787

Bất đồng rất lớn của các đại biểu về quyền bỏ phiếu bình đẳng tại Thượng viện đã dẫn Hội nghị tới bế tắc và mọi thảo luận đều trở nên cực kỳ căng thẳng mà chẳng bên nào chịu nhường bên nào. Để giải quyết vấn đề này, một ủy ban được lập ra để tìm giải pháp hòa giải.

Sự thỏa hiệp đạt được là Hạ viện sẽ đại diện theo số dân, còn Thượng viện sẽ đại diện bình đẳng. Nhờ thỏa hiệp này và nhờ tư tưởng thỏa hiệp của hai phe mà Hội nghị cuối cùng đã thu được kết quả như mong muốn. Bedford là một trong những đại biểu các bang nhỏ đấu tranh mạnh mẽ nhất cho quyền bình đẳng tại Thượng viện.

Ngài PINKNEY: Sự bình đẳng phiếu bầu tại Thượng viện là điều không thể chấp nhận được. Nhưng đồng thời, ông thừa nhận rằng các bang lớn sẽ thiên vị các công dân của mình và ưu đãi họ trong cuộc bỏ phiếu. Các bang lớn có thể tìm được những điểm tương đồng về lợi ích thương mại và thúc đẩy những Hiệp ước ưu đãi họ. Có sự khác biệt chủ yếu giữa các lợi ích miền Bắc và miền Nam.

Tiểu bang Bắc và Nam Carolina và Georgia có nền văn hóa lúa gạo và chàm (Rice và Indigo) có lợi ích khác biệt và có thể bị hy sinh. Vậy khi đó phải ngăn chặn các bang lớn áp đặt chính quyền trung ương ban hành những biện pháp có lợi cho họ thế nào, nếu họ không đếm xỉa đến ý muốn của các bang nhỏ? Chỉ nên cho phép họ có ưu thế về phiếu bầu chứ không phải một tỷ lệ đầy đủ với qui mô dân số.

Ông đặc biệt lo ngại về kết quả của Hội nghị này, coi đó như cơ hội cuối cùng cho cuộc thử nghiệm. Trước đây, mọi nỗ lực nhằm sửa đổi hệ thống Liên bang của Quốc hội Hợp bang hầu như đều thất bại. Không có giải pháp nào ngăn chặn được sự giải tán Hợp bang ngoài việc triệu tập Hội nghị này. Ông rất lo ngại về những hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra nếu liên minh tan rã. Ông đề xuất chia các tiểu bang thành các hạng để bổ nhiệm số lượng Thượng nghị sĩ tương ứng.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN VÀ SỞ HỮU: CON DÂU ĐÃ LY HÔN CHIẾM ĐOẠT NHÀ HƯƠNG HỎA BÊN NHÀ CHỒNG

NGUYỄN HIẾU

Mặc dù không có di chúc thừa kế tài sản của cha mẹ để lại và không được sự đồng ý của năm anh chị em trong gia đình, thế nhưng từ năm 2001 ông Lâm Ngọc Khanh và bà Lưu Thị Ái Liên vẫn có thể “hoàn tất thủ tục” xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở (CNQSHN & QSDĐƠ) để chiếm đoạt căn nhà hương hoả số 67/3 đường Hà Nội, ấp Trung Chánh 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn.

Bà Liên và ông Khanh đã chấm dứt quan hệ vợ chồng (có quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của TAND huyện Hóc Môn ngày 22-6-2000) nhưng hai người vẫn được đứng tên chủ sở hữu nhà và đất ở do UBND huyện Hóc Môn cấp ngày 6-9-2001). Sau ngày ông Khanh mất, bà Lưu Thị Ái Liên treo bảng bán căn nhà, từ đó đã phát sinh tranh chấp…

Bà Lâm Thị Bích Liên cho biết, căn nhà này là tài sản của cha mẹ bà là ông Lâm Văn Khoa và bà Phạm Thị Chai lúc sinh thời đã tạo lập. Năm 1988, cả cha và mẹ bà lần lượt qua đời, không để lại di chúc. Sau đó, do điều kiện mưu sinh lập nghiệp ở xa, năm anh chị em trong gia đình nhất trí giao căn nhà trên cho vợ chồng ông Khanh ở và lo việc thờ cúng cha mẹ. Đến ngày 22-6-2007, mọi người giật mình khi hay tin bà Lưu Thị Ái Liên đang rao bán nhà. Tiếp theo đó, mọi người phát hiện việc ly hôn giữa ông Khanh và bà Liên đã xảy ra từ năm 2000, cũng như việc họ giả mạo chữ ký của mẹ và năm anh chị em trong gia đình để chiếm đoạt căn nhà… Vụ kiện đã được toà án hai cấp sơ và phúc thẩm thụ lý xét xử.

Continue reading

TOÀ CÔNG LÝ QUỐC TẾ và tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Đông Nam Á

ANNA LOUISE STRACHAN  (Biên dịch: Phạm Văn Mỹ)

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang hết sức nỗ lực trong việc xây dựng Cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015. Tuy nhiên, giữa các quốc gia trong khối vẫn chưa giải quyết dứt điểm các tranh chấp liên quan tới vấn đề biên giới.

Các nước Đông Nam Á đã từng ba lần đưa nhau ra kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Vụ kiện đầu tiên giữa Campuchia và Thái Lan diễn ra năm 1959 liên quan tới Ngôi đền Preah Vihear. Năm 1998, Indonesia và Malaysia cũng đã đệ đơn kiện ra ICJ nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với hai hòn đảo trên biển Celebes là Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Tiếp sau đó, năm 2003, Malaysia và Singapore cùng yêu cầu Tòa án này giúp xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge.

Bài viết này sẽ xem xét các vụ kiện trên một cách chi tiết hơn để chứng tỏ ICJ là một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á. ICJ là một trong 6 cơ quan chủ chốt nhất và hoạt động như một cơ quan tư pháp cao nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc. Với vai trò là một tòa án quốc tế, ICJ có thẩm quyền ra các phán quyết quyết định các tranh chấp được đem ra xét xử tại tòa, và làm công tác cố vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan theo yêu cầu của các tổ chức như Liên hợp quốc. 15 thẩm phán của ICJ được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có nhiệm kỳ 9 năm. Quá trình bổ nhiệm được sắp đặt với mục đích hạn chế những áp lực chính trị trong việc lựa chọn các thẩm phán. Tuy vậy, một trong những chỉ trích nhằm vào Tòa án này chính là việc trên thực tế vẫn diễn ra những hành động mang tính chính trị hóa.

Khu vực Đông Nam Á hiện đang tồn tại một số vụ tranh chấp lãnh thổ, và việc giải quyết các tranh chấp này sẽ tạo lên những tiến bộ lớn đối với tiến trình hội nhập khu vực. Bài viết này sẽ chứng tỏ Tòa án Công lý quốc tế có tiềm năng đóng một vai trò lớn hơn rất nhiều nữa trong việc giải quyết các tranh chấp này và những hành động cần được thực hiện để gia tăng tín nhiệm của Tòa án đối với các quốc gia Đông Nam Á. Một điều quan trọng là cần phải lưu ý rằng Trung Quốc cũng liên quan tới một số vụ tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nổi bật và đáng quan tâm nhất trong số đó là tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, mặc dù cũng có nhiều vấn đề liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Trung Quốc với Lào.

Continue reading

TOÀ CÔNG LÝ QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

ANNA LOUISE STRACHAN  (Biên dịch: Phạm Văn Mỹ)

ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang hết sức nỗ lực trong việc xây dựng Cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015. Tuy nhiên, giữa các quốc gia trong khối vẫn chưa giải quyết dứt điểm các tranh chấp liên quan tới vấn đề biên giới.

Các nước Đông Nam Á đã từng ba lần đưa nhau ra kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Vụ kiện đầu tiên giữa Campuchia và Thái Lan diễn ra năm 1959 liên quan tới Ngôi đền Preah Vihear. Năm 1998, Indonesia và Malaysia cũng đã đệ đơn kiện ra ICJ nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với hai hòn đảo trên biển Celebes là Pulau Sipadan và Pulau Ligitan. Tiếp sau đó, năm 2003, Malaysia và Singapore cùng yêu cầu Tòa án này giúp xử lý tranh chấp lãnh thổ ở Pedra Brance (thường được biết đến với tên gọi là Pulau Batu Puteh ở Malaysia), Middle Rocks và South Ledge.

Bài viết này sẽ xem xét các vụ kiện trên một cách chi tiết hơn để chứng tỏ ICJ là một cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Đông Nam Á. ICJ là một trong 6 cơ quan chủ chốt nhất và hoạt động như một cơ quan tư pháp cao nhất của tổ chức Liên Hợp Quốc. Với vai trò là một tòa án quốc tế, ICJ có thẩm quyền ra các phán quyết quyết định các tranh chấp được đem ra xét xử tại tòa, và làm công tác cố vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan theo yêu cầu của các tổ chức như Liên hợp quốc. 15 thẩm phán của ICJ được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có nhiệm kỳ 9 năm. Quá trình bổ nhiệm được sắp đặt với mục đích hạn chế những áp lực chính trị trong việc lựa chọn các thẩm phán. Tuy vậy, một trong những chỉ trích nhằm vào Tòa án này chính là việc trên thực tế vẫn diễn ra những hành động mang tính chính trị hóa.

Khu vực Đông Nam Á hiện đang tồn tại một số vụ tranh chấp lãnh thổ, và việc giải quyết các tranh chấp này sẽ tạo lên những tiến bộ lớn đối với tiến trình hội nhập khu vực. Bài viết này sẽ chứng tỏ Tòa án Công lý quốc tế có tiềm năng đóng một vai trò lớn hơn rất nhiều nữa trong việc giải quyết các tranh chấp này và những hành động cần được thực hiện để gia tăng tín nhiệm của Tòa án đối với các quốc gia Đông Nam Á. Một điều quan trọng là cần phải lưu ý rằng Trung Quốc cũng liên quan tới một số vụ tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nổi bật và đáng quan tâm nhất trong số đó là tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, mặc dù cũng có nhiều vấn đề liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với Việt Nam và Trung Quốc với Lào.

Continue reading