PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 26/10/2004 Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, trước đó chúng ta đã tham gia Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, như vậy chúng ta đã rất nỗ lực trong công cuộc hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ. Từ 01.7.2006, Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, nhưng tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì chưa có điểm dừng, mà ngược lại hình như vẫn gia tăng.

Trong hội thảo “Bảo vệ bản quyền ở Việt Nam” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia cũng đã đề cập đến quyền tác giả trong ngành công nghệ thông tin. Theo đánh giá, đây là một trong hai vấn đề vi phạm bản quyền tác giả phổ biến nhất hiện nay. Việt Nam là một trong ba nước (cùng Trung Quốc và Indonesia) có hành vi xâm phạm bản quyền phần mềm lớn nhất thế giới, theo số liệu thống kê của Liên minh Doanh nghiệp Phần mềm, tỷ lệ xâm phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam là 92%(1).

Ngay trong cuộc Hội thảo khoa học này, Quý vị có chắc chắn rằng máy tính xách tay của mình (mặc dù đã sử dụng phần mềm điều hành có bản quyền) nếu có sử dụng thêm Từ điển mtd thì Quý vị đã trả tiền bản quyền cho Công ty phần mềm Lạc Việt chưa? Theo Lạc Việt ước tính, hiện nay có khoảng 1,5 triệu máy tính dùng từ điển mtd không có bản quyền. Với giá của mỗi bản mtd là 10 USD, Lạc Việt đã bị thiệt hại khoảng 15 triệu USD! Tình trạng đó là nguyên nhân khiến thị trường phần mềm ở Việt Nam không thể phát triển được.(2)

Chúng ta không thể đổ lỗi do thu nhập thấp nên người sử dụng buộc phải vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hãy nhìn sang các quốc gia khác cùng châu lục, mức sống của người dân Ấn Độ đâu có cao, nhưng Ấn Độ đã trở thành một trong các cường quốc hàng đầu thế giới về công nghiệp phần mềm.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đạt hiệu quả chưa cao, nhưng bài tham luận này chỉ tập trung phân tích ở góc độ phân cấp quản lý.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 101/2009/NĐ-CP NGÀY 5 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ THÍ ĐIỂM THÀNH LẬP, TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2010;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục tiêu, yêu cầu thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước

1. Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Giữ vai trò bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân; ứng dụng công nghệ cao; tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế.

3. Thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác.

4. Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn.

5. Tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về:

1. Thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước;

2. Tổ chức, hoạt động, quản lý, điều hành trong tập đoàn kinh tế nhà nước;

Continue reading

RỦI RO CỦA HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT NHÀ ĐẤT

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp

Những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất thường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Khi nào lập hợp đồng ủy quyền?

Vì nhiều lý do, thông thường là bên mua nhà chưa đủ điều kiện được sở hữu nhà tại Việt Nam hoặc ngôi nhà chưa đủ điều kiện để bán theo điều 91 Luật Nhà ở 2005 (phải có sổ hồng/sổ đỏ và sắp tới đây là sổ hồng mới) hoặc để trốn thuế, nhu cầu mua bán “vượt qua pháp luật” đã thôi thúc các bên tạo ra những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất (sau đây gọi chung là bất động sản). Cụ thể, các bên sẽ giao kết hai hợp đồng: hợp đồng mua bán bất động sản (trong một số trường hợp đặc thù là hợp đồng vay) và hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng mua bán ghi nhận ý chí đích thực của các bên trong giao dịch mua bán như đặc điểm bất động sản, giá bán, đặt cọc, thanh toán…

Tuy nhiên, khác với giao dịch mua bán bất động sản theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán này không được công chứng và việc chuyển nhượng không được đăng ký vì những lý do như đã nêu trên.

Để hợp pháp hóa việc chuyển giao bất động sản, các bên lập song song với hợp đồng mua bán một hợp đồng ủy quyền trong đó, bên bán giữ vai bên ủy quyền, ủy quyền cho bên mua – giữ vai trò bên được ủy quyền – toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất động sản. Hợp đồng ủy quyền này sẽ giúp các bên chuyển giao “quyền sở hữu” từ bên bán (bên ủy quyền) sang bên mua (bên được ủy quyền) vì bằng hợp đồng ủy quyền bên được ủy quyền đã hưởng mọi quyền của một chủ sở hữu tài sản theo pháp luật Việt Nam (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản). Để cho chắc chắn việc ghi nhận “chuyển quyền sở hữu” này, các bên thực hiện công chứng hợp đồng ủy quyền tại phòng công chứng hoặc chứng thực tại ủy ban nhân dân xã, phường.

Continue reading

MỘT SỐ QUAN NIỆM CỔ ĐIỂN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

TRẦN HỮU QUANG

Trong lịch sử sinh thành của khái niệm "xã hội dân sự" nơi các nhà tư tưởng cổ điển Tây phương, người ta có thể nhận thấy rằng diễn trình biến chuyển của khái niệm này thực ra biểu hiện những sự thay đổi trong các quan điểm lý thuyết về các mối quan hệ giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội.

Quá trình biến chuyển này xét về đại thể đã trải qua bốn quan niệm khác nhau: từ (1) quan niệm đồng hóa xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia qua Thomas Hobbes, John Locke và Jean-Jacques Rousseau vào các thế kỷ XVI-XVIII, (2) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị trường với Bernard Mandeville, Adam Ferguson và Adam Smith vào các thế kỷ XVII-XIX, (3) quan niệm xã hội dân sự tách khỏi nhà nước với Immanuel Kant, Benjamin Constant vào các thế kỷ XVIII-XIX, đến (4) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị dân hay xã hội tư sản với Georg Hegel, Karl Marx, Friedrich Engels và Antonio Gramsci vào các thế kỷ XIX-XX.

Trong tiếng Việt, các cụm từ "xã hội dân sự" và "xã hội công dân" thường được dùng để biểu thị khái niệm civil society trong tiếng Anh, société civile trong tiếng Pháp, hay bürgerliche Gesellschaft trong tiếng Đức.

Thực ra, tính từ civil (dân sự, hay dân chính, hay thuộc về lĩnh vực công dân) có thể mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo văn cảnh sử dụng. Nó có thể được hiểu là đối lập với cái gì thuộc về tôn giáo (religious), đối lập với lĩnh vực quân sự(military), hay trong luật học là đối lập với hình sự (penal) haythương mại (commercial), trong chiến tranh thì được hiểu lànội chiến (civil war) đối lập với chiến tranh với ngoại bang, hay còn có thể hiểu theo nghĩa là văn minh, lịch sự (cùng gốc với chữ civilized) đối lập với cái gì hoang dã, thô lỗ, và cuối cùng cũng có nghĩa là lĩnh vực dân sự đối lập với lĩnh vực chính trị(political).

Continue reading

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – Từ kinh nghiệm của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Với tư cách là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại, Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vấn đề bảo hộ SHTT đang đặt ra ngày càng gay gắt và cấp bách. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá là quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao, là quốc gia đứng đầu thế giới về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (tới 92%).

Có thể điểm qua sự vi phạm trong lĩnh vực quyền tác giả, ví dụ cuốn sách “Thế giới phẳng” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vừa ra đời ít lâu, ngay lập tức trên thị trường đã xuất hiện sách lậu. Trước đó, những bộ sách như: “Hạt giống tâm hồn”, “Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé”, “Hồi ký về những cô gái điếm buồn của tôi”, “Phong thủy toàn tập”… do First News phát hành; “Cha giàu, cha nghèo”, “Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi” … do Nhà xuất bản Trẻ phát hành cũng bị in lậu và đã làm cho các Nhà xuất bản điêu đứng. Việc in lậu sách dường như càng lúc càng khó kiểm soát. Trường hợp sinh viên Nguyễn Trung Kiên đạo bức ảnh “Nụ hôn của gió” của tác giả Trần Thế Long chưa nguôi, đã đến bức “Hà Nội – cái nhìn hôm nay” của Vũ Đức Toàn lấy tới 99% “cảm hứng” từ bức “Domingo de Delf” của danh họa Argentina Torres Aguero.

Tiếp theo là sự vi phạm trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp cũng nghiêm trọng không kém, các cơ quan hữu quan nhận định: “Tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn mác vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành vấn đề bức xúc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh. Mỗi năm, Cục quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000 vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó tình trạng mượn nhãn hiệu có tiếng chiếm phần nhiều”. [2]

Trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, sự non kém của Tòa sơ thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong khi xét xử vụ án ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả đã khiến dư luận không khỏi băn khoăn, báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nhưng rất may ngày 14.6.2007 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao đã ra phán quyết đúng pháp luật, hợp lòng người.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, đạt yêu cầu của Tổ chức Thương mại thế giới mà tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT của công chúng và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức độ cao? Một trong những giả thuyết để trả lời cho câu hỏi trên là: việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam chưa được coi trọng đúng mức, yêu cầu đào tạo nhân lực SHTT của Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và cấp bách, nhưng thực tế việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT như một chuyên ngành trong các trường đại học, cao đẳng lại chưa được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện còn quá chậm. [3] Continue reading

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – TỪ KINH NGHIỆM CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Với tư cách là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại, Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vấn đề bảo hộ SHTT đang đặt ra ngày càng gay gắt và cấp bách. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá là quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao, là quốc gia đứng đầu thế giới về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (tới 92%).

Có thể điểm qua sự vi phạm trong lĩnh vực quyền tác giả, ví dụ cuốn sách “Thế giới phẳng” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vừa ra đời ít lâu, ngay lập tức trên thị trường đã xuất hiện sách lậu. Trước đó, những bộ sách như: “Hạt giống tâm hồn”, “Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé”, “Hồi ký về những cô gái điếm buồn của tôi”, “Phong thủy toàn tập”… do First News phát hành; “Cha giàu, cha nghèo”, “Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi” … do Nhà xuất bản Trẻ phát hành cũng bị in lậu và đã làm cho các Nhà xuất bản điêu đứng. Việc in lậu sách dường như càng lúc càng khó kiểm soát. Trường hợp sinh viên Nguyễn Trung Kiên đạo bức ảnh “Nụ hôn của gió” của tác giả Trần Thế Long chưa nguôi, đã đến bức “Hà Nội – cái nhìn hôm nay” của Vũ Đức Toàn lấy tới 99% “cảm hứng” từ bức “Domingo de Delf” của danh họa Argentina Torres Aguero.

Tiếp theo là sự vi phạm trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp cũng nghiêm trọng không kém, các cơ quan hữu quan nhận định: “Tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn mác vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành vấn đề bức xúc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh. Mỗi năm, Cục quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000 vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó tình trạng mượn nhãn hiệu có tiếng chiếm phần nhiều”. [2]

Trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, sự non kém của Tòa sơ thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong khi xét xử vụ án ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả đã khiến dư luận không khỏi băn khoăn, báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nhưng rất may ngày 14.6.2007 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao đã ra phán quyết đúng pháp luật, hợp lòng người.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, đạt yêu cầu của Tổ chức Thương mại thế giới mà tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT của công chúng và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức độ cao? Một trong những giả thuyết để trả lời cho câu hỏi trên là: việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam chưa được coi trọng đúng mức, yêu cầu đào tạo nhân lực SHTT của Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và cấp bách, nhưng thực tế việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT như một chuyên ngành trong các trường đại học, cao đẳng lại chưa được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện còn quá chậm. [3] Continue reading

VIỄN CẢNH VIỆN KIỂM SÁT VIỆT NAM

BÙI NGỌC SƠN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở Việt Nam, từ khi chế độ XHCN được xác lập chính thức, Viện kiểm sát mới ra đời.

1. Kiểm sát chung thuộc bản chất của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở Việt Nam, từ khi chế độ XHCN được xác lập chính thức, Viện kiểm sát mới ra đời. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 không phải là Hiến pháp XHCN nên không có thiết chế Viện kiểm sát. Viện kiểm sát ở Việt Nam chính thức được xác lập trong bản Hiến pháp năm 1959 và được duy trì trong các Hiến pháp tiếp theo (1980,1992), và có sự điều chỉnh về chức năng.

Vấn đề đặt ra là, tại sao trong Nhà nước XHCN lại tồn tại thiết chế Viện kiểm sát? Ngày nay, người ta giải thích sự hiện diện của Viện kiểm sát gắn liền với hai nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức và vận hành quyền lực ở các Nhà nước XHCN: tập quyền XHCN và pháp chế XHCN.

Nguyên tắc tập quyền XHCN được C. Mác chỉ ra đầu tiên trên cơ sở nghiên cứu Công xã Paris và sau đó, được Lênin hoàn thiện trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (1). Cốt lõi của nguyên tắc này là quyền lực nhà nước được tổ chức tập trung vào cơ quan đại diện tối cao của nhân dân (được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước). Sự tập trung quyền lực về thiết chế đại diện này là điểm chính yếu bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước: quyền lực có một điểm hội tụ (không phải phân tán như trong chế độ phân quyền), có sự trật tự trong hệ cấp quyền lực (không phải là các ngành quyền lực bình đẳng nhau như trong chế độ phân quyền). Sự hội tụ và sự trật tự của quyền lực sẽ làm cho quyền lực có một điểm thống nhất và không có sự kìm chế, đối trọng lẫn nhau, dẫn đến triệt tiêu nhau của các định chế quyền lực.

Continue reading

BẢO VỆ CA SĨ HAY NHÀ ĐẦU TƯ?

LS. LÊ HOÀI DƯƠNG – Văn phòng Luật sư Lê & Lê

Ở các nước, việc khai thác qua mạng điện thoại di động nhạc chuông/nhạc chờ, hình ảnh ca sĩ… đang mang lại những khoản tiền rất lớn đồng thời những tranh chấp giữa ca sĩ với các công ty sản xuất băng đĩa cũng diễn ra thường xuyên. Ở Việt Nam rồi cũng sẽ như vậy, nhất là khi cả luật pháp lẫn kinh nghiệm thực tế của chúng ta trong lĩnh vực phức tạp này còn nhiều hạn chế.

Theo báo điện tử Pháp luật TPHCM, mới đây, ca sĩ Mỹ Tâm đã yêu cầu nhiều công ty viễn thông và hàng chục mạng nhạc số không được kinh doanh các bản nhạc chuông, nhạc chờ có sử dụng các bài hát do ca sĩ thể hiện hoặc phải trả ca sĩ tiền về quyền liên quan.

Về yêu cầu này, một số công ty cho rằng họ không phải trả tiền cho người biểu diễn mà chỉ trả cho hãng sản xuất băng đĩa và họ đã trả qua Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV).

Mỹ Tâm khẳng định chưa bao giờ ký hợp đồng chuyển giao quyền của người biểu diễn cho bất cứ hãng băng đĩa nào. Vì vậy, việc một số hãng băng đĩa nói rằng họ có quyền sở hữu các cuộc biểu diễn của ca sĩ là sai pháp luật.

Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng, căn cứ vào điều 29.1 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), toàn bộ các bản ghi âm/ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất, còn Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân, vì các bản ghi âm/ghi hình đều do họ đầu tư, ca sĩ chỉ biểu diễn để ghi âm/ghi hình và đã nhận đủ tiền thù lao.

Ở đây sẽ không bàn đến vấn đề ai đúng ai sai, mà chỉ xin nêu vài ý kiến về một quy định pháp lý quan trọng trong các vụ tranh chấp kiểu này – điều 29.1 Luật SHTT.

Continue reading