CÔNG VĂN SỐ 2544/BXD-QLN NGÀY 19 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ THỰC HIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

– Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Phát triển mô hình nhà chung cư cao tầng là xu thế tất yếu trong phát triển nhà ở tại các đô thị. Việc tổ chức quản lý vận hành nhà chung cư của các chủ đầu tư ở địa phương bước đầu đã cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho các cư dân sống trong nhà chung cư, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh sạch sẽ với chi phí phù hợp, từ đó thu hút được các tầng lớp dân cư đô thị vào sống trong các nhà chung cư cao tầng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn có những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý sử dụng nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm giải quyết kịp thời. Thời gian vừa qua, ở một số địa phương đã xảy ra cháy các căn hộ nhà cahung cư và một số vấn đề tồn tại liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà chung cư.

Để công tác quản lý sử dụng nhà chung cư cao tầng đi vào nền nếp, góp phần xây dựng nếp sống văn minh đô thị, Bộ Xây dựng đề nghị Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng, khẩn trương thực hiện một số việc sau:

1. Hiện nay, một số căn hộ nhà chung cư được chủ sở hữu chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn. Pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái mục đích quy định. Ngoài ra, việc sử dụng văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh xen lẫn với nhà ở gây xáo trộn, mất trật tự và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của các hộ dân sống ở các nhà chung cư. Chính quyền địa phương là nơi đã cho phép các chủ đầu tư phát triển nhà chung cư cần kiểm tra, hướng dẫn các chủ đầu tư dự án, các hộ dân sống trong nhà chung cư làm tốt công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, đảm bảo quyền lợi của cả chủ đầu tư và các hộ dân. Trường hợp nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp văn phòng không đảm bảo điều kiện làm việc theo Quy chuẩn xây dựng và Tiêu chuẩn quy định thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

2. Công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm đặc biệt thông qua việc kiểm tra định kỳ, hướng dẫn cho các chủ đầu tư, người dân sống trong các khu nhà chung cư chủ động phòng cháy, chữa cháy tại chỗ. Các nhà chung cư cần được thiết kế và bố trí đầy đủ những trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy theo Tiêu chuẩn TCVN 2622-1995 – Phòng cháy, chống cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế. Các cán bộ, công nhân trực tiếp và gián tiếp tham gia quản lý vận hành nhà chung cư đều phải được tập huấn và tham gia diễn tập định kỳ công tác phòng cháy, chữa cháy tại các khu nhà chung cư. Ngoài ra, các địa phương cần có hình thức thiết thực tuyên truyền, cổ động để các hộ dân tự trang bị những kiến thức cơ bản trong phòng cháy, chữa cháy tại chỗ, chủ động tham gia quản lý nhà chung cư, góp phần tạo dựng môi trường sống đô thị văn minh, hiện đại.

Công tác quản lý sử dụng nhà chung cư đảm bảo điều kiện an toàn cho cư dân, đặc biệt là công tác phòng, chống cháy nổ tại các khu chung cư có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mô hình nhà chung cư cũng như sự phát triển bền vững của đô thị. Vì vậy, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương quan tâm, khẩn trương triển khai các công tác nêu trên, đảm bảo các khu nhà chung cư được quản lý vận hành an toàn, bền vững và lâu dài./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

GS. VIỆN SĨ. NGUYỄN DUY QUÝ – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Làm rõ quan điểm mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về Nhà nước pháp quyền; 2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền với tư cách một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan đối với Việt Nam hiện nay; 3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thể hiện được các giá trị phổ biến, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù; 4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ Đại hội lần thứ IX, khi thông qua việc sửa đổi một số điều trong Hiến pháp năm 1992, Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về vấn đề này, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”(1).

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại một cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn hoạt động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề mới đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước.

1. Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan trọng: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.

Continue reading

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

GS. VIỆN SĨ. NGUYỄN DUY QUÝ – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Làm rõ quan điểm mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về Nhà nước pháp quyền; 2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền với tư cách một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan đối với Việt Nam hiện nay; 3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thể hiện được các giá trị phổ biến, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù; 4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ Đại hội lần thứ IX, khi thông qua việc sửa đổi một số điều trong Hiến pháp năm 1992, Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về vấn đề này, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”(1).

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại một cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn hoạt động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề mới đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước.

1. Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan trọng: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.

Continue reading

THỰC TIỄN TUYÊN BỐ MỘT CÁ NHÂN MẤT TÍCH: BỊ TRUY NÃ NÊN KHÔNG THỂ XÁC ĐỊNH MẤT TÍCH?

HOÀNG YẾN

Nhiều trường hợp chồng (vợ) đang bị truy nã, phía liên quan xin tòa tuyên bố mất tích để ly hôn, tòa từ chối, đương sự không biết làm sao để xây dựng hạnh phúc mới.

Mới đây, bà M. đã gửi đơn ra TAND quận X (TP.HCM) yêu cầu tuyên bố người chồng của bà mất tích. Theo bà, trước đây chồng bà cùng một số người khác thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản, bị công an truy bắt. Sợ phải vào tù, chồng bà đã gom sạch tài sản quý giá trong nhà rồi bỏ đi biệt tăm. Gần năm năm nay, chồng bà không hề liên lạc gì với gia đình. Hiện chồng bà vẫn đang bị truy nã.

Mòn mỏi chờ “một nửa”

Nhận được đơn của bà M., sau khi nghiên cứu, TAND quận X đã trả lại đơn, từ chối thụ lý. Theo tòa, chồng bà M. thuộc trường hợp trốn lệnh truy nã của công an chứ không phải là mất tích thông thường nên không thể giải quyết yêu cầu của bà M. được.

Bà M. đã rất bức xúc vì nếu tòa không tuyên bố chồng bà mất tích, bà sẽ không thể ly hôn vắng mặt người chồng được. Trong khi đó, người chồng cứ biền biệt không tung tích, bà muốn làm lại cuộc đời, muốn xây dựng hạnh phúc mới cho mình mà không biết phải làm sao.

Trường hợp như của bà M. không phải là hiếm. Năm 2008, TAND một huyện ở tỉnh Thái Nguyên cũng thụ lý, giải quyết vụ anh Đ. yêu cầu tuyên bố người vợ mất tích. TAND huyện này đã tiến hành đầy đủ các thủ tục nhắn tin tìm kiếm vợ anh Đ. trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hết thời hạn bốn tháng, tòa dự kiến mở phiên xử để xét yêu cầu của anh Đ.

Tuy nhiên, ngay trước ngày xử, tòa đã nhận được quyết định truy nã vợ anh Đ. (có từ hai năm trước) của công an tỉnh. Lúc đó tòa mới biết rằng vợ anh Đ. đã bỏ đi khỏi địa phương để trốn thi hành một bản án hình sự tám năm tù. Lúng túng, tòa không biết xử sao nên đành đình chỉ vụ kiện.

Continue reading

Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

ĐẶNG VĂN CHIẾN – Phó Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội

Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật là một nguyên tắc, một yêu cầu quan trọng trong quy trình lập pháp.

1. Căn cứ đánh giá hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước

Thứ nhất, về tính hợp hiến. Đây là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật. Tính hợp hiến đòi hỏi tất cả các quy phạm pháp luật thuộc bất kỳ một ngành luật nào trong hệ thống pháp luật cũng không được trái hoặc mâu thuẫn với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc, hiệu lực pháp lý của văn bản, tạo thành một hệ thống thống nhất về tên gọi với thứ bậc cao thấp khác nhau theo quy định của Hiến pháp. Các đạo luật, pháp lệnh trái với Hiến pháp sẽ bị đình chỉ, bãi bỏ. Tính hợp hiến không chỉ được xác định trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà còn trên cơ sở tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc của Hiến pháp.

Thứ hai, về tính hợp pháp. Thuật ngữ này khi được sử dụng cùng với thuật ngữ “tính hợp hiến” không bao hàm ý nghĩa về sự phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung (trong đó có Hiến pháp) mà chỉ đề cập đến sự phù hợp với các quy định của các đạo luật và văn bản dưới luật. Theo nghĩa như vậy, để bảo đảm tính hợp pháp, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định. Bên cạnh đó, hình thức của văn bản phải phù hợp với quy định về kỹ thuật văn bản.

Thứ ba, về tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Đây là phạm trù có liên hệ mật thiết với hai phạm trù được trình bày trên (là tính hợp hiến và tính hợp pháp), bởi lẽ, khi văn bản pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp thì giữa chúng đã đạt được sự thống nhất nhất định, cả về nội dung và hình thức.

Continue reading

BẢO ĐẢM TÍNH HỢP HIẾN, HỢP PHÁP VÀ TÍNH THỐNG NHẤT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

ĐẶNG VĂN CHIẾN – Phó Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội

Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật là một nguyên tắc, một yêu cầu quan trọng trong quy trình lập pháp.

1. Căn cứ đánh giá hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước

Thứ nhất, về tính hợp hiến. Đây là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật. Tính hợp hiến đòi hỏi tất cả các quy phạm pháp luật thuộc bất kỳ một ngành luật nào trong hệ thống pháp luật cũng không được trái hoặc mâu thuẫn với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc, hiệu lực pháp lý của văn bản, tạo thành một hệ thống thống nhất về tên gọi với thứ bậc cao thấp khác nhau theo quy định của Hiến pháp. Các đạo luật, pháp lệnh trái với Hiến pháp sẽ bị đình chỉ, bãi bỏ. Tính hợp hiến không chỉ được xác định trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà còn trên cơ sở tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc của Hiến pháp.

Thứ hai, về tính hợp pháp. Thuật ngữ này khi được sử dụng cùng với thuật ngữ “tính hợp hiến” không bao hàm ý nghĩa về sự phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung (trong đó có Hiến pháp) mà chỉ đề cập đến sự phù hợp với các quy định của các đạo luật và văn bản dưới luật. Theo nghĩa như vậy, để bảo đảm tính hợp pháp, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định. Bên cạnh đó, hình thức của văn bản phải phù hợp với quy định về kỹ thuật văn bản.

Thứ ba, về tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Đây là phạm trù có liên hệ mật thiết với hai phạm trù được trình bày trên (là tính hợp hiến và tính hợp pháp), bởi lẽ, khi văn bản pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp thì giữa chúng đã đạt được sự thống nhất nhất định, cả về nội dung và hình thức.

Continue reading

KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN: CẦN THIẾT PHẢI HIỂU RÕ HỢP ĐỒNG

KHÁNH NGỌC

Các doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào hoạt động kinh doanh bất động sản cần phải hiểu rõ những quy định của pháp luật về hợp đồng đối với loại hình kinh doanh này cũng như các giao dịch bất động sản cần thiết phải xác lập thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật để tránh rủi ro sau này.

Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản hiện hành, hoạt động kinh doanh bất động sản có hai loại là kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản. Theo đó, kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh dịch vụ bất động sản là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất động sản, bao gồm các dịch vụ môi giới bất động sản, định giá bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, đấu giá bất động sản, quảng cáo bất động sản, quản lý bất động sản.

Các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản

Hợp đồng kinh doanh bất động sản bao gồm: Hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng thuê bất động sản; Hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng.

Hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản bao gồm: Hợp đồng môi giới bất động sản; Hợp đồng định giá bất động sản; Hợp đồng tư vấn bất động sản; Hợp đồng đấu giá bất động sản; Hợp đồng quảng cáo bất động sản; Hợp đồng quản lý bất động sản.

Hợp đồng kinh doanh bất động sản có nhiều đặc điểm, nhưng những đặc điểm sau là những đặc điểm chủ yếu: Hợp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản phải được lập thành văn bản, các bên được tự do, tự nguyện thoả thuận với nhau về giá cả, phương thức thanh toán, thời điểm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ; Hợp đồng kinh doanh bất động sản phải đăng ký với cơ quan Nhà nước…

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 8: BẦU CHỌN VÀ NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 17 và 19 tháng Bảy năm 1787

Tổng thống là người đứng đầu nhánh hành pháp và có quyền lực vô cùng lớn. Vì thế, những qui định về việc chọn lựa Tổng thống là rất quan trọng. Các đại biểu đều chia thành hai phe. Một bên muốn cho dân chúng quyền bầu chọn, còn bên kia muốn các cơ quan lập pháp tiểu bang bầu chọn.

Nhưng đây là vấn đề rất phức tạp, trong đó, điều mấu chốt là làm thế nào thiết lập được một Tổng thống mạnh nhưng tránh được các nguy cơ suy thoái thành nền độc tài hay chế độ quân chủ, nên Hội nghị dành rất nhiều thời gian thảo luận về mô hình Tổng thống và mãi đến khi gần kết thúc Hội nghị, chi tiết điều khoản này mới được quyết định xong.

Đề xuất thứ 9: "nhánh hành pháp quốc gia sẽ gồm một người duy nhất do cơ quan lập pháp quốc gia bầu chọn" được đưa ra thảo luận.

Ngài GOUVERNEUR MORRIS: Kịch liệt phản đối. Tổng thống sẽ chỉ là tay sai của cơ quan lập pháp, nếu do cơ quan này bổ nhiệm và buộc tội. Tổng thống cần phải được dân chúng, những người chủ thực sự của đất nước này bầu ra. Cách bầu chọn này cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng như việc bầu chọn Thống đốc ở New York và Connecticut, những khó khăn đó có thể vượt qua được.

Nếu dân chúng có quyền bầu chọn, họ sẽ không bao giờ nhầm lẫn trong việc ủng hộ những cá nhân xuất sắc, những người có uy tín trên khắp lục địa. Nếu cơ quan lập pháp bầu chọn, đó sẽ là công việc của những mưu đồ, bè đảng và phe phái, sẽ giống như cuộc bầu cử Giáo hoàng bởi cuộc họp của các Hồng y Giáo chủ, khi tư cách và giá trị thật sự của cá nhân ít khi là nguyên nhân chủ yếu để bổ nhiệm. Ông đề nghị bỏ chữ "Cơ quan lập pháp quốc gia" và thay bằng "những công dân của Hợp chúng quốc".

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU: CON LY HÔN, CHA MẸ ĐÒI NHÀ

HOÀNG LAM

Đứng tên chủ quyền nhưng con rể vẫn thua kiện. Mới đây, anh T. nộp đơn xin ly hôn vợ. Tài sản duy nhất họ tranh chấp là căn nhà ở phường Tân Phong, quận 7, TP.HCM. Giấy hồng cấp năm 2007 ghi tên vợ chồng anh T. là đồng sở hữu.

Anh T. kể cha mẹ vợ mua lô đất tái định cư của bà N. vào năm 1997, sau đó xây lên một căn nhà cấp bốn. Năm 1998, vợ chồng anh mua lại căn nhà này với giá 100 triệu đồng. Vì bên bán là cha mẹ vợ nên anh không yêu cầu lập bất cứ giấy tờ gì liên quan đến việc mua bán.

Anh T. muốn chia đôi căn nhà vì là tài sản chung của vợ chồng nhưng vợ anh không đồng ý. Theo người vợ, thu nhập của chồng không ổn định, bản thân chị chỉ là công nhân nên lấy đâu ra 100 triệu đồng để mua nhà. Chị xác định vợ chồng mình chỉ ở nhờ nhà của cha mẹ, giờ cha mẹ đòi thì phải trả lại.

Lý giải việc giấy hồng ghi tên con gái và con rể là đồng sở hữu, mẹ vợ anh T. cho biết vợ chồng bà sức khỏe yếu, không đủ điều kiện đi lại. Tin tưởng con gái và con rể, bà giao cho họ làm thủ tục xin cấp giấy hồng. Đối với tờ giấy tái xác nhận việc mua bán nền tái định cư lập năm 2006 (ghi bên mua là vợ chồng anh T.), người mẹ vợ cho biết giấy này được lập chỉ để tiện việc hợp thức hóa nhà.

Tháng 8-2009, TAND quận 10 xử sơ thẩm vụ án và chấp nhận ý kiến trên của người mẹ vợ. Anh T. không có chứng cứ chứng minh mình đã mua nhà của cha mẹ vợ. Dựa trên nhiều lời khai chống lại anh T., cấp sơ thẩm xác định vợ chồng anh T. chỉ đứng tên giùm nên bác yêu cầu chia nửa căn nhà của anh. Cuối tháng 10-2009, phiên xử phúc thẩm của TAND TP.HCM cũng y án sơ thẩm.

Continue reading