NHỮNG THỜI KỲ BIẾN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHO TƯƠNG LAI

PHẠM MINH CHÍNH (Bộ Công an) – TS. VƯƠNG QUAN HOÀNG (Đại học Tổng hợp Bruxelles) – THS. TRẦN TRÍ DŨNG (Chuyên gia Hệ thống dữ liệu và phân tích tài chính)

Cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 của thế kỷ XX đã góp thêm động lực cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, được khởi xướng từ mốc thời gian 1986 bằng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Từ đó đến nay, nhìn chung nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng khá cao, nhưng cũng có những đợt suy giảm gợi lên tính chất chu kỳ kinh tế (xem sơ đồ 1).

Sơ đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế Việt Nam từ 1984 đến 2008

Chính những đợt suy giảm đó đã làm xuất hiện nhiều lo ngại, thậm chí có ý kiến cực đoan đã liên tưởng tới khả năng một kịch bản tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997 sẽ lặp lại với Việt Nam trong tương lai gần. Đồng thời, đã xuất hiện một số quan ngại về kết cục tương đồng của các biến động kinh tế, đặc biệt là giữa hai thời kỳ suy giảm tốc độ tăng trưởng 1997 – 1998 và 2007 – 2008.

Để tìm câu trả lời, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích cụ thể, như sau: Một số khía cạnh so sánh cơ bản, và Luận điểm cốt lõi và mấy vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

1.1. Bối cảnh của những biến động kinh tế

Những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề vĩ mô hàng đầu của Việt Nam là xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp cận với dòng chảy của khu vực và quốc tế. Các biến động kinh tế tại Việt Nam thời kỳ 1997 – 1998 chịu ảnh hưởng lan truyền từ khủng hoảng tài chính-tiền tệ của khu vực Đông Á, với tư cách là một thành viên của kinh tế khu vực.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ ÁP DỤNG XÂY DỰNG LUẬT TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Trong một hình thái kinh tế – xã hội, pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, do vậy pháp luật phải xuất phát từ thực tế và phải dựa trên những quy luật khách quan của các quan hệ xã hội mà chúng hướng đến điều chỉnh. Thực tiễn pháp luật Việt Nam đã cho thấy, nhiều quy định của pháp luật sau khi ban hành đã không được thực hiện do pháp luật không phù hợp với thực tế cuộc sống. Pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam sẽ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất nếu được ban hành phù hợp với những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Việc sửa đổi Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 đòi hỏi chúng ta phải cùng nhìn nhận và phân tích những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp này.

1. Nguyên lý về tính chất tư trong hoạt động xét xử của trọng tài

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phương thức theo đó các bên thỏa thuận lựa chọn một chủ thể không phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh. Chủ thể được lựa chọn gọi là trọng tài và sẽ ra phán quyết về tranh chấp giữa các bên có liên quan. Có hai loại trọng tài là trọng tài vụ việc (ad-hoc) và trọng tài thường trực. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai mô hình này là ở chỗ, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và sẽ tự giải thể khi tranh chấp được giải quyết xong. Trong khi đó, trọng tài thường trực – như chính tên gọi của nó – tồn tại có tính chất ổn định, có trọng tài viên riêng, có điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Trọng tài thường trực là một thực thể pháp lý độc lập với đầy đủ các dấu hiệu của một pháp nhân, trong đó dấu hiệu quan trọng nhất là có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình. Việc lựa chọn hình thức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Tuy nhiên, dù là trọng tài thường trực hay trọng tài vụ việc thì đều không phải là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, do vậy trong hoạt động xét xử, trọng tài không được sử dụng quyền lực công như tòa án. Chính vì hoạt động xét xử của trọng tài không gắn với quyền lực công nên trọng tài được coi là cơ quan tài phán tư.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4483/LĐTBXH-NCC NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH ĐỒNG THỜI LÀ CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC NGHỈ HƯỞNG CHẾ ĐỘ MẤT SỨC LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nhận được đơn của ông Nguyễn Quốc Bình, trú tại số 4, phố Vọng Đức, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đề nghị hưởng lại chế độ trợ cấp mất sức lao động.

Theo công văn số 427/BHXH-CĐCS ngày 27/5/2008 của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội thì ông Nguyễn Quốc Bình, sinh năm 1949, có thời gian công tác thực tế là 23 năm 01 tháng, nghỉ hưởng chế độ mất sức lao động từ ngày 01/4/1990. Tháng 8/1996, ông Bình được xác nhận là thương binh. Ngày 25/8/1999, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tây ra Quyết định thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động để chuyển sang hưởng trợ cấp thương binh kể từ tháng 10/1999.

Theo quy định tại Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15/11/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: “Công nhân viên chức có thời gian công tác thực tế từ 20 năm trở lên hoặc chưa đủ 20 năm công tác thực tế nhưng có đủ 15 năm công tác liên tục trong quân đội, công an đồng thời là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% trở lên thì được hưởng hai chế độ trợ cấp: mất sức lao động và thương tật”.

Trường hợp của ông Nguyễn Quốc Bình có thời gian công tác thực tế là 23 năm 01 tháng đồng thời là thương binh, đủ điều kiện hưởng đồng thời cả hai chế độ trợ cấp thương binh và mất sức lao động. Đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội ra quyết định hưởng trợ cấp mất sức lao động đối với ông Nguyễn Quốc Bình.

Để đảm bảo quyền lợi của người lao động, thống nhất trong việc thực hiện chế độ và quản lý đối tượng, đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định hưởng trợ cấp mất sức lao động đối với trường hợp đủ điều kiện hưởng đồng thời cả hai chế độ trợ cấp thương binh và mất sức lao động theo quy định tại khoản 8, Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15/11/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội./.

BỘ TRƯỞNG  
Nguyễn Thị Kim Ngân

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG NỖI NIỀM . . .

PHAN THẾ HẢI

Trong nhiều ngày qua, trên các diễn đàn đại chúng, doanh nghiệp nhà nước được coi là tâm điểm của dư luận với không ít điều tiếng. Người ta chỉ trích những ưu ái giành cho khối này và phê phán sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên ít ai hiểu được nỗi niềm của những người trong cuộc.

Bị trói bởi một hệ thống luật chưa rõ ràng

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh mà toàn bộ vốn thuộc sở hữu nhà nước. Vậy nên, phần lớn cán bộ công nhân viên đều là người Nhà nước. Mặc dù trong đó có Hội đồng quản trị, có ban giám đốc điều hành nhưng thực chất họ đều là người làm thuê 100%, không hơn không kém. Nếu như ở các loại hình doanh nghiệp khác, Hội đồng quản trị (HĐQT) là người đại diện cho cổ đông thì với các DN Nhà nước, HĐQT là người đại diện cho vốn của nhà nước, vốn của nhà nước lại thuộc sở hữu toàn dân, một ông chủ vừa mơ hồ vừa chịu sự chi phối của hàng loạt quy định bùng nhùng rắc rối.

Chính vì vậy nên ở trong các DN như vậy, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên chỉ là mối quan hệ giữa những người làm thuê với nhau. Điều này khác hẳn với ở các DN ngoài quốc doanh, là mối quan hệ chủ tớ. Chính vì mối quan hệ giữa các người làm thuê nên khó có sự mạch lạc của quyền lực.

Ông Lê Văn, một người từng là Tổng giám đốc một DN nhà nước tâm sự: Khó nhất là quản lý nhân viên. Tuyển dụng vào thì dễ mà sa thải thì khó. Tâm lý cho rằng, họ là “người nhà nước”, không dễ gì sa thải khi khuyết điểm chưa rõ ràng. Trong khi đó, yếu kém về năng lực chưa phải là một lỗi được quy định trong luật. Chuyện xử lý nhân viên chỉ cần sơ suất về thủ tục là sẽ bị kiện tụng, phức tạp vô cùng.

Continue reading