TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: VÌ ĐÂU VỤ ÁN HƠN 10 NĂM CHƯA KẾT THÚC?

LA MINH

Vụ án dân sự đã đến cấp xét xử cao nhất nhưng người trong cuộc vẫn chưa "tâm phục, khẩu phục", khiến dư luận hết sức băn khoăn?

Năm 1995, ông Võ Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Thêm – trú tại khối 8 P. Lê Lợi, TP.Vinh cho vợ chồng ông Lê Quang Toản và Trần Thị Nam – trú khối 13 P.Lê Lợi, TP.Vinh vay tiền. Đến hạn, phía ông Toản không trả nợ, ông Tuấn và bà Thêm khởi kiện vụ án dân sự lên TAND TP.Vinh, Nghệ An.

Ngày 11.1.1997, TAND TP.Vinh ra bản án số 01, 02 buộc ông Toản phải hoàn nợ cho ông Tuấn và bà Thêm cả số vay gốc và lãi đến thời điểm phải trả là 345 triệu đồng. Khi án có hiệu lực, vợ chồng ông Toản vẫn không trả, ngày 29.3.2007, Đội thi hành án (THA) TP.Vinh ra quyết định cưỡng chế kê biên ngôi nhà hai tầng tại khối 13, P. Lê Lợi của ông Toản và thông báo bán đấu giá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng không có người mua.

Ngày 6.5.2007, Đội THA kê biên ngôi nhà trên trị giá 278 triệu đồng, giao cho ông bà Tuấn và Thêm để trừ vào tiền thi hành án. Nhưng đến ngày 20.12.1997, Đội THA TP.Vinh lại huỷ biên bản đã kê biên và bàn giao nhà. Ông Tuấn và bà Thêm gửi đơn khiếu nại; ngày 16.11.2001 TAND Nghệ An xét xử, ra bản án số 7, buộc Đội THA TP.Vinh thu hồi ngôi nhà ông Toản từ việc đã giao nhà bất hợp pháp cho ông Tuấn và bà Thêm, để trả cho ngân hàng xử lý theo quy định về tài sản thế chấp của ngân hàng. Toà phúc thẩm – TAND Tối cao tại Hà Nội ngày 6.4.2005 ra bản án số 75 cũng quyết định như trên.

Ông Tuấn và bà Thêm không nhất trí với quyết định của tòa án, vì từ một vụ kiện khác không hề liên quan đến quyền sở hữu hợp pháp ngôi nhà đã được bàn giao. Đó là ông Phạm Quốc Kỳ – trú khối 6, P. Đội Cung, TP.Vinh – khởi kiện NHNT Vinh mà Tòa phúc thẩm đang thụ lý vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán nhà. Ông Tuấn và bà Thêm đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan điều tra việc NHNT Vinh dựng chứng từ giả, tài liệu giả; tố cáo TAND từ cấp sơ thẩm đến phúc thẩm xét xử mối quan hệ không có thật ra bản án trái pháp luật, gây thiệt hại tiền nhà nước tại NHNT Vinh, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp ngôi nhà của ông, bà đã được Cơ quan THA giao để THA.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 132/BXD-QLN NGÀY 3 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ, QUYỀN SỞ HỮU CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG DO BỘ XÂY DỰNG BAN HÀNH

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 860/SXD-QLN&CS ngày 05/10/2009 của Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ đề nghị hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật về nhà ở hiện hành thì trong hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng không yêu cầu phải có văn bản xác nhận nhà ở, công trình xây dựng đã được giao dịch thông qua sàn bất động sản (trừ trường hợp căn hộ nhà chung cư trong dự án đầu tư được bán sau ngày Thông tư số 01/2009/TT-BXD ngày 25/2/2009 của Bộ Xây dựng có hiệu lực thi hành).

Ngày 19/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trong đó có quy định đối với những địa phương đã có sàn giao dịch bất động sản thì những trường hợp chuyển nhượng từ ngày Nghị định số 88/2009/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận phải có giấy tờ chứng minh việc nhận chuyển nhượng được thực hiện tại sàn giao dịch bất động sản.

Đề nghị Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ nghiên cứu các quy định của pháp luật để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

BÁO CÁO SỐ 760/BC-BGDĐT ngày 29 tháng 10 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo

Sau 23 năm đổi mới của đất nước và 9 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế.

Tuy nhiên, giáo dục đại học đang đứng trước thách thức rất to lớn: Phương pháp quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng chậm được thay đổi, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên. Chất lượng nguồn nhân lực đang là một khâu yếu kém, kéo dài của toàn bộ hệ thống kinh tế.

I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1. Kết quả đạt được của giáo dục đại học những năm qua

1.1. Đa dạng hóa về loại hình trường và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng

a) Về số trường: Năm 1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), đến tháng 9/2009 có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và 226 trường cao đẳng chiếm 60%, gấp 6 lần).

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 760/BC-BGDĐT NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Sau 23 năm đổi mới của đất nước và 9 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế.

Tuy nhiên, giáo dục đại học đang đứng trước thách thức rất to lớn: Phương pháp quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng chậm được thay đổi, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên. Chất lượng nguồn nhân lực đang là một khâu yếu kém, kéo dài của toàn bộ hệ thống kinh tế.

I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1. Kết quả đạt được của giáo dục đại học những năm qua

1.1. Đa dạng hóa về loại hình trường và hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng

a) Về số trường: Năm 1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), đến tháng 9/2009 có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và 226 trường cao đẳng chiếm 60%, gấp 6 lần).

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 97/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC Ở CÔNG TY, DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ, TỔ HỢP TÁC, TRANG TRẠI, HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN VÀ CÁC TỔ CHỨC KHÁC CỦA VIỆT NAM CÓ THUÊ MƯỚN LAO ĐỘNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ Luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 56/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2006 – 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với:

1. Công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).

4. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

Các công ty, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân quy định tại các khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều này gọi chung là doanh nghiệp.

Điều 2. Mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các doanh nghiệp quy định tại Điều 1 Nghị định này thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 theo các vùng như sau:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 98/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC CHO DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, CƠ QUAN, TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI, TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ CÁ NHÂN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 56/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2006 – 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước  ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 theo các vùng như sau:

1. Mức 1.340.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

2. Mức 1.190.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.

3. Mức 1.040.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.

4. Mức 1.000.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.

Danh mục các địa bàn vùng I, vùng II, vùng III, vùng IV tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.

Điều 2.

1. Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 1 Nghị định này được dùng làm căn cứ tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động, thực hiện các chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật lao động quy định.

Continue reading

TỪ LUẬT ĐẾN THỰC TẾ

NGUYỄN VẠN PHÚ

Kỳ họp Quốc hội lần này đang thảo luận và sẽ thông qua khá nhiều sắc luật. Nhưng thảo luận cặn kẽ để lường trước mọi tác dụng của luật là một chuyện; còn luật sẽ đi vào cuộc sống như thế nào là một chuyện khác.

Đã có khá nhiều góp ý cho dự thảo “Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản” từ các nhà báo và nhà quản lý. Tuy nhiên có một đối tượng bất ngờ nằm trong phạm vi điều chỉnh của nghị định này là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hành vi bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng, theo dự thảo Nghị định, cũng bất ngờ không kém: Phát hành thông cáo báo chí mà không có giấy phép.

Bất ngờ là bởi hỏi thăm một vòng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và nhất là các công ty chuyên lo chuyện quan hệ đối ngoại cho các doanh nghiệp này, họ đều trả lời trước nay khi soạn, gửi các thông cáo báo chí họ đều không nghĩ phải xin phép. Tất cả đều ngạc nhiên, hỏi lại là xin phép ở đâu, thủ tục như thế nào, thời hạn ra sao…

Hàng ngày có cả chục đến cả trăm thông cáo báo chí được phát ra, trong đó nhiều nhất vẫn là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Từ chuyện thay đổi nhân sự, giới thiệu sản phẩm mới đến chuyện công bố kết quả khuyến mãi, giảm giá hay những vấn đề cấp bách hơn như giải thích một sự cố sản phẩm đang được dư luận quan tâm… Không lẽ tất cả những thông cáo báo chí này đều phải xin phép?

Nguyên văn dự thảo nghị định ghi rõ chuyện phát hành thông cáo báo chí không có giấy phép bị phạt tiền là dành cho “cơ quan, tổ chức nước ngoài, pháp nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam”.

Điều đó có nghĩa ngay cả những tổ chức như Ngân hàng Thế giới – WB, Quỹ Tiền tệ quốc tế – IMF, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc – UNDP… mỗi khi muốn công bố đều gì đó cho báo chí qua hình thức thông cáo đều phải xin phép nếu không muốn bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng.

Continue reading

PHÁP ĐIỂN HÓA: Từ Bộ luật Hamurabi đến Bộ luật Dân sự Pháp

NGUYỄN LÊ

Thuật ngữ Pháp điển hóa (codification) có gốc là một từ Latin “Codex” – là sách đóng gáy – một phát minh của người La Mã nhằm thay thế cho sách ống cuộn trước đó. Như vậy, pháp điển hóa từ thời cổ đại có nghĩa là tập hợp các văn bản pháp lý có cùng một chủ đề dưới hình thức một “Codex”- cuốn sách.

Tuy nhiên, lịch sử của pháp điển hóa còn lâu đời hơn, từ Bộ luật Hammurabi cách đây gần 4.000 năm. Sau đó, vào thế kỷ V trước Công nguyên, xuất hiện Luật 12 tấm bảng (Lex Duodecim Tabularum) ở La Mã cổ đại. Vào thế kỷ VI sau công nguyên, Hoàng đế La Mã Justinianus chủ trì biên soạn Corpus Juris Civilis. Thời đó, luật La Mã cổ đại tập trung pháp điển hóa lĩnh vực dân luật, tức là luật tư mà bỏ qua luật công. Trong nhiều thế kỷ, ở các nước châu âu lục địa, nơi tiếp tục truyền thống của luật La Mã, các luật gia cũng đã gạt luật công sang một bên, vì cho rằng các luật này lẫn lộn với chính trị và không khác nhiều so với khoa học quản trị hành chính. Do xu hướng chú trọng đến dân luật nên có người giải thích rằng, những nước sau này chịu ảnh hưởng của Luật La Mã đều được gọi là các nước dân luật (civil law). Kết quả là ở các nước dân luật, Bộ luật Dân sự là văn bản trung tâm, hạt nhân của hệ thống pháp luật, tạo nên nền tảng mặc định cho tư duy và phương pháp luận pháp lý.

      Về các trường hợp pháp điển hóa nổi tiếng, trước hết phải kể đến các Bộ luật của Napoleon, trong đó Bộ luật dân sự Pháp (1804) là Bộ luật đầu tiên có hình dạng như ngày nay trong các nước dân luật. Đây là bộ luật kinh điển, được soạn thảo với một phong cách và ngôn ngữ tuyệt diệu. Bộ luật dân sự Pháp đã tập hợp gần 14 ngàn văn bản do Chính phủ cách mạng tư sản ban hành từ năm 1789, tinh lược chúng vào ba phần: Địa vị pháp lý cá nhân; Tài sản; Các quyền và nghĩa vụ. Rene David, một học giả người Pháp nhận định, pháp điển hóa thời kỳ cách mạng Pháp đã kết thúc quá trình tiến hoá nhiều thế kỷ của khoa học pháp lý, thể hiện luật pháp thích hợp với lợi ích của xã hội một cách rõ ràng, khác với sự rối rắm của Corpus Juris Civilis. Pháp điển hóa đã chấm dứt nhiều tàn tích cổ hủ của luật pháp, những tập quán cản trở thực tế trước đó. Những điểm này đã phân biệt pháp điển hóa với các bộ biên soạn tư nhân hoặc chính thức trước đây; Mang lại cho luật pháp những điều bổ ích nhưng chỉ thay đổi từng phần nhỏ của luật pháp; Nhưng phạm vi các vấn đề và quy mô áp dụng của chúng không đáp ứng được những yêu cầu của trường phái luật tự nhiên. Do đó, Bộ luật Napoleon có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới. Đến giữa thế kỷ XX, đã có trên 70 nước chịu ảnh hưởng từng phần hoặc toàn phần của Bộ luật này.

Continue reading

PHÁP ĐIỂN HÓA: TỪ BỘ LUẬT HAMMURABI ĐẾN BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

NGUYỄN LÊ

Thuật ngữ Pháp điển hóa (codification) có gốc là một từ Latin “Codex” – là sách đóng gáy – một phát minh của người La Mã nhằm thay thế cho sách ống cuộn trước đó. Như vậy, pháp điển hóa từ thời cổ đại có nghĩa là tập hợp các văn bản pháp lý có cùng một chủ đề dưới hình thức một “Codex”- cuốn sách.

Tuy nhiên, lịch sử của pháp điển hóa còn lâu đời hơn, từ Bộ luật Hammurabi cách đây gần 4.000 năm. Sau đó, vào thế kỷ V trước Công nguyên, xuất hiện Luật 12 tấm bảng (Lex Duodecim Tabularum) ở La Mã cổ đại. Vào thế kỷ VI sau công nguyên, Hoàng đế La Mã Justinianus chủ trì biên soạn Corpus Juris Civilis. Thời đó, luật La Mã cổ đại tập trung pháp điển hóa lĩnh vực dân luật, tức là luật tư mà bỏ qua luật công. Trong nhiều thế kỷ, ở các nước châu âu lục địa, nơi tiếp tục truyền thống của luật La Mã, các luật gia cũng đã gạt luật công sang một bên, vì cho rằng các luật này lẫn lộn với chính trị và không khác nhiều so với khoa học quản trị hành chính. Do xu hướng chú trọng đến dân luật nên có người giải thích rằng, những nước sau này chịu ảnh hưởng của Luật La Mã đều được gọi là các nước dân luật (civil law). Kết quả là ở các nước dân luật, Bộ luật Dân sự là văn bản trung tâm, hạt nhân của hệ thống pháp luật, tạo nên nền tảng mặc định cho tư duy và phương pháp luận pháp lý.

      Về các trường hợp pháp điển hóa nổi tiếng, trước hết phải kể đến các Bộ luật của Napoleon, trong đó Bộ luật dân sự Pháp (1804) là Bộ luật đầu tiên có hình dạng như ngày nay trong các nước dân luật. Đây là bộ luật kinh điển, được soạn thảo với một phong cách và ngôn ngữ tuyệt diệu. Bộ luật dân sự Pháp đã tập hợp gần 14 ngàn văn bản do Chính phủ cách mạng tư sản ban hành từ năm 1789, tinh lược chúng vào ba phần: Địa vị pháp lý cá nhân; Tài sản; Các quyền và nghĩa vụ. Rene David, một học giả người Pháp nhận định, pháp điển hóa thời kỳ cách mạng Pháp đã kết thúc quá trình tiến hoá nhiều thế kỷ của khoa học pháp lý, thể hiện luật pháp thích hợp với lợi ích của xã hội một cách rõ ràng, khác với sự rối rắm của Corpus Juris Civilis. Pháp điển hóa đã chấm dứt nhiều tàn tích cổ hủ của luật pháp, những tập quán cản trở thực tế trước đó. Những điểm này đã phân biệt pháp điển hóa với các bộ biên soạn tư nhân hoặc chính thức trước đây; Mang lại cho luật pháp những điều bổ ích nhưng chỉ thay đổi từng phần nhỏ của luật pháp; Nhưng phạm vi các vấn đề và quy mô áp dụng của chúng không đáp ứng được những yêu cầu của trường phái luật tự nhiên. Do đó, Bộ luật Napoleon có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới. Đến giữa thế kỷ XX, đã có trên 70 nước chịu ảnh hưởng từng phần hoặc toàn phần của Bộ luật này.

Continue reading