VỀ THUẬT NGỮ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Thuật ngữ sở hữu trí tuệ (SHTT) được dùng nhiều lần trong Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN), nhưng có thể có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, bởi vậy phải bàn về cách sử dụng thuật ngữ SHTT và các thuật ngữ khác có liên quan đến SHTT trong Luật KH&CN (sau đây gọi tắt là Luật) thiết nghĩ là một việc nên làm.

1. “Công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật không?

Luật định nghĩa: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Từ định nghĩa này, có thể đặt câu hỏi: quá trình từ sản phẩm mà tìm ra các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện… thì có gọi là “công nghệ” không? Trong lĩnh vực SHTT người ta gọi quá trình này là Reverse Engineering[2] (tạm dịch là “công nghệ ngược”), nó có liên quan đến 2 đối tượng được bảo hộ quyền SHTT là sáng chế và bí mật kinh doanh.

Phải bàn đến “công nghệ ngược”, bởi lẽ một giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm là hành vi bất hợp pháp. Nhưng mọi thông tin có liên quan đến công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh thì hành vi dùng “công nghệ ngược” để tìm ra các kỹ năng, bí quyết… của quy trình hay sản phẩm lại là hành vi hợp pháp.

Bởi vậy, “công nghệ ngược” có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật hay không là một việc nên xem xét, còn gọi cụ thể nó là thì cần một nghiên cứu khác sâu hơn.

2. Xác định các sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học

Luật định nghĩa: Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.

Continue reading

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP TẠI MỘT SỐ NƯỚC

NGUYỄN HÀ THANH – Văn phòng Trung ương Đảng

Một trong những thách thức lớn nhất đối với tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam là xây dựng phương thức tốt nhất để gắn kết và đảm bảo sự thống nhất hoạt động giữa các cơ quan tư pháp. Cải cách tư pháp cần được đặt trong tầm nhìn thống nhất của hệ thống tư pháp tổng thể, với các cơ sở lý luận rõ ràng về các chức năng của từng cơ quan tư pháp và mối liên hệ giữa chúng. Để giải quyết được bài toán này, thì một trong những nội dung quan trọng cần làm là nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp tại một số nước.

Với mục tiêu hỗ trợ cho nghiên cứu ban đầu, chúng tôi chỉ đưa ra phân tích tóm lược về tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp tại bốn nước Trung Quốc, Nhật Bản, Xinh-ga-po và Ốt -trây -li-a.

1. Nhật Bản

Nhật Bản là một nước quân chủ lập hiến với lưỡng viện Quốc hội được bầu cử dân chủ. Đảng Dân chủ Tự do (thực ra là đảng chính trị bảo thủ) đang có thời gian dài chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Tuy nhiên, Nhật Bản có nhiều đảng đối lập đáng kể, lớn nhất là Đảng Dân chủ, hiện đang nắm số ghế lớn nhất trong tất cả các đảng đối lập tại Thượng viện.

1.1. Cơ quan Cảnh sát quốc gia không chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội

Các cơ quan điều tra hình sự tại Nhật Bản nằm dưới sự chỉ đạo của cảnh sát. Lực lượng cảnh sát Nhật Bản được tổ chức thành 47 khu vực (bao gồm lực lượng cảnh sát quận, cảnh sát thủ đô Tokyo và cảnh sát quận Hokkaido). Mỗi một lực lượng cảnh sát được hưởng quyền tự trị khu vực. Các lực lượng cảnh sát quận chịu sự giám sát của các Hội đồng an ninh quận. Tuy nhiên, các lực lượng cảnh sát quận được phối hợp hành động quốc gia bởi Cơ quan Cảnh sát quốc gia (NPA). NPA ban hành các chính sách và có quyền tiếp quản lực lượng cảnh sát quận trong trường hợp khẩn cấp quốc gia. Cảnh sát thủ đô Tokyo và cảnh sát quận Hokkaido nằm dưới sự quản lý độc lập của NPA, mặc dù NPA vẫn duy trì các bộ phận liên lạc để hợp tác với các lực lượng khác. Lực lượng cảnh sát Nhật Bản có sự độc lập với Chính phủ. NPA không chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội, nhưng chịu sự giám sát của Hội đồng an ninh quốc gia (NPSC). NPSC gồm một Bộ trưởng giữ vai trò Chủ tịch và 5 Uỷ viên được Thủ tướng bổ nhiệm, nhiệm kỳ 5 năm với sự thông qua của hai viện Quốc hội. NPSC có thể bổ nhiệm hoặc sa thải các lãnh đạo của NPA (với sự thông qua của Thủ tướng). NPSC còn bổ nhiệm và sa thải người đứng đầu lực lượng cảnh sát quận (với sự thông qua của Hội đồng an ninh quận có liên quan) và người đứng đầu lực lượng cảnh sát thủ đô Tokyo (với sự thông qua của Thủ tướng và Hội đồng an ninh thủ đô Tokyo).

Continue reading

QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA CÔNG CỘNG

(Ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với hoạt động văn hóa của cơ quan, tổ chức mình

1. Các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng phải nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giáo dục nếp sống lành mạnh và phong cách ứng xử có văn hóa cho mọi người; kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, nghĩa tình, thuần phong mỹ tục; nâng cao hiểu biết và trình độ thẩm mỹ, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân; ngăn chặn sự xâm nhập và bài trừ những sản phẩm văn hóa có nội dung độc hại; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

2. Người đứng đầu các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa thuộc phạm vi quản lý của mình.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

a) Quy chế này quy định các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng (sau đây gọi là Quy chế) bao gồm: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hóa, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và các hình thức vui chơi giải trí khác;

Continue reading

MỘT SỐ PHÂN TÍCH VỀ TÌNH TRẠNG XÂM PHẠM VÀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sở hữu trí tuệ (SHTT) thường được nhắc đến như là một trong 3 trụ cột của WTO bên cạnh thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Mặc dù Việt Nam đã cam kết thực hiện đầy đủ các quy định của tổ chức này về SHTT, song trên thực tế, tình trạng xâm phạm quyền SHTT đang ngày càng trở nên đáng báo động. Những vướng mắc trong việc thực thi quyền SHTT chính là do các biện pháp xử lý chưa đủ mạnh của các quy định pháp luật hiện hành.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và xu thế hội nhập, hoạt động phòng, chống xâm phạm quyền sở SHTT đang được các bộ, ngành và các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Bộ Công an và Bộ Bưu chính – Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) đã ký kết Chương trình hành động số 168/CTHĐ/VHTT-KHCN-NNPTNT-TC-TM-CA về hợp tác phòng, chống xâm phạm quyền SHTT giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình 168).

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực SHTT như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT; Nghị định số 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp…

Nhìn chung, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về tiêu chuẩn bảo hộ các đối tượng SHTT đều phù hợp với quy định của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS). Như vậy, khung pháp lý về SHTT của Việt Nam đã tương đồng với các quốc gia thành viên WTO, tuy nhiên, tính hiệu quả trong thực thi thì còn gặp nhiều hạn chế.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4235/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 9 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI BÁN DOANH NGHIỆP

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa

Trả lời công văn số 1058/LĐTBXH-LĐTBXHBHXH ngày 23/7/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa về chế độ đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động với công ty nhà nước đã bán cho tập thể người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định của Luật ban hành văn bản thì Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 của Chính phủ về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 7/11/2008, vì vậy:

1. Đối với những người lao động ghi trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước ngày 7/11/2008 thì được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định của Pháp luật lao động. Nguồn chi trả thực hiện theo Nghị định số 80/2005/NĐ-CP ngày 22/6/2005 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước, Thông tư số 29/2005/TT-BLĐTBXH ngày 19/10/2005 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Thông tư số 109/2005/TT-BTC ngày 08/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về tài chính trong giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước.

2. Đối với những người lao động ghi trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 7/11/2008 trở đi hưởng chế độ trợ cấp thôi việc cũng như các chính sách đối với người lao động nói chung theo quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 17 Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 Chính phủ về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Quý Sở biết và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

CÔNG VĂN SỐ 4239/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 9 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Công ty Xuất nhập khẩu Sách báo
(32 Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội)

Trả lời công văn số 892/XNSB ngày 15/10/2009 của Công ty Xuất nhập khẩu Sách báo về chế độ trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc mỗi năm làm việc nửa tháng lương, cộng phụ cấp lương (nếu có) cho người lao động làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động không quy định người lao động hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần không được trợ cấp thôi việc.

Như vậy, đối với người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 145 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung thì khi người lao động nghỉ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, người lao động không được trợ cấp thôi việc.

Đối với người lao động có thời gian làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên và không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 145 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung, khi hợp đồng lao động chấm dứt đúng pháp luật (chấm dứt theo Điều 36, Điều 37, các điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung) thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo Điều 42 Bộ luật Lao động nói trên.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Công ty biết và thực hiện.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG – TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA: ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VẪN MUA ĐƯỢC NHÀ THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/NĐ-CP

HỒNG HIỆP

Đã hoàn thành thủ tục xuất cảnh và sang định cư ở Mỹ, nhưng bằng mọi cách, Nguyễn Ngọc Anh vẫn hóa giá thành công căn nhà số 337/2/6 (phần phụ nhà biệt thự) đường Lê Văn Sỹ, phường 1 quận Tân Bình – TPHCM rồi sau đó nhanh chóng chuyển nhượng thành công cho người khác.

“Phù phép”

Theo tài liệu mà bà L.- vợ đầu của người bị tố cáo (ông Nguyễn Ngọc Anh) cung cấp cho các cơ quan chức năng thì căn nhà số 337/2/6 Lê Văn Sỹ, phường 1 quận Tân Bình – TPHCM có nguồn gốc là nhà Nhà nước, do Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP quản lý. Một phần phụ nhà biệt thự (có vị trí thuộc thửa số 9 tờ 33) do Công ty Quản lý Kinh doanh nhà TP bán hóa giá cho ông Nguyễn Ngọc Anh ngày 18-4-2007 với diện tích 88m². Theo tinh thần của Nghị định 61/CP quy định thì Chính phủ cho phép hóa giá những căn nhà này với điều kiện không xuất cảnh định cư ở nước ngoài. Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Anh đã định cư nước ngoài theo diện H.O nhiều năm nay và hồ sơ thể hiện rõ tại Cục Xuất Nhập cảnh – Bộ Công an.

Theo quy định, căn nhà trên phải trả về cho Nhà nước vì tất cả những người trong nhà đều đã xuất cảnh sang Mỹ định cư. Để “phù phép” có được căn nhà này, trong suốt 2 năm 2006 – 2007 ông Nguyễn Ngọc Anh từ Mỹ đã trở về Việt Nam liên tục khi được thông báo thông tin cơ quan chức năng đang làm thủ tục đo đạc nhà.

Không chỉ lừa được cán bộ đo đạc, ông Ngọc Anh còn mạo danh cả chữ ký của một chiến sĩ Công an phường 1 quận Tân Bình khi xác nhận tại phường về việc không đi xuất cảnh, đang ở Việt Nam để được hóa giá nhà. Ngay sau khi được hóa giá nhà, ông Ngọc Anh đã lập tức sang tên lại cho bà N.T.Q, và rút sang Mỹ!

Continue reading

VÌ SAO BẠO LỰC GIA ĐÌNH VẪN KHÔNG GIẢM?

THANH HỢP

Luật Phòng chống bạo lực gia đình chính thức có hiệu lực từ ngày 1-7-2007. Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, nhất là người già, phụ nữ và trẻ em – đối tượng có khả năng bị bạo lực trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sau hơn 2 năm thực hiện, luật vẫn chưa thể đi sâu vào cuộc sống.

1.001 lý do bạo hành

Hơn 6 giờ chiều một ngày cuối tháng 8-2009, chị Đinh Thị H. tìm đến địa chỉ tin cậy cộng đồng quận Tân Phú với tâm trạng hoảng loạn, mặt mũi bầm tím, nhiều chỗ trên người còn rướm máu.

Chị T. cho biết, hai vợ chồng đều là công nhân, đang ở trọ tại quận Bình Tân. Do cuối tháng chưa lĩnh lương, tiền hai vợ chồng dành dụm được mỗi tháng đều gửi về quê cho bà ngoại nuôi cháu, nên bữa cơm chiều hôm ấy chỉ có đậu phụ chiên và canh rau. Vừa dọn ra, anh bê cả mâm cơm hất ra hành lang rồi thẳng tay đánh chị, miệng không ngừng chửi rủa rằng, chị đưa tiền cho “trai” nên mới bắt anh phải ăn khổ sở như thế.

Vợ chồng chị Nguyễn Thị Thanh H. thì lại thường xuyên xung đột, tranh cãi vì cuộc sống khó khăn. Anh không có việc làm ổn định, thu nhập bấp bênh, lại thường xuyên nhậu nhẹt rồi về nhà gây chuyện với vợ con.

Đầu năm 2007, chị H. sinh con thứ 3 cũng là thời điểm mâu thuẫn vợ chồng trở nên căng thẳng. Những lần “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” của anh dành cho chị diễn ra thường xuyên hơn. Không thể tiếp tục chịu đựng, chị H. đã ôm con nhỏ hơn 3 tháng tuổi tìm đến chùa Bình An (quận Bình Tân) xin tạm lánh.

Continue reading