BÁO CÁO SỐ 186/BC-CP NGÀY 18 THÁNG 11 NĂM 2009 GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẠI KỲ HỌP THỨ SÁU, QUỐC HỘI KHÓA XII

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào, đồng chí,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã cơ bản đồng tình với Báo cáo của Chính phủ và đã thông qua các Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2010. Chính phủ sẽ nỗ lực cao nhất để thực hiện các nhiệm vụ còn lại của năm 2009 và sẽ khẩn trương triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ năm 2010.

Thưa Quốc hội,

Diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước tháng 10 và nửa tháng 11 vừa qua đã làm sáng tỏ thêm những nhận định, đánh giá và dự báo của chúng ta về khả năng hoàn thành kế hoạch năm 2009 và triển vọng phát triển kinh tế – xã hội năm 2010. Trong tháng 10, sản xuất công nghiệp nước ta tiếp tục phục hồi và tăng trưởng 11,9%; nông nghiệp, tuy gặp nhiều thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn phát triển khá ổn định; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng; thu chi ngân sách, lãi suất và giá tiêu dùng tương đối ổn định (giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,37% so với tháng 9/2009 và tăng 4,49% so với tháng 12/2008). Tuy nhiên, những thách thức, khó khăn vẫn còn rất lớn như đã trình bày trong các báo cáo của Chính phủ. Thêm vào đó, trong một thời gian ngắn, hai cơn bão lớn liên tiếp đổ bộ vào miền Trung, Tây Nguyên gây thiệt hại nặng nề về sinh mạng và tài sản. Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ ngành chức năng, các địa phương tập trung sức trợ giúp để đồng bào ta sớm vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất, ổn định cuộc sống.

Tại kỳ họp này đã có 112 đại biểu Quốc hội gửi 254 chất vấn đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các thành viên Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao và thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ trả lời bằng văn bản đối với các chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội. Trong 2 ngày qua 4 đồng chí Bộ trưởng đã trực tiếp trả lời chất vấn tại hội trường. Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo giải trình thêm về một số nội dung thuộc ba nhóm vấn đề mà nhiều vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước quan tâm, chất vấn và đây cũng là những công việc mà Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quốc hội.

Continue reading

Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người TRONG “QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT”

NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lê sơ. Bộ luật này được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483  trong thời gian ông lấy niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), nên trong dân gian và trong sử sách vẫn thường gọi bộ luật này là Luật Hồng Đức(1).

Tất nhiên, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khởi thảo và thời điểm hoàn chỉnh bộ luật này. Trong thiên Hình luật chí (sách Lịch triều hiến chương loại chí), Phan Huy Chú cũng như dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác và theo quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu thì bộ luật này được xây dựng trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước đây, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh(2). Song, trong Lời nói đầu của cuốn Quốc triều hình luật do Viện Sử học Việt Nam dịch và giới thiệu thì bộ luật trên có thể được soạn thảo ngay năm đầu của triều Lê sơ (Lê Thái Tổ) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(3). Có thể khẳng định rằng, Luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời phong kiến; là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ.

2. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, pháp luật là ý chí, là quyền lực của các thế lực, giai cấp thống trị được cụ thể hoá, thể chế hoá bằng luật. Vì vậy, pháp luật là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để ràng buộc, bắt buộc mọi người, mọi giai cấp khác phải tuân thủ, phục tùng tuyệt đối, vô điều kiện ý chí, quyền lực của thế lực, giai cấp thống trị. Đồng thời, pháp luật cũng còn là một trong những công cụ chủ yếu nhất, quan trọng nhất của giai cấp thống trị nhằm duy trì, bảo vệ địa vị thống trị và những quyền lợi ích kỷ của chúng. Bộ Luật Hồng Đức cũng vậy. Cụ thể là, bộ luật này đã dành hẳn chương Vệ cấm (với 47 điều) và nhiều điều luật khác ở các chương khác nhằm bảo vệ tuyệt đối tính mạng, thân thể, quyền sở hữu tối cao của nhà vua.

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG “QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT”

NGUYỄN THANH BÌNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời Lê sơ. Bộ luật này được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483  trong thời gian ông lấy niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), nên trong dân gian và trong sử sách vẫn thường gọi bộ luật này là Luật Hồng Đức(1).

Tất nhiên, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm khởi thảo và thời điểm hoàn chỉnh bộ luật này. Trong thiên Hình luật chí (sách Lịch triều hiến chương loại chí), Phan Huy Chú cũng như dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác và theo quan điểm chung của nhiều nhà nghiên cứu thì bộ luật này được xây dựng trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước đây, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh(2). Song, trong Lời nói đầu của cuốn Quốc triều hình luật do Viện Sử học Việt Nam dịch và giới thiệu thì bộ luật trên có thể được soạn thảo ngay năm đầu của triều Lê sơ (Lê Thái Tổ) và “không ngừng được các triều vua kế tiếp bổ sung, hoàn chỉnh dần, trong đó chắc chắn là có những đóng góp to lớn của ông vua nổi tiếng văn hiến Lê Thánh Tông”(3). Có thể khẳng định rằng, Luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời phong kiến; là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ.

2. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, pháp luật là ý chí, là quyền lực của các thế lực, giai cấp thống trị được cụ thể hoá, thể chế hoá bằng luật. Vì vậy, pháp luật là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để ràng buộc, bắt buộc mọi người, mọi giai cấp khác phải tuân thủ, phục tùng tuyệt đối, vô điều kiện ý chí, quyền lực của thế lực, giai cấp thống trị. Đồng thời, pháp luật cũng còn là một trong những công cụ chủ yếu nhất, quan trọng nhất của giai cấp thống trị nhằm duy trì, bảo vệ địa vị thống trị và những quyền lợi ích kỷ của chúng. Bộ Luật Hồng Đức cũng vậy. Cụ thể là, bộ luật này đã dành hẳn chương Vệ cấm (với 47 điều) và nhiều điều luật khác ở các chương khác nhằm bảo vệ tuyệt đối tính mạng, thân thể, quyền sở hữu tối cao của nhà vua.

Continue reading

CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

GS. LÊ THI

Từ quan niệm về công bằng, bình đẳng và dân chủ trong đời sống kinh tế – xã hội và trên cơ sở làm rõ những điều kiện để thực hiện chúng, tác giả bài viết đã luận giải việc thực hiện nguyên tắc công bằng, dân chủ và bình đẳng xã hội với tư cách cơ sở nền tảng để thực hiện bình đẳng giới. Tập trung phân tích vấn đề công bằng và bình đẳng về cơ hội, tác giả bài viết đã làm rõ vai trò của nhà nước trong việc tạo ra các cơ hội về kinh tế, chính trị, cơ hội tiếp cận với các quỹ phúc lợi công cộng. Làm rõ thực trạng việc thực hiện công bằng, dân chủ và bình đẳng giới ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập giữa luật pháp, các chính sách của Nhà nước và việc thực thi những vấn đề này trên thực tế, tác giả bài viết đã nêu lên những nguyên nhân khách quan, chủ quan của nó và đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước.

Trên các số Tạp chí Triết học gần đây có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề  công bằng và dân chủ. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề công bằng, dân chủ và bình đẳng về giới ở Việt Nam.

1. Thực hiện sự công bằng xã hội là đảm bảo cho mọi người dân về nguyên tắcđược hưởng thụ bình đẳng như nhau các quyền lợi của đất nước, đồng thời cótrách nhiệm như nhau trong việc thực thi các nghĩa vụ người công dân, không phân biệt giới, giai cấp, tầng lớp xã hội, nhóm dân cư. Đó cũng là thực hiện quyền dân chủ của người dân.

Dân chủ, tức dân làm chủ, mỗi người dân có quyền và nghĩa vụ với đất nước, với công việc chung của xã hội. Dân chủ gắn với nhà nước pháp quyền, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là nhà nước có những luật pháp, chính sách, chế tài, công cụ để quyền công dân được thực hiện nghiêm minh và trừng phạt những kẻ vi phạm quyền công dân. Nhà nước bênh vực và bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả người dân, duy trì sự công bằng và bình đẳng xã hội.

Ba khái niệm – công bằng, dân chủ, bình đẳng – có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau, tuy không thay thế nhau, để đồng thời thực hiện những quyền cơ bản của con người.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA về phát triển kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tập thể

PGS.TS. LÊ THANH SINH – Đại học Kinh tế TPHCM

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích quan điểm của Đảng ta về vị trí và vai trò của kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế này mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X vừa qua.

1. Kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành phần kinh tế “bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài”, “có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý… của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”(1). Để kinh tế tư bản nhà nước thực hiện được vai trò quan trọng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương áp dụng nhiều phương thức góp vốn kinh doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong và ngoài nước nhằm “tạo thế, tạo lực” cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

Cụ thể hoá đường lối đó, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, một lần nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế được “khuyến khích phát triển” trong những ngành nghề sản xuất mà pháp luật không cấm và đề ra những biện pháp cụ thể để khuyến khích sự phát triển của nó trong khuôn khổ của luật pháp, với sự điều tiết của Nhà nước nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC VÀ KINH TẾ TẬP THỂ

PGS.TS. LÊ THANH SINH – Đại học Kinh tế TPHCM

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích quan điểm của Đảng ta về vị trí và vai trò của kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế này mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X vừa qua.

1. Kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành phần kinh tế “bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài”, “có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý… của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”(1). Để kinh tế tư bản nhà nước thực hiện được vai trò quan trọng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương áp dụng nhiều phương thức góp vốn kinh doanh giữa Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong và ngoài nước nhằm “tạo thế, tạo lực” cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

Cụ thể hoá đường lối đó, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, một lần nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế được “khuyến khích phát triển” trong những ngành nghề sản xuất mà pháp luật không cấm và đề ra những biện pháp cụ thể để khuyến khích sự phát triển của nó trong khuôn khổ của luật pháp, với sự điều tiết của Nhà nước nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Continue reading

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ ĐẾN NĂM 2020: ĐIỂM TỰA CHO LUẬT SƯ VIỆT NAM

THIÊN LONG

"Từ nay đến năm 2020, số luật sư (LS) sẽ tăng gấp 3 lần (hiện là 5.500 người), tỷ lệ LS trên dân số khoảng 1/12.000 người. Số LS được đào tạo bài bản, trang bị đủ các kỹ năng tranh tụng, tư vấn pháp luật ít nhất đạt 90% và hình thành được ít nhất 150 LS, 30 tổ chức hành nghề LS đạt tiêu chuẩn quốc tế". Đó là những nội dung chính của đề cương Chiến lược phát triển đội ngũ LS đến năm 2020 do các nhà hoạch định chính sách đề ra.

Theo LS Trần Hữu Huỳnh (Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), từ năm 2005 đến 2008, cả nước đã ban hành 17.196 văn bản qui phạm pháp luật. Hiện cả nước có khoảng gần 400.000 doanh nghiệp (DN) đăng ký hoạt động. Trong đó, có khoảng gần 300.000 DN hoạt động thực tế. Với số lượng văn bản pháp luật "khổng lồ" và DN không ngừng phát triển như vậy, nhu cầu dịch vụ pháp lý là rất lớn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới đây của các cơ quan chức năng, trong năm 2001, chỉ có 6% số DN từng sử dụng dịch vụ LS, năm 2006 là 13% và rất nhiều tranh chấp "đáng giá" được giải quyết bởi LS nước ngoài. Qua khảo sát, 60% số DN đánh giá chất lượng dịch vụ là trung bình, 30% đánh giá trên trung bình, chỉ 8% cho là "ổn". "Không nên xây dựng chiến lược phát triển LS chỉ chú trọng về số lượng, hay phát triển ở vùng, miền nào Điều quan trọng là phải đảm bảo cho mọi người dân, DN khi cần sử dụng dịch vụ pháp lý (LS) là có. Và đào tạo, bồi dưỡng LS thế nào để có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế khách quan đặt ra". LS Trần Hữu Huỳnh nêu quan điểm và chiến lược phát triển đội ngũ LS đến năm 2020 nên đặt mục tiêu xây dựng môi trường cho LS phát triển, không nên đưa ra tiêu chí cụ thể như "LS quốc tế". Bởi vì tiêu chuẩn này khá mù mờ và duy ý chí. Ngoài ra, Nhà nước cần đa dạng các hình thức đào tạo, chứ một mình Học viện Tư pháp đảm nhận sẽ thiếu tính cạnh tranh.

Continue reading

VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHÁP LUẬT: ĐỂ THẦY VÀ TRÒ CÙNG SONG HÀNH

XUÂN HOA

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập trường ĐH Luật Hà Nội, để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực pháp luật, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nhấn mạnh việc “nhà trường phải có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện cho giảng viên, học viên tham gia hiệu quả hơn nữa vào đời sống pháp luật của đất nước để một mặt tránh lãng phí tài nguyên con người, mặt khác giúp giảng viên có thêm kiến thức để phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy và nghiên cứu….Việc các giảng viên, học viên tích cực, chủ động tham gia ý kiến, tranh luận, đề xuất giải pháp về các vấn đề pháp lý của đời sống thực tiễn đất nước không chỉ góp thêm tiếng nói có giá trị cho xã hội mà còn giúp chính bản thân mình tích lũy thêm kinh nghiệm sống, làm phong phú thêm kiến thức lý luận của mình”

Trong 30 năm qua, ĐH Luật Hà Nội đã đào tạo cho đất nước hơn 60.000 cán bộ pháp luật, trong đó có 96 tiến sĩ, 823 thạc sĩ, gần 56.000 cử nhân đại học, hơn 500 cử nhân cao đẳng và hơn 6.000 trung cấp luật, chiếm trên 60% tổng số cán bộ pháp luật đã được đào tạo của cả nước.

Trong các giai đoạn phát triển của Việt Nam, chưa lúc nào mà nhu cầu về nguồn nhân lực pháp luật lại cần cấp thiết như hiện nay, khi đất nước đang dấn sâu vào quỹ đạo toàn cầu hóa, hội nhập với thế giới. Nhu cầu về một nguồn nhân lực pháp luật luôn dồi dào, sung mãn đã đặt ra trước mắt chúng ta rất nhiều vấn đề về đào tạo.

Thầy và trò – bao giờ có thể chia tay với nếp tư duy cũ?

Nếu như đến bất kỳ một lớp học nào, khóa học nào thuộc hệ thống các trường đại học ở nước ta nói chung và các trường đào tạo nhân lực pháp luật nói riêng, đều có thể bắt gặp cảnh viết chính tả thầy đọc – trò chép không khác gì học sinh tiểu học. Không khí trao đổi, thảo luận sôi nổi để trò hiểu bài hơn, thầy cũng tìm ra cách truyền giảng kiến thức hiệu quả hơn là tuyệt nhiên không có, hoặc có thì cũng chỉ rất hiếm khi. Quá bức xúc trước thực tế này, báo chí và cả các giảng viên đại học đã nhiều lần lên tiếng, phân tích nguyên nhân của hiện tượng “đọc – chép” này. Bên cạnh tâm lý ám ảnh mang lên từ phổ thông là sách giáo khoa luôn đúng thì nỗi sợ hình thành do lượng kiến thức quá nghèo nàn đã khiến cho lớp học luôn im lặng một cách tuyệt đối trong các giờ thảo luận. Nhưng, điều đáng buồn nhất và cũng là đáng sợ nhất chính là lối suy nghĩ rất cũ kỹ của cả hai phía thầy lẫn trò: Trứng làm sao có thể khôn hơn vịt! Vì trứng không khôn hơn vịt nên trò không dám hỏi. Vì trứng không thể khôn hơn vịt nên thầy đâm ác cảm (tất nhiên là không phải tất cả giáo viên đều như thế) với những kẻ hay thắc mắc, vặn vẹo. Mỗi lời thầy giảng là chân lý, miễn nghi ngờ!

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2544/BXD-QLN NGÀY 19 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ THỰC HIỆN CÁC QUI ĐỊNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

– Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng;
– Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An;
– Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Phát triển mô hình nhà chung cư cao tầng là xu thế tất yếu trong phát triển nhà ở tại các đô thị. Việc tổ chức quản lý vận hành nhà chung cư của các chủ đầu tư ở địa phương bước đầu đã cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho các cư dân sống trong nhà chung cư, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh sạch sẽ với chi phí phù hợp, từ đó thu hút được các tầng lớp dân cư đô thị vào sống trong các nhà chung cư cao tầng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn có những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý sử dụng nhà chung cư cần phải được các địa phương quan tâm giải quyết kịp thời. Thời gian vừa qua, ở một số địa phương đã xảy ra cháy các căn hộ nhà chung cư và một số vấn đề tồn tại liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà chung cư.

Để công tác quản lý sử dụng nhà chung cư cao tầng đi vào nền nếp, góp phần xây dựng nếp sống văn minh đô thị, Bộ Xây dựng đề nghị Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng, khẩn trương thực hiện một số việc sau:

1. Hiện nay, một số căn hộ nhà chung cư được chủ sở hữu chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn. Pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái mục đích quy định. Ngoài ra, việc sử dụng văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh xen lẫn với nhà ở gây xáo trộn, mất trật tự và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của các hộ dân sống ở các nhà chung cư. Chính quyền địa phương là nơi đã cho phép các chủ đầu tư phát triển nhà chung cư cần kiểm tra, hướng dẫn các chủ đầu tư dự án, các hộ dân sống trong nhà chung cư làm tốt công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, đảm bảo quyền lợi của cả chủ đầu tư và các hộ dân. Trường hợp nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp văn phòng không đảm bảo điều kiện làm việc theo Quy chuẩn xây dựng và Tiêu chuẩn quy định thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

Continue reading

TẠO CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ DOANH NGHIỆP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI

PHƯƠNG NGÂN

Sáng nay 21.11.2009, các đại biểu quốc hội khóa XII thảo luận và cho ý kiến ở tổ về Dự án Luật Trọng tài thương mại . Đây là lần đầu tiên các quan hệ về giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh, các thể nhân và pháp nhân được xây dựng thành luật và được nhiều người kỳ vọng từ việc tạo cơ sở pháp lý đầy đủ sẽ là động lực để các doanh nghiệp tìm đến trọng tài khi có các tranh chấp xảy ra…

Cơ chế giải quyết tranh chấp phổ biến

Theo Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Phạm Quốc Anh cho biết, trên thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại rất phổ biến, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển. Bởi xuất phát từ những lợi thế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hầu hết là những tranh chấp dân sự. Trong khi, một trong những nguyên tắc kinh điển của tranh chấp dân sự là sự thoả thuận giữa hai bên. Và do sự thoả thuận của đôi bên nên sử dụng biện pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất nhanh chóng, không như toà án là phải qua các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm. Cùng với đó, thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có hiệu lực ngay. Nếu lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì cả hai bên đều giữ được bí mật và vẫn giữ được uy tín của các doanh nghiệp.

Ở Việt Nam, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 204/TTg ngày 28.4.1993 của Thủ tướng, là tổ chức trọng tài có tuổi đời lâu nhất và lớn nhất tại Việt Nam. VIAC hiện có 123 trọng tài viên, trong đó 117 trọng tài viên là người Việt Nam, 6 trọng tài viên nước ngoài. Chủ tịch VIAC Nguyễn Minh Chí cho rằng, trong sân chơi hội nhập,  đội ngũ trọng tài của VIAC sẽ phát huy tốt những lợi thế của mình, bởi phương thức giải quyết bằng trọng tài sẽ được quốc tế công nhận.

“Thông qua một loạt các công ước quốc tế và đặc biệt là Công ước New York năm 1958 về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài thì các quyết định trọng tài hiện được 142 quốc gia, lãnh thổ trên thế giới công nhận và thi hành. Đây là một ưu thế quan trọng đối với việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.” ông Chí khẳng định.

Continue reading