CHIẾN LƯỢC TỔNG THỂ VÀ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRONG NƯỚC PHÙ HỢP CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ, QUI ĐỊNH CỦA WTO GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020

(Trích dẫn nội dung Quyết định số 160/2008/QQD-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

I. QUAN ĐIỂM

1. Các biện pháp bảo hộ sản xuất phải hợp lý, có điều kiện và có lộ trình cắt giảm phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết khác của Việt Nam.

2. Các biện pháp bảo hộ của Nhà nước phải hướng tới thúc đẩy và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn nói riêng và cho ngành công nghiệp Việt Nam nói chung trên thị trường trong nước và quốc tế.

3. Các biện pháp bảo hộ phải được thực hiện thống nhất bình đẳng đối với mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

4. Gắn bảo hộ sản xuất trong nước với việc tiếp tục điều chỉnh chức năng quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

II. MỤC TIÊU

1. Tạo điều kiện trợ giúp các nhà sản xuất trong nước từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước mở rộng thị trường ngoài nước.

2. Tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3. Góp phần ổn định kinh tế – xã hội đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống người lao động, đáp ứng nhu cầu hàng hoá của nền kinh tế.

Continue reading

PHÂN BIỆT VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

THS. NGUYỄN PHƯỚC THỌ – Văn phòng Chính phủ

Hiến pháp 1992 đã tạo lập cơ sở pháp lý cao nhất cho việc hình thành một thiết chế mới của hệ thống hành chính nhà nước, đó là thiết chế Thủ tướng Chính phủ. Thiết chế này cùng với thiết chế Chính phủ thay thế cho thiết chế Hội đồng Bộ trưởng trước đó theo Hiến pháp 1980. Đây là bước cải cách có ý nghĩa rất quan trọng đối với hành pháp và hành chính nhà nước nhằm thúc đẩy và nâng cao tính linh hoạt, nhạy bén trong quản lý, điều hành của bộ máy hành chính, thích ứng với yêu cầu của quá trình chuyển đổi cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xác định rõ hơn vị trí, vai trò của Chính phủ trong quan hệ với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp

Việc quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội” là thể hiện mối quan hệ giữa Chính phủ với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là phản ánh tính thống nhất trong tổ chức quyền lực của nhà nước ta theo chiều ngang. Còn nói Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là đề cập mối quan hệ của Chính phủ trong hệ thống hành chính nhà nước, phản ánh tính thống nhất theo chiều dọc. Tuy nhiên, tính chất chấp hành chưa phản ánh đầy đủ và chính xác vị trí, vai trò của Chính phủ với tư cách là cơ quan nắm giữ chủ yếu quyền hành pháp trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp (cơ quan xét xử). Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, nhưng trong quan hệ với cơ quan lập pháp, Chính phủ có vai trò độc lập tương đối và là nhân tố thúc đẩy hoạt động (là động cơ) của cơ quan lập pháp trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật, pháp lệnh – phương diện hoạt động chủ yếu của Quốc hội (Chính phủ là cơ quan chủ trình và trình Quốc hội trên 95% các dự án luật, pháp lệnh). Trong quan hệ với cơ quan tư pháp, Chính phủ phải nắm giữ quyền công tố và bảo đảm quyền của cơ quan hành pháp yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp mọi hành vi vi phạm pháp luật được phát hiện trong quá trình quản lý điều hành, tổ chức thực thi pháp luật. Tiến xa hơn nữa, cần thiết phải thiết lập cơ chế xử lý các khiếu kiện hành chính theo thủ tục tư pháp ngay bên  trong hệ thống cơ quan hành pháp để giải quyết có hiệu quả các tranh chấp hành chính đang ngày càng gia tăng và phức tạp (Đề án thành lập cơ quan tài phán hành chính thuộc Chính phủ đang được Thủ tướng chỉ đao các cơ quan có liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng).

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 5: TRANH LUẬN VỀ NHIỆM KỲ CỦA THƯỢNG NGHỊ SĨ

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 26 tháng Sáu năm 1787

Trong ngày 26 tháng Sáu, Hội nghị tiến hành xem xét thời hạn nhiệm kỳ của Thượng viện. Để một chính quyền trở nên vững vàng, tránh ban hành những đạo luật quá vội vàng, thì Thượng viện phải là một cơ quan bền vững và kiên định. Vì thế, vai trò của Thượng viện trong nền chính trị Mỹ là rất quan trọng.

Các đại biểu đã phân tích rất kỹ lưỡng và chi tiết mọi khía cạnh về nhiệm kỳ của Thượng viện. Trong đó, những lập luận của Madison là rất sắc sảo và chính xác, trong đó, ông tiếp tục lặp lại lập luận về mẫu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội. Ngoài ra, Ghorum và Wilson cũng có đóng góp lớn với đề xuất quay vòng bầu chọn 1/3 Thượng nghị sĩ nhằm tạo ra sự đối trọng ngay giữa những Thượng nghị sĩ với nhau.

Điều khoản qui định nhiệm kỳ của Thượng viện được đưa ra xem xét.

Ngài GHORUM: Đề xuất nhiệm kỳ sáu năm, cứ hai năm lại một lần bầu chọn lại 1/3 số đại biểu.

Ngài WILSON: Ủng hộ ý kiến này.

Tướng PINKNEY: Phản đối nhiệm kỳ sáu năm mà muốn có nhiệm kỳ bốn năm. Ông nói rằng các tiểu bang có những lợi ích khác nhau. Những bang miền Nam và đặc biệt là Nam Caroline rất khác so với các bang miền Bắc. Nếu các Thượng nghị sĩ được bổ nhiệm với nhiệm kỳ quá lâu, họ sẽ sống tại tiểu bang, nơi họ thi hành phận sự của mình và chẳng còn mấy thời gian làm người đại diện cho tiểu bang đã bầu chọn họ.

Ngài READ: Đề xuất nhiệm kỳ chín năm. Điều này lại rất thuận lợi vì cứ ba năm lại quay vòng 1/3 đại biểu. Dù ông tán thành nhất là nhiệm kỳ "suốt đời nếu có tư cách tốt", nhưng chẳng mấy người ủng hộ ý định này. Vì thế, ông sẵn lòng tán thành nhiệm kỳ dài nhất tới mức có thể.

Ngài BROOME: Ủng hộ quan điểm này.

Continue reading

XỬ LÝ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI NHÌN TỪ PHÚ MỸ HƯNG

GS-TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ – Chủ nhiệm Bộ môn Địa chính, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việc xem xét để đưa ra những phán quyết hợp lý cho giải quyết các tranh chấp này cần phải chu toàn cả về pháp luật và tình người sao cho mối quan hệ lợi ích này không gây thiệt hại cho Nhà nước, nhà đầu tư và người tiêu dùng.

Tồn tại lịch sử

Trước hết phải khẳng định đây là một tồn tại lịch sử khi quá trình xây dựng pháp luật không theo kịp với đòi hỏi của cuộc sống thực tế. Trong hoàn cảnh này, tất nhiên sẽ nảy sinh những tranh chấp nhất định.

Những tranh chấp này sẽ không xảy ra nếu chính quyền địa phương dự báo trước được để đưa ra những hướng dẫn cụ thể và những người tham gia giao dịch, mua bán nhà ở có ý thức hơn trong tìm hiểu pháp luật trước khi quyết định bỏ một số tiền khá lớn ra để mua tài sản cho mình.

Trước hết, phải thấy rằng trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành (01/7/2004) pháp luật nước ta chưa có quy định cụ thể về cơ chế nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự án xây dựng kinh doanh nhà ở. Nhà đầu tư nước ngoài chỉ được Nhà nước cho thuê đất có thời hạn và chỉ có quyền được bán nhà ở gắn với hạ tầng (Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại Việt Nam ngày 14/10/1994), trong khi đó người mua nhà lại có quyền được nhận quyền sử dụng đất ở ổn định lâu dài (Khoản 4 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ban hành ngày 02/12/1998).

Mặt khác, việc các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực hiện các dự án phát triển nhà ở lại là một nhu cầu thực tế của thị trường, vừa tăng cung nhà ở cho các đô thị nước ta, vừa là đòi hỏi của quá trình hội nhập. Một số dự án xây dựng kinh doanh nhà ở do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đã được cấp có thẩm quyền cho phép triển khai như các dự án thí điểm, ví dụ như dự án khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng.

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ, KINH TẾ MỞ VÀ PHÁT TRIỂN

TRẦN HỮU DŨNG (1)

Tóm tắt: Trong bài này tác giả lược duyệt những phân tích kinh tế căn bản về quyền sỡ hữu trí tuệ (QSHTT), đăc biệt là bằng phát minh, trong khung cảnh một nền kinh tế mở và đang phát triển.  Trước hết, những đặc tính của sở hữu trí tuệ được xem xét, và lý do tại sao nhà nước phải đảm nhận việc bảo vệ quyền này.  Kế tiếp, tác động của QSHTT trong một nền kinh tế mở đuợc phân tích, nhất là ảnh hưởng của nó đến xuất nhập khẩu, FDI, phân biệt đối xử, và toàn cầu hoá.  Cuối cùng, bài  đề cập đến liên hệ giữa QSHTT và phát triển kinh tế

Phản ảnh xu thế ngày càng quan trọng của nền “kinh tế tri thức” trong đó trí tuệ là nòng cốt, quyền sở hữu trí tuệ[2] (QSHTT) đã trở thành một vấn đề nổi bật trong nội bộ nhiều quốc gia,[3] và đầu mối của nhiều tranh chấp quốc tế.[4] .

Ở cấp vi mô, vấn đề QSHTT "bốc nóng" phần lớn là do đòi hỏi của các nhà sản xuất.[5] (nhất là các công ty đa quốc gia) vì nhiều thúc bách . Thứ nhất, sở hữu trí tuệ là một lợi thế độc quyền ngày càng quan trọng, khi những lợi thế khác (như khả năng chia cắt thị trường) ngày càng yếu.  Thứ hai, đa số nghiên cứu phát minh ngày càng tốn kém, mà sao chép,[6] mô phỏng[7] lại ngày càng dễ dàng[8].  Vì những biện pháp bảo mật thông thường không còn công hiêu, tư doanh cần hậu thuẩn của nhà nước để bảo vệ sở hữu trí tuệ. Thứ ba, hầu hết công ước quốc tế về QSHTT là đã khá lâu đời, có nhu cầu cập nhật, bổ sung để ứng phó với những công nghệ, những hoạt động kinh tế mới.

Ở cấp vĩ mô, vai trò của QSHTT trong các tranh chấp quốc tế là do sự khác biệt quyền lợi giữa  những nước đã phát triển, công nghệ cao, và những nước chưa phát triển, cần du nhập và mô phỏng công nghệ nước ngoài.

Đối với đa số các nước đã phát triển thì QSHTT là cần thiết cho tiến bộ công nghệ, lợi cho kinh doanh, tốt cho xã hội.  Hơn nữa, theo họ, QSHTT (nhất là bằng phát minh) cũng là tốt cho các nước kém phát triển: nó khuyến khích phát minh ở các nước ấy, thu hút đầu tư từ ngoài, du nhập công nghệ mới.  Do đó, nói chung, lập trường của các nước đã phát triển là QSHTT phải rộng rãi và được thực sự bảo vệ.

Continue reading