HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 4: TRANH LUẬN VỀ CHỦ QUYỀN LIÊN BANG VÀ NHIỆM KỲ CỦA HẠ NGHỊ SĨ

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 21 tháng Sáu năm 1787

Ngày 21 tháng Sáu, các đại biểu đã tranh luận về việc duy trì hay xóa bỏ chính quyền tiểu bang và nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ. Nói chung, hầu hết các đại biểu đều mong muốn duy trì chính quyền tiểu bang để kiểm soát và điều hành những vấn đề địa phương.

Còn đối với Hạ viện, những phân tích về thời gian nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ là rất cụ thể và sâu sắc. Các đại biểu đã phân tích mọi khía cạnh của việc bầu cử Hạ nghị sĩ và tình hình nước Mỹ để xác định nhiệm kỳ thích hợp nhất, vừa đảm bảo hiệu quả của Hạ viện, vừa đảm bảo các cuộc bầu cử được tiến hành thuận lợi và ít tốn kém.

Bác sĩ JOHNSON: Việc so sánh hai phương án đề xuất của Virginia và New Jersey cho thấy Phương án New Jersey được tính toán để duy trì quyền lợi riêng rẽ của các tiểu bang. Phương án của Virginia không định xóa bỏ chính quyền các tiểu bang, nhưng có lẽ là đi theo hướng này.

Chỉ riêng Ðại tá Hamilton, với việc chỉ trích Phương án New Jersey, đã mạnh mẽ tranh luận và kiên quyết đòi xóa bỏ chính quyền tiểu bang. Ngài Wilson và một đại biểu từ Virginia [Ngài Madison], cũng phản đối Phương án New Jersey ở mức độ khác nhau. Họ muốn các tiểu bang vẫn giữ một phạm vi quyền lực nhất định, dù chỉ là những quyền không quan trọng. Tuy nhiên, họ không chỉ ra những quyền này bao gồm những quyền gì để bảo đảm các tiểu bang không thể chống lại thẩm quyền liên bang.

Nếu những quyền dành cho các tiểu bang đó chỉ để làm hài lòng những người ủng hộ mô hình New Jersey rằng các tiểu bang riêng rẽ sẽ không bị nguy hiểm thì nhiều lập luận của họ, không nghi ngờ gì nữa, cần phải loại bỏ. Ông muốn xem xét kỹ lưỡng liệu các tiểu bang, như trong trường hợp đề xuất, ít nhất vẫn duy trì được một mức độ quyền lực nào đó thì những quyền này có được đảm bảo không nếu không cho họ tham gia một cách hiệu quả vào chính quyền trung ương và không trao cho họ một lá phiếu bình đẳng trong các hội đồng liên bang để tự bảo vệ mình.

Continue reading

BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NÔNG DÂN, NÔNG THÔN HIỆN NAY

NAM SƠN

Giai cấp nông dân hiện nay là sự phát triển kế tục từ giai cấp nông dân thời kỳ tập thể hóa. Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới, sự vận động, phát triển của giai cấp nông dân nước ta gắn liền với sự phân tầng, phân nhánh ngày càng đa dạng.

Sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với những thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội, xã hội Việt Nam cũng đã diễn ra một quá trình biến đổi toàn diện cả ở tầm vĩ mỗ và vi mô, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Giai cấp nông dân, với số lượng đông đảo nhất trong xã hội cũng chịu tác động mạnh mẽ dẫn đến sự biến đổi cơ cấu trong nội bộ cũng như tạo thành những hệ quả phong phú, phức tạp ở khu vực nông thôn.

Công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ta đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, to lớn chưa từng thấy. Đó là sự biến đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ một cơ cấu kinh tế gồm hai thành phần với hai hình thức sở hữu sang nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau; từ một xã hội truyền thống khép kín sang xã hội hiện đại, mở cửa và hội nhập; từ một cơ cấu xã hội hai giai cấp, một tầng lớp sang xã hội cùng tồn tại nhiều giai tầng khác nhau… Tất cả những biến đổi kinh tế – xã hội ấy đến lượt nó lại trở thành nguyên nhân, điều kiện thúc đẩy những biến đổi cơ cấu xã hội của nông dân và khu vực nông thôn – bộ phận cư dân lớn nhất, vốn có những tập quán truyền thống lâu đời nhất, với những thiết chế văn hóa và liên kết xã hội chặt chẽ nhất ở nước ta.

Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp nông dân hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu thực tế có thể thấy, những năm vừa qua cơ cấu xã hội của giai cấp nông dân nước ta biến đổi theo những phương hướng sau đây:

Một là, xu hướng giảm tương đối về tỷ lệ và tuyệt đối về số lượng nông dân trong cơ cấu xã hội và dân cư nước ta.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 132/BXD-KTXD NGÀY 27 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

Kính gửi:

 Trường Đại học Tây Bắc

Bộ Xây dựng đã nhận được công văn số 516/ĐHTB ngày 31/8/2009 của Trường Đại học Tây Bắc về hướng dẫn thực hiện hợp đồng xây dựng. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Việc điều chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng thực hiện theo thoả thuận trong hợp đồng được ký kết giữa các bên. Trường hợp trong hợp đồng ký giữa các bên không quy định cụ thể thì việc kéo dài thời gian thi công do mưa lũ, mất điện, nước thi công, đường tạm thi công bị sạt lở được điều chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng.

2. Nếu việc điều chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng đã được quy định trong hợp đồng thì chủ đầu tư quyết định việc điều chỉnh, các trường hợp khác do người quyết định đầu tư quyết định.

3. Khi được phép điều chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng thì các khối lượng thực hiện trong thời gian điều chỉnh hợp đồng được thực hiện theo các quy định tại Thông tư số 16/2005/TT-BXD ngày 13/10/2005 và Thông tư số 07/2006/TT-BXD ngày10/11/ 2006 của Bộ Xây dựng về Hướng dẫn điều chỉnh dự toán xây dựng công trình.

Căn cứ hướng dẫn trên, Trường Đại học Tây Bắc tổ chức thực hiện theo quy định./.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KINH TẾ XÂY DỰNG
Phạm Văn Khánh

ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÒN PHIỀN HÀ

NGUYỄN HUỲNH HUYỆN

Hơn 2 năm thi hành Nghị định 158 của Chính phủ, những vướng mắc phát sinh trong quá trình đăng ký và quản lý hộ tịch đã cơ bản được khắc phục. Tuy nhiên, quá trình giải quyết các thủ tục đăng ký hộ tịch cho người dân ở cơ sở vẫn nảy sinh sai sót, vướng mắc.

Trước hết là việc cấp khai sinh theo yêu cầu công dân. Theo Điều 13 của Nghị định 158 thì trách nhiệm và thẩm quyền đăng ký khai sinh cho công dân thuộc UBND cấp xã, tuy nhiên một số địa phương vẫn chưa thực hiện đúng quy định này, cụ thể vẫn còn đặt ra một số thủ tục hành chính mà luật pháp không quy định như: phải xác minh trước khi đăng ký, yêu cầu xuất trình sổ hộ khẩu, hoặc chứng minh nhân dân… Có nơi, để được thực hiện đăng ký khai sinh còn phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nghĩa vụ lao động, hoặc các khoản phí và lệ phí khác của địa phương… Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có văn bản chỉ đạo và nghiêm cấm, khi thực hiện đăng ký khai sinh, UBND cấp xã không được đặt ra một điều kiện ràng buộc nào để hạn chế quyền được khai sinh của trẻ em.

Nghị định 158 của Chính phủ còn quy định, giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó. Tuy nhiên, một số cơ quan chưa coi giấy tờ hộ tịch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Cụ thể, theo quy định, những giấy tờ khác của công dân như hộ khẩu, chứng minh nhân dân, các chứng chỉ, bằng cấp, lý lịch… phải căn cứ vào giấy khai sinh gốc để cải sửa cho phù hợp, nhưng một số nơi, Ngành Giáo dục, Công an, Lao động, Thương binh – Xã hội… không căn cứ vào giấy khai sinh (bản chính) để cải sửa, lại hướng dẫn cho công dân làm các thủ tục khác để cải chính, gây tốn kém thời gian, không đúng quy định pháp luật.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: KHÔNG LẬP HỢP ĐỒNG, MẤT CẢ TỶ ĐỒNG

HOÀNG LAM

Dù con nợ đã ký nhận số tiền vay nhưng chủ nợ vẫn thua kiện ở hai cấp tòa.

Chị Trương Thị X. (đường Cách Mạng Tháng Tám, quận 10, TP.HCM) có quan hệ họ hàng với vợ chồng bà O. Đầu năm 2008, chị X. nộp đơn kiện đòi vợ chồng bà O. trả cho mình hơn 1,4 tỷ đồng.

Bên buộc

Chị X. liệt kê cả thảy 13 lần giao tiền vay cho vợ chồng bà O. với tổng số tiền lên đến hơn 1,6 tỷ đồng. Các lần giao tiền này kéo dài từ giữa năm 2006 đến tháng 10-2007. Chị X. nói mình rất tin tưởng họ hàng nên không lập giấy nợ. Chị chỉ ghi số tiền cho vay vào sổ để tiện theo dõi. Có lần chồng bà O. còn đưa hai bản phôtô giấy đỏ để cấn trừ nợ nhưng chị từ chối.

Khi bên vay ngưng trả lãi, chị sốt ruột lui tới hỏi thăm thì được tin chồng bà O. đã bỏ trốn vì chuyện riêng. Để trấn an chị, bà O. cung cấp các địa chỉ nhà mà chồng mình thường lui tới. Cuối tháng 11-2007, bà O. trả cho chị X. 200 triệu đồng. Sang đầu tháng 12-2007, bà O. yêu cầu chị X. lập giấy biên nhận ghi rõ đã nhận 200 triệu đồng, được cấn trừ vào hơn 1,6 tỷ đồng tiền vay. Giấy biên nhận này có chữ ký của bà O. Như vậy, số tiền vay còn lại chưa trả là hơn 1,4 tỷ đồng.

Chị X. còn xuất trình được băng ghi âm thể hiện anh ruột của chồng bà O. hứa trả thay cho em mình 700 triệu đồng. Theo chị X., phải biết rõ số tiền vay thì người này mới chấp nhận gánh thay một số tiền lớn như thế.

Bên chối

Ngược lại, vợ chồng bị đơn hoàn toàn phủ nhận chuyện vay tiền. Chồng bà O. nói vì mâu thuẫn vợ chồng nên ông bỏ nhà đi nơi khác, không biết vợ mình cầm 200 triệu đồng trả cho chị X. Ông còn bảo hai bản phôtô giấy đỏ ông đưa chị X. là để nhờ chị rao bán đất giùm, không phải để cấn trừ nợ.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH: TỈNH THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THI HÀNH ÁN

HOÀNG YẾN

Pháp luật đang thiếu quy định cụ thể để xử lý, chế tài cơ quan quản lý nhà nước thua kiện nhưng không tôn trọng phán quyết của tòa.

Việc khởi kiện hành chính dường như là một việc bất đắc dĩ đối với người dân bởi không ít người có tâm lý là “con kiến kiện củ khoai”. Nhưng một khi đã thắng kiện, để được thi hành án cũng là một hành trình đầy gian nan, mệt mỏi như vụ việc dưới đây của vợ chồng ông Phạm Ngọc Dũng, ngụ TP Vũng Tàu.

Long đong khiếu nại mới được đền bù

Theo hồ sơ, tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thu hồi gần 60.000 m2 đất tại phường 6, TP Vũng Tàu (trong đó có hơn 30.000 m2 đất nông nghiệp của vợ chồng ông Dũng) để giao cho Công ty cổ phần Phát triển nhà tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu sử dụng. Sau đó, vợ chồng ông Dũng không được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đền bù giá trị quyền sử dụng đất, chỉ được hỗ trợ một lần giá đất nông nghiệp và bồi thường hoa màu, vật kiến trúc trên đất, tổng cộng khoảng 500 triệu đồng.

Tháng 5-2006, vợ chồng ông Dũng khiếu nại đến UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu về việc không được đền bù giá trị quyền sử dụng đất. Chủ tịch UBND tỉnh này công nhận khiếu nại của vợ chồng ông là đúng và tháng 4-2007 đã ra Quyết định 1477 hỗ trợ bổ sung đền bù thêm cho vợ chồng ông hơn 2,3 tỷ đồng.

Cho rằng UBND tỉnh áp giá và xác định vị trí loại đường để bồi thường chưa đúng, vợ chồng ông Dũng tiếp tục khiếu nại. Tháng 12-2007, chủ tịch UBND tỉnh chấp nhận một phần nội dung khiếu nại, ra Quyết định 4678 điều chỉnh lại giá và nâng tổng kinh phí bồi thường lên hơn 6,8 tỷ đồng.

Thắng kiện lại không được thi hành án

Vợ chồng ông Dũng vẫn cho rằng UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu áp dụng sai vị trí đất để bồi thường nên tháng 1-2008 đã khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh này hủy cả hai quyết định 1477 và 4678 của UBND tỉnh.

Continue reading

QUẢN TRỊ CÔNG TY TỐT, PHẢI TẠO RA SỰ ĐỒNG THUẬN

TRẦN BAN MAI

Đầu năm 2009, ông Phạm Xuân Hồng, Tổng giám đốc Công ty May Sài Gòn 3, đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các thành viên trong hội đồng quản trị (HĐQT) với lý do, ông không cắt giảm bớt công nhân, khi công ty không có đơn hàng sản xuất.

Hiện nền kinh tế bắt đầu phục hồi, ngành may có thêm nhiều đơn hàng xuất khẩu mới, doanh nghiệp lao đao vì thiếu lao động, những thành viên của HĐQT Công ty Sài Gòn 3 mới tin ông Hồng đã đúng.

“Quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam rất khó. Nếu không tìm sự đồng thuận ở công ty, coi như mình thua và không làm gì được…”, ông Hồng nói. Sự đồng thuận ở đây không chỉ ở các thành viên của HĐQT, mà tính luôn cả quản lý cấp trung trong công ty. Từ trưởng phòng các bộ phận, chuyền trưởng của một chuyền may cho đến công nhân phải đồng thuận được với nhau và cùng đồng tâm hiệp lực vượt qua khó khăn.

Làm thế nào để tạo ra được sự đồng thuận này? Ông Hồng cho rằng, mỗi công ty cần phải có một nền tảng tốt. Nền tảng này được tạo dựng qua thời gian, thời gian để các thành viên hiểu nhau, lắng nghe và tôn trng ý kiến lẫn nhau.

Nhưng đi đôi với những lý thuyết về quản trị, người đứng đầu công ty phải biết “lắng nghe” và chia sẻ với các thành viên khác. Lý luận phải đi đôi với thực tiễn, nếu lãnh đạo công ty chỉ biết nói hay, “cả vú lấp miệng em” mà không mang lại lợi ích tập thể cho công ty thì những mớ lý thuyết suông kia sẽ gây hại cho người đứng đầu công ty.

Dĩ nhiên, trong thực tế, việc thực hiện những chiến lược mà lãnh đạo công ty đưa ra phải xét đến tính hiệu quả và khả thi trong nguồn lực cho phép của doanh nghiệp. Tổng giám đốc phải đưa ý kiến ra bàn luận với HĐQT, điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu của HĐQT mà vẫn không đi chệch khỏi quỹ đạo công ty vạch ra.

Continue reading