THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG

NGUYỄN ĐỨCTUẤN – Tổng Giám đốc Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ

1. Sự hình thành và thực trạng của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam

1.1. Sự hình thành và phát triển

Bắt đầu từ năm 1986 Việt Nam đã chính thức thực hiện chính sách “Đổi mới”, với trọng tâm là chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Chính sách đổi mới đã thực sự có tác động tích cực đối với toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, đem lại sự ổn định và tăng trưởng kinh tế cao, đời sống người dân được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 10 năm qua đạt trên 7% và trong năm 2007 đạt 8,5%; thu nhập bình quân theo đầu người tăng từ 423 đô la Mỹ năm 2001 lên 835 đô la Mỹ năm 2007; lạm phát được kiềm chế và kiểm soát; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 32% năm 2000 và còn 14,7% vào năm 2007. Tăng trưởng kinh tế cùng với việc xoá bỏ dần cơ chế bao cấp đã thúc đẩy nhu cầu và sự ra đời của thị trường bảo hiểm nhân thọ của người dân Việt Nam.

Năm 1996 đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bằng việc Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ. Đáp lại yêu cầu của quá trình mở cửa và hội nhập cũng như yêu cầu phát triển của bản thân ngành bảo hiểm nhân thọ. Sau thời gian thí điểm, Bộ Tài chính đã lần lượt cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài (trong năm 1999 cấp giấy phép cho 3 doanh nghiệp là Prudential, Manulife, Bảo Minh – CMG – nay là Daiichi Life), sau đó là AIA (năm 2000), Prevoir, ACE Life, Great Eastern Life và Cathay Life. Đến nay trên thị trường đã có 09 doanh nghiệp hoạt động và theo dự báo sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được cấp giấy phép hoạt động trong thời gian tới.

Continue reading

BẢO HIỂM VIỆT NAM – Thực trạng và giải pháp phát triển

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NĂM 2003

SV THỰC HIỆN GV HƯỚNG DẪN
BÙI NHẬT ANH – K38 ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TS. VŨ SĨ TUẤN

Lời mở đầu

Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động.

Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam để từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.

Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, và với lòng yêu thích môn học Bảo hiểm, em xin được chọn nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình, với nội dung:

Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm

Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam

Continue reading

BẢO HIỂM VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NĂM 2003

SV THỰC HIỆN GV HƯỚNG DẪN
BÙI NHẬT ANH – K38 ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TS. VŨ SĨ TUẤN

Lời mở đầu

Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động.

Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam để từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.

Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, và với lòng yêu thích môn học Bảo hiểm, em xin được chọn nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình, với nội dung:

Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm

Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam

Continue reading

HIẾN PHÁP MỸ ĐƯỢC LÀM RA NHƯ THẾ NÀO? – PHẦN 11: PHÁC THẢO BẢN HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN

NGUYỄN CẢNH BÌNH

Ngày 06 tháng Tám năm 1787

Ngày 26 tháng Bảy, sau gần hai tháng thảo luận căng thẳng, cuối cùng, Hội nghị cũng đạt được thỏa thuận tại các điểm chính yếu nhất. Cùng ngày, các đại biểu bầu ra Ủy ban chi tiết để xây dựng bản dự thảo Hiến pháp trên cơ sở những điều đã được thống nhất, bao gồm 5 người: Nathaniel Gorham; John Rutledge, Chủ tịch Ủy ban này; Edmund Randolph; James Wilson và Oliver Ellsworth.

Sau 10 ngày nghỉ họp để Ủy ban này soạn thảo, ngày 6 tháng Tám, bản phác thảo đầu tiên đã được đệ trình lên Hội nghị. Đây là một văn bản khá rắc rối và dài dòng nếu so sánh với bản Hiến pháp sau này. Suốt một tháng sau đó, các đại biểu đã tranh luận và chỉnh sửa từng câu chữ, từng điều khoản cho tới khi mọi điều được hoàn tất vào ngày 8 tháng Chín.

Ngài RUTLIDGE trình bày bản Báo cáo của Ủy ban chi tiết:

"Chúng tôi, công dân các tiểu bang New Hampshire, Massachussetts, Rhode-Island và các đồn điền quan phòng, Connecticut, New York, New-Jersey, Pennsylvania, Delaware, Maryland, Virginia, Bắc Carolina, Nam Carolina, và Georgia, tuyên bố thiết lập bản Hiến pháp cho chính quyền của chúng tôi và cho sự thịnh vượng của chúng tôi.

Điều I

Tên gọi của chính quyền là "Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" (The United States of America).

Điều II

Chính quyền sẽ có các thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tối cao.

Điều III

Quyền lực được trao cho Quốc hội, gồm hai Viện riêng biệt, một Hạ viện và một Thượng viện, có quyền phủ quyết mọi đạo luật của nhau. Cơ quan lập pháp sẽ nhóm họp vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Mười hai hằng năm.

Continue reading

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

PHÙNG ĐẮC LỘC

I.   Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm

1. Suy thoái kinh tế toàn cầu tiếp tục ảnh hưởng tới nền kinh tế xã hội

Sản xuất kinh doanh bị giảm sút nghiêm trọng trong khi nền kinh tế Việt Nam trước đây có đến 70% tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu hướng tới thị trường quốc tế nay đã bị thu hẹp. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh thu hẹp quy mô sản xuất, người lao động không có việc làm thường xuyên nên thu nhập bị giảm sút. Tình hình này ảnh hưởng lớn tới khả năng tài chính của các cơ sở, cá nhân người tham gia bảo hiểm. Ngành đóng tàu, vận tải biển, hàng không, than khoáng sản…. không có khả năng đóng phí bảo hiểm hoặc nợ đóng phí bảo hiểm với số lượng lớn. Khai thác bảo hiểm nhân thọ gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng tiềm năng cũng như số ít khách hàng tham gia bảo hiểm không còn đủ khả năng đóng phí bảo hiểm.

2. Các giải pháp của Chính phủ đã tháo gỡ khó khăn tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội.

Chính phủ chỉ đạo nghiêm túc thực hiện 5 nhóm giải pháp cùng việc thực hiện các gói kích cầu trị giá 8 tỉ USD tạo ra sự chuyển biến tích cực, ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, GDP tăng trưởng 3,9%, xuất khẩn 27,6 tỉ USD giảm 10,1%, nhập khẩu 29,7 tỉ USD giảm 34%, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt 8,9 tỉ USD giảm 77,4%, sản xuất công nghiệp 342 ngàn tỉ đồng tăng 4,8%, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tăng 8,8%, chỉ số giá tiêu dung tăng 10,2% so với cùng kỳ.

3. Chế độ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày một hoàn thiện.

Ban hành Thông tư liên tịch số 35/2009/TTLT-BTC-BCA ngày 25/2/2009 hướng dẫn một số điều của Nghị định 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới, Ban hành Thông tư 86/2009/TT-BTC ngày 28/4/2009 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 155 và Thông tư 156, Ban hành Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 5/5/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, Ban hành TT 103/2009/TT-BTC ngày 25/5/2009 quy định việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm Xe cơ giới, Ban hành Thông tư số 10/2009/TT-BTC ngày 21/1/2009 hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân đối với đai lý bảo hiểm.

Continue reading

NHỮNG TẬP TỤC ĐẶC BIỆT TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI GIẺ TRIÊNG

DƯƠNG THỦY

Người Giẻ Triêng là một dân tộc thiểu số sống tập trung ở phía Bắc tỉnh Kon Tum. Tộc người này cư trú chủ yếu ở vùng núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế tự túc, tự cấp là chủ yếu. Vì vậy người Giẻ Triêng vẫn giữ được những nét văn hoá hết sức độc đáo trong đó có các nghi lễ trong hôn nhân.

Trong hôn nhân người Giẻ Triêng cấm kết hôn với người cùng dòng họ nhưng ý thức lấy vợ lấy chồng lại rất sớm. Trước đây, tuổi kết hôn của tộc người này từ 15 – 16 tuổi. Hôn nhân chủ yếu do bố mẹ “đặt đâu con ngồi đấy” và vẫn yêu cầu “môn đăng hậu đối”. Đôi trai gái khi yêu nhau, nếu được bố mẹ đồng ý thì hai gia đình chuẩn bị lễ cưới. Lễ cưới phải giữ bí mật với người ngoài. Theo phong tục thì lễ đính hôn được tổ chức bất ngờ bao nhiêu thì đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc bấy nhiêu. Tuy nhiên, hiện nay lớp trẻ có phần chủ động hơn trong hôn nhân của mình.

Trong hôn nhân của người Giẻ Triêng có hai tập tục hết sức độc đáo đó là: Bó củi hứa hôn và trao vòng cầu hôn.

Ngoài các tiêu chuẩn phải biết đan chiếu, dệt vải, các cô gái còn phải chuẩn bị cho mình các bó củi hứa hôn. Đây là việc làm rất quan trọng mà các bà mẹ thường dạy con gái.

Trước đây quy định là 100 bó, mỗi bó phải một người vác nặng thì cô gái mới bắt được chồng. Đây là loại củi dài khoảng 80cm, thẳng đẹp, cháy phải đượm. Khi chặt cây các cô phải dùng dao sắc để chặt . Điều này chứng tỏ cô gái có sức khoẻ và khéo léo. Để có đủ số củi quy định các cô gái phải chuẩn bị củi trong khoảng từ hai đến ba năm. Ngày nay, củi được chẻ từ các cây gỗ to và bó thành từng bó, xếp lại trông rất đẹp mắt. Trong trường hợp không chuẩn bị kịp thì có thể nhờ các bạn gái trong làng giúp đỡ.

Continue reading

TÌM KIẾM MÔ HÌNH MỚI VỀ TOÀN CẦU HÓA, PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

GS. G.F.MCLEAN – Chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu Triết học và Giá trị, Trường Đại học Công giáo Hoa Kỳ

Trong quá trình luận giải nhằm “Tìm kiếm mô hình mới về toàn cầu hoá”, tác giả đã nhận ra và khẳng định rằng, châu Á – Thái Bình Dương hiện đang đóng một vai trò cốt yếu; rằng, ở phương Đông, cảm nhận về tổng thể rất sống động, rất đặc trưng và đó là một đóng góp quan trọng của khu vực này. Từ những phân tích lý luận, cả ở phương Đông và phương Tây, tác giả bài viết đã xác định những đặc điểm cơ bản của mô hình mới trong thời đại toàn cầu hoá, bao gồm: 1/ Nó không chỉ liên quan tới tính khách quan và quan hệ đối ngoại, mà là đặc điểm bên trong về tính chủ quan của con người; 2/ Nó là một tổng thể; 3/ Nó được đánh dấu bởi cảm nhận về sự hài hoà của phương Đông và 4/ Đó là mối quan tâm vô thượng mà nhờ vậy, mỗi dân tộc và nền văn hoá đều nỗ lực hướng tới một sự thống nhất.

Trong bước đi đầu tiên của chúng ta nhằm tìm kiếm một mô hình mới, tôi muốn khám phá độ hội tụ của hai sự thay đổi: một là, bổ sung sựđánh giá tổng thể bên cạnh việc tập trung vào từng phần; hai là, làm phong phú thêm sự khách quan bên ngoài bằng tính chủ quan bên trong. Liệu những truyền thống văn hóa châu Á – Thái Bình Dương có đóng góp gì vào việc này hay không? Nếu có thì đóng góp đó liệu có quan trọng đối với sự phát triển của một mô hình mới, cần thiết cho nhân loại sống trong một thời đại toàn cầu?

VẤN ĐỀ: MỘT THẾ GIỚI RẠN NỨT

Nếu thực sự thế giới là một tổng thể duy nhất mà mỗi phần của nó đều cân bằng với phần còn lại, thì vì sao nó lại bị xem như một khối rạn nứt và chia rẽ?

Tại Aten, thời cổ đại, việc hướng dẫn hành vi con người hiển nhiên là cần thiết. Lối nói hoa mỹ của các nhà ngụy biện cùng với chính sách mị dân kèm theo rõ ràng chưa đủ cho đời sống tại chính thể cộng hòa này; thực ra, bản thân Xôcrát cũng bị xử tử hình. Trước tình hình đó, Platôn đã đưa ra thuyết về một số ý tưởng bất biến để tham khảo: sự thống nhất và lòng tốt, sự thật và công bằng. Rất tiếc là, để có được những hướng dẫn vững chắc này đối với hành vi con người, ông đã tách chúng ra khỏi quá trình sống của con người, coi chúng như những đối tượng hay đồ vật tương phản và ở trên tầm chúng ta. Thậm chí cả thần thánh hay những vĩ nhân lớn nhất cũng cho những ý tưởng này là quá tầm và tương phản. Arixtốt đã chuyển trọng tâm trước mắt tới các vật thể và đồ vật hữu hình, rõ ràng và có thể cảm nhận được bằng các giác quan(1). Kết quả là đã có một định hướng khách quan ở phương Tây ưu tiên quan hệ với các đối tượng bên ngoài, còn thế giới bên trong của tinh thần chỉ xuất hiện một cách gián tiếp và khó khăn. Tuy vậy, hệ thống thứ bậc vẫn có chỗ dành cho Đấng Tối cao cai trị thế giới và đời sống con người.

Continue reading

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ HÓA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

PGS.TS. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu, khách quan và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thực hiện dân chủ là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Không có nhà nước pháp quyền thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi và bền vững. Dân chủ đóng vai trò cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển của nhà nước pháp quyền. Đối với nước ta, dân chủ hoá xã hội vừa là điều kiện tiên quyết để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa là biện pháp căn bản để đẩy nhanh sự phát triển của đất nước.

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi tất yếu, khách quan và phù hợp với xu thế phát triển lịch sử chung của xã hội loài người, bởi nhà nước pháp quyền là một giá trị chung của nhân loại trên con đường phát triển tiến bộ. Ở nước ta vẫn đang tồn tại quan niệm xem nhà nước pháp quyền như là một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, do đó nó là cái đã lỗi thời, không tiến bộ, trái ngược và không thích dụng với chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như thái độ không đúng trước đây về kinh tế thị trường, quan niệm sai trái như vậy về nhà nước pháp quyền đang gây cản trở đối với tiến trình phát triển xã hội nói chung, cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân nói riêng.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”(1). Như vậy, đối với nước ta hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách. Bởi vì nhà nước luôn là "một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất"; đồng thời, là vấn đề "rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ hệ thống chính trị"(2). Thậm chí, ở một góc độ nhất định, có thể nói, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân ở nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của chế độ, của Đảng Cộng sản. Điều này thể hiện rõ trong thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng, chống lại một trong bốn nguy cơ lớn của Đảng và chế độ suốt nhiều năm qua cũng như trong việc kiện toàn, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước. Có thể nói rằng, nếu chúng ta không tạo dựng được một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân thì trong tương lai, xã hội ta, dân tộc ta có thể sẽ phải chịu những hậu quả mà hiện nay khó lường được.

Continue reading

SUY NGHĨ VỀ LƯƠNG HƯU

BÙI BÌNH THI

Hưu, có gốc Hán Việt nghĩa là nghỉ ngơi, nghĩa là thôi. Ngày xưa khi mà một đôi vợ chồng nọ chê nhau rồi đâm đơn ra toà xin ly hôn. Khi toà xử cho ly hôn, nhân viên toà án gọi cả vợ lẫn chồng đến và nói: “Mời ông và bà đến nhận mỗi người một tờ hưu thư. Người công quyền, người ta tránh nói là tờ chứng ly hôn. Vì muốn sao nghe nó vẫn làm đau lòng người. Còn bây giờ thì tha hồ thoải mái muốn gọi thế nào cũng được.

Bấy lâu nay trong bàn dân thiên hạ, người ta vẫn chia ra làm hai loại người: Người còn đương làm tại tất thảy các công sở từ phường, quận, tỉnh (Thành phố) và các công sở cấp nhà nước, thì gọi là những người đương nhiệm, hoặc đang tại chức, và lĩnh lương nơi công sở để nuôi sống bản thân và có chăng thì một ít đồng cho con cái, chi dùng vào nhu cầu hàng ngày của đời sống bản thân người đó thì gọi là lương. Còn loại người từ sáu mươi tuổi trở lên cho nam và năm mươi lăm tuổi cho nữ thì được về hưu. Nghĩa là thôi mọi công việc ở cơ quan mà bản thân người đó vẫn làm trong suốt ba mươi năm, bốn mươi năm, cả năm mươi năm đi. Về nhà nghỉ ngơi, ấy tiếng là nghỉ ngơi, nhưng chỉ là nghỉ là thôi mà lại không thể là ngơi được. Vì cái từ ngơi nó hàm ý như thảnh thơi, thong dong, nhàn nhã v.v.

Vâng? Sao mà lại như thế? Các cụ nói ngụ ý: “Có thực mới vực được đạo”. Đạo ở đây là cái đạo ngơi với các nghĩa như trên. Những như tôi, tôi cũng đang hưu rồi, nghỉ và thôi làm việc nhà nước rồi nhưng cũng chẳng thấy ngơi một tẹo nào, vì như hết thảy mọi viên chức quèn của nhà nước, đồng lương khi đi làm đã thiếu rồi, khi về còn eo hẹp hơn, sống một cuộc sống so súi, nói cho tợn, những năm tháng dằng dặc trong cơ chế thì đồng lương mà ai ai cũng thu nhận được chỉ có tính chất như trợ cấp, chứ chưa bao giờ là lương với đúng nghĩa của nó.

Continue reading

ĐỂ SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ TIẾP CẬN CHO NGƯỜI DÂN DỄ HƠN

NGUYỄN TIẾN HÙNG – Trưởng Bộ môn Bảo Hiểm – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. “Tính khó hiểu” hay “khó tiếp cận” của hợp đồng bảo hiểm nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng đối với người dân

1.1. Trên phương diện lý luận

1.1.1. Tính “Khó hiểu” – Hệ qủa của các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm nói chung

– Thứ nhất, tính may rủi (aléatoire/ aleatory) gắn liền với biến cố không chắc chắn. Chính vì vậy mà nhà bảo hiểm khi chấp bút phải đưa ra nhiều tình huống giả định (nếu thế này thì.., nếu thế kia thì…, ngoại trừ…. v..v…). Điều này làm cho câu văn sử dụng để diễn đạt luôn là câu phức, hơn nữa, nhà bảo hiểm miêu tả các trường hợp giả định ở mức độ khái quát cao làm người đọc phải cố gắng hình dung ra các trường hợp đó. Tất nhiên, vì trình độ rất khác nhau và lĩnh vực hoạt động rất khác nhau nên không phải ai nếu không nói là ít người có thể có trình độ, hiểu biết chuyên môn đầy đủ để hiểu tường tận một cách thống nhất với nhà bảo hiểm. Sự khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm, vì vậy, e rằng khó tránh khỏi;

– Thứ hai, tính gia nhập cho thấy hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu, mở sẵn và do nhà bảo hiểm chấp bút (và được Bộ Tài chính chấp nhận) chứ không phải hình thành từ việc đàm phán trực tiếp của hai bên như các hợp đồng mua bán khác. Điều này đòi hỏi người mua bảo hiểm phải đọc thật kỹ để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trước khi ký kết và trong khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Nhưng, ngay cả khi đọc kỹ, nếu không có sự giúp đỡ, tư vấn của người hoạt động chuyên ngành, chưa chắc người mua bảo hiểm có thể hiểu đúng và thống nhất với người chấp bút các điều khoản.

Continue reading

GIỚI THIỆU VỀ TÁI BẢO HIỂM

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA ĐƯỢC CẬP NHẬT

CHƯƠNG I

BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TÁI BẢO HIỂM

I. BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÁI BẢO HIỂM

1. Bản chất của tái bảo hiểm

Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế. Nó bao gồm các quá trình phân phối lại nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo của xã hội. Đặc trưng của nó là việc thành lập mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai phát sinh ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra.
Phân tích sâu hơn ta thấy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bản sau:

– Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viên tham gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm). Phí này được tính dựa trên quy luật thống kê (bao gồm thống kê tổn thất và mức độ trung bình của các tổn thất, thống kê các đơn vị rủi ro) và nguyên tắc cân đối (có nghĩa là tổng số phí thu phải bằng tổng số tiền chi trả bồi thường).

– Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phối quỹ cho những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và hay xảy ra.
Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiến hành việc lập, quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm. Do có đặc thù trên nên bảo hiểm có sự đóng góp nhất định vào việc đảm bảo tính liên tục, sự ổn định và hiệu quả của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội. Dựa theo các rủi ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quá trình tiến hành bảo hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thành một hệ thống độc lập của nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi là ngành kinh tế bảo hiểm). Một trong những loại hình đó là tái bảo hiểm.

Continue reading

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA

THS. HUỲNH THANH SINH – Trường Cán bộ TPHCM

Gia đình là một khái niệm mà các nhà xã hội học rất khó định nghĩa, tuy bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính toàn diện cho gia đình là rất khó. Tuy nhiên ta có thể định nghĩa nó trong một hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn ở những nước Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội, thì ngược lại ở các nước Châu Âu gia đình chỉ được xem như là một nhóm xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội thuộc một trong năm thiết chế cơ bản là: Nhà nước, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình.

Trong lịch sử, gia đình với quan hệ hôn nhân hình thành sau khi chế độ thị tộc tan rã do sự tác động của lực lượng sản xuất và các yếu tố xã hội khác. Từ đó đến nay, lịch sử xã hội loài người cả phương Đông lẫn phương Tây đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm, sự chuyển đổi của một vương triều, sự chuyển đổi hoặc giao thoa giữa các nền văn minh. Nhưng gia đình vẫn tồn tại và liên tục phát triển, nó khẳng định được giá trị bất biến như là một nền tảng xã hội, cơ sở tiệm tiến của xã hội qua mọi thời đại. Điều này, giúp chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn bản chất, chức năng của gia đình, nhằm phát huy giá trị của nó trong điều kiện hiện nay.

Khác với phương Tây, kết cấu gia đình Việt Nam là một thành phần rộng lớn bao gồm những người cùng huyết thống như cha mẹ, ông bà, thuộc hàng trên; con cái, cháu chắt thuộc hàng dưới; gia đình theo chế độ phụ hệ, người đàn ông đóng vai trò chủ đạo, có trách nhiệm chính trong việc gìn giữ trật tự, nề nếp gia phong. Có một khoảng thời gian dài, nó được coi là môi trường thu nhỏ nhằm vào mục đích giáo dục con cái từ lúc lọt lòng đến khi trưởng thành.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: TÍNH LÃI SUẤT “TRÊN TRỜI”

HOÀNG YẾN

Tòa phát hiện ngân hàng tính lãi “trên trời” làm khách hàng mắc nợ gần gấp đôi so với hợp đồng.

TAND quận Gò Vấp (TP.HCM) vừa xử sơ thẩm một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần T. với khách hàng L.Đ.H. Vụ án này đáng chú ý ở chỗ là nhờ tòa mà con nợ của ngân hàng đã được minh oan cho khoản nợ bị ngân hàng tính lên gần gấp đôi so với thực tế.

Rút tiền nhưng không thanh toán

Theo hồ sơ, tháng 2-2008, ông H. ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng T. Sau khi được cấp thẻ tín dụng (hạn mức 15 triệu đồng), ông H. đã rút gần 14,5 triệu đồng để tiêu xài.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng, hằng tháng ông H. có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ tối thiểu cho ngân hàng trước ngày đến hạn. Tháng 4-2008, ông H. thanh toán được khoảng 1,5 triệu đồng cho ngân hàng. Sau đó, ông không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, buộc ngân hàng phải nhiều lần gửi công văn, gọi điện thoại nhắc nhở.

Theo Ngân hàng T., việc ông H. không thực hiện việc thanh toán là đã vi phạm hợp đồng nên ngân hàng tạm thời chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông H. và tiến hành thu nợ. Tháng 7-2009, ngân hàng khởi kiện, yêu cầu tòa buộc ông H. phải trả ngay hơn 37 triệu đồng cả nợ lẫn lãi còn thiếu.

Về phần mình, ông H. thừa nhận đã sử dụng số tiền gần 14,5 triệu đồng và từ cuối tháng 3-2008 đến nay ông chưa thanh toán cho ngân hàng. Ông trình bày rằng do hoàn cảnh khó khăn, ông không có khả năng trả ngay một lần hơn 37 triệu đồng mà ngân hàng đòi nên đề nghị được trả góp mỗi tháng 2 triệu đồng cho đến khi hết nợ.

Continue reading

SINH VIÊN ĐÁNH GIÁ GIẢNG VIÊN – PHÙ HỢP HAY KHÔNG?

TRẦN NAM HÀ

Dùng khái niệm "đánh giá" là một yêu cầu quá cao đối với sinh viên. Vì muốn đánh giá một sự vật, hiện tượng gì đó thì cần phải có tiêu chí, nội dung, phương pháp đánh giá. Hiện nay tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy ở các cấp học còn mỗi nơi một khác.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đề ra 10 giải pháp đổi mới quản lý giáo dục đại học, trong đó giải pháp thứ 7 có ghi rõ "Xây dựng quy định về hoàn thiện việc đánh giá quản lý giáo dục đại học: Sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên. Giảng viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường. Các đại học, cao đẳng tham gia đánh giá chỉ đạo quản lý của Bộ GD và ĐT, Bộ chủ quản và UBND tỉnh, TP nơi trường đóng". Việc đánh giá sẽ được triển khai từ tháng 5/2010.

Đây là một chủ trương mới, thể hiện đời sống sinh hoạt dân chủ trong các trường ĐH, CĐ được quan tâm hơn trước, hướng tới mục đích góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, riêng phần sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên, người viết bài này xin tham góp như sau.

1. Không nên dùng khái niệm "đánh giá" như trò đánh giá thầy, sinh viên đánh giá giảng dạy của giảng viên vì có người còn cho rằng trò "đánh giá" thầy thế nào được, nhất là các thầy giáo già, các giáo sư, tiến sĩ đã có tiếng, có tên tuổi trong nước và trên thế giới.

Tôi cho rằng dùng khái niệm "đánh giá" là một yêu cầu quá cao đối với sinh viên. Vì muốn đánh giá một sự vật, hiện tượng gì đó thì cần phải có tiêu chí, nội dung, phương pháp đánh giá. Hiện nay tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy ở các cấp học còn mỗi nơi một khác. Thực tiễn cho thấy, đánh giá giờ dạy ở bậc học phổ thông của các thầy, cô ở tổ chuyên môn sau khi dự một tiết dạy, cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau với nhiều lí do chủ quan và khách quan. Điều đó, đã biến không ít giờ dạy chưa đạt yêu cầu thành giờ dạy khá, tốt và ngược lại.

Continue reading

“GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT”: TOÀ ÁN TỐI CAO VỚI TƯ CÁCH LÀ CƠ QUAN THẨM ĐỊNH TÍNH HỢP HIẾN

A.E. DICK HOWARD

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ban hành nguyên tắc của chế độ bảo hiến – quyền quyết định tính hợp hiến trong các đạo luật – ngay trong một trong những phán quyết đầu tiên của Tòa. Một chuyên gia pháp lý nổi tiếng đề cập tới việc thực hiện chế độ bảo hiến của Tòa trong suốt 220 năm lịch sử của Tòa, trong đó có nhiều ví dụ từ thế kỷ XIX tới nay. Dù Tòa có nhiều phán quyết trong các vụ án cụ thể, song tác giả kết luận rằng “Vai trò đảm bảo chế độ pháp trị của Tòa đòi hỏi phải có sự nhất trí rộng rãi của người dân Hoa Kỳ”.

A.E. Dick Howard là Giáo sư Luật và Hành chính tại White Burkett Miller kiêm Giáo sư Luật tại Trung tâm Nghiên cứu Roy L. và Rosamond Woodruff Morgan, Đại học Virginia tại Charlottesville. Ông là chuyên gia trong lĩnh vực luật hiến pháp và Tòa án Tối cao. Từ năm 1985 đến 1992, ông là chủ tịch Hội đồng 200 năm Hiến pháp Hoa Kỳ tại Đại học Virginia.

Những người soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tuyên bố rõ ràng rằng văn bản này sẽ được coi là luật của các loại luật. Điều VI quy định Hiến pháp và các đạo luật “được ban hành theo Hiến pháp này” (cũng như các điều ước) sẽ là “Luật tối cao của quốc gia”. Các nhà soạn thảo Hiến pháp cũng trao quyền, tại Điều III, cho một Tòa án Tối cao và các tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập. Liệu hai điều khoản này, cùng được viện dẫn, có tạo điều kiện cho Tòa án Tối cao quyền hạn bác bỏ các văn bản luật, trong đó có các đạo luật của Quốc hội, được coi là mâu thuẫn với Hiến pháp hay không?

Nếu như các nhà soạn thảo Hiến pháp đã có chủ trương rõ ràng tại Hội nghị lập hiến năm 1787 tại Thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania rằng chính quyền liên bang mới cần phải có một ngành tư pháp thì họ lại dành rất ít thời gian để cân nhắc “quyền tư pháp” sẽ có phạm vi đến chừng mực nào. Họ dành thời gian nhiều hơn để tranh luận về quyền hạn mà chính quyền liên bang mới có thể có, cơ cấu của Quốc hội liên bang, việc cân bằng quyền lực giữa tiểu bang và liên bang và bản chất của cơ quan hành pháp liên bang mới. Khi Hiến pháp dự thảo được chuyển tới một số tiểu bang để thông qua thì các cuộc tranh luận về phê chuẩn lại tập trung chủ yếu vào các mối quan tâm về quyền lực của liên bang nói chung – và về việc thiếu một tuyên ngôn nhân quyền.

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

THOMAS G. FIELD JR.*

ĐIỂM MẤU CHỐT

“Rum và Coca-Cola”, một bài hát Calypsocó lẽ là nổi tiếng nhất mọi thời đại về một đề tài nóng bỏng, vào những năm 1940 là bài hát ăn khách nhất của ban nhạc Andrews Sisters. Bài hát này cũng là nguyên nhân của một vụ án nổi tiếng của Mỹ nhằm giành lại quyền tác giả cho nhạc sỹ Lionel Belasco người Trinidad vốn đã viết bài hát này từ vài thập kỷ trước đó với nhan đề “L’Année Passée”. Luật sư đại diện cho người xuất bản bản nhạc gốc của Belasco đã chứng minh được với tòa rằng bài hát “Rum và Coca-Cola” là tác phẩm của nhạc sỹ Belasco chứ không phải của người khác.

Belasco đã được công nhận là tác giả của bài hát và nhận được tiền bồi thường cho việc người ta sử dụng tác phẩm của mình mà không xin phép vì Hoa Kỳ có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ của các nhân tài như Belasco và thi hành những luật này để ngăn chặn việc vi phạm sở hữu trí tuệ. Nhưng giả sử người xuất bản đi kiện tại một quốc gia không có luật bảo vệ sở hữu trí tuệ hoặc có nhưng yếu kém thì có lẽ quá trình đi kiện và việc đòi bồi thường của Belasco đã không có một kết cục tốt đẹp như vậy.

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ GÌ?

Tại sao những quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan lại bảo vệ các phát minh; các tác phẩm nghệ thuật và văn học; các biểu tượng, hình ảnh, tên, thiết kế dùng trong thương mại: thông tin và lời nói được dùng lần đầu của những cá nhân sáng tạo ra chúng được gọi là sở hữu trí tuệ (IP)? Các quốc gia này làm như vậy bởi lẽ họ biết rằng bảo vệ những quyền sở hữu này thì mới thúc đẩy được phát triển kinh tế, khuyến khích phát minh kỹ thuật và thu hút được đầu tư để tạo ra công ăn việc làm mới và những cơ hội cho công dân của họ. Báo cáo về Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 2002 đã khẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ đối với các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay và phát hiện ra rằng “với các mức thu nhập khác nhau thì quyền sở hữu trí tuệ (IPR) thường gắn liền với thương mại và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn và nhờ vậy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn”.

Continue reading

QUẢN TRỊ CÔNG TY GIA ĐÌNH TỐT: KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG DOANH NGHIỆP LỚN

LS. ĐẶNG THẾ ĐỨC – Công ty Luật Indochine Counsel

Có rất nhiều công ty gia đình thành công và lọt vào Fortune 500. Tuy nhiên, theo số liệu điều tra, đại đa số (95%) các công ty gia đình đã suy giảm mạnh sau thế hệ thứ ba. Bí quyết của 5% doanh nghiệp thành công còn lại là gì? Câu trả lời là “hệ thống quản trị công ty tốt”.

Công ty gia đình là công ty trong đó các thành viên trong một gia đình nắm mức sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành viên hội đồng quản trị. Thông thường, ở công ty gia đình, đại diện của gia đình sẽ nắm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc và Tổng giám đốc. Các thành viên của gia đình vừa là cổ đông, vừa là người quản lý, điều hành công ty.

Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp tư nhân thành công của Việt Nam là các doanh nghiệp gia  đình. Điều này không phải là ngoại lệ trên thế giới. Ở những nền kinh tế đang phát triển, nhiều công ty thành công cũng có nguồn gốc từ các doanh nghiệp gia đình, điển hình là Wal-Mart, Bertelsmann và Bombardier ở Bắc Mỹ và châu Âu; các “chaebol” ở Hàn Quốc và “grupo” ở châu Mỹ La Tinh.

Khi gia đình ông Trần Kim Thành ra định cư ở nước ngoài, để lại cơ sở buôn bán bánh kẹo Đô Thành, ông và em trai là Trần Lệ Nguyên, mỗi người có một tiệm bánh đã góp lại lập ra Công ty TNHH Xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô. Bắt đầu từ ngày 01/10/2002, Công ty chuyển sang hình thức công ty cổ phần do ông Trần Kim Thành là Chủ tịch Hội ồng quản trị, em trai ông là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Năm 2007, doanh thu của Kinh Đô đạt 1238 tỷ đồng.

Ưu điểm về mặt quản trị của các công ty gia đình

– Vì quyền sở hữu nằm trong tay một hoặc một vài thành viên trong gia đình, nên công ty gia đình có xu hướng "cá nhân hoá", thống nhất quyền lực vào tay người chủ gia đình. Quyền lực này cho phép công ty gia đình có thể thực thi một tầm nhìn dài hạn, tập trung đầu tư tạo ra những ưu thế cạnh tranh dài hạn mà những công ty chỉ chạy theo kết quả ngắn hạn trên thị trường chứng khoán không thể đạt được.

Continue reading

VỀ TIÊU CHÍ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

TS. ĐỖ NGỌC HẢI – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội đã được quy định trong Hiến pháp, trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, nhưng theo tôi, trong điều kiện của nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng đa dạng và sâu sắc, cần thêm, sửa đổi và làm rõ một vài tiêu chí sau:

Thứ nhất, về độ tuổi:

Hiện nay, luật quy định công dân đủ 21 tuổi có quyền ứng cử làm đại biểu Quốc hội. Theo tôi quy định độ tuổi 21 là còn quá trẻ. Tuổi 21 mới là tuổi vừa tốt nghiệp đại học nếu học giỏi. Ngay ở những cơ quan bình thường cũng còn phải làm hợp đồng từ 1 đến 2 năm. Một người muốn trở thành luật sư, phải tốt nghiệp đại học luật, sau đó học lớp đào tạo nghề luật sư ở Học viện Tư pháp 6 tháng (có thể sắp tới lâu hơn), mới được cấp chứng chỉ và phải thực tập 2 năm ở văn phòng luật sư, sau về thi, nếu đỗ mới đủ tiêu chuẩn của luật sư hành nghề.

Tuổi 21 sức khỏe thì có, ước mơ thì nhiều, song tích lũy kiến thức xã hội chưa có là bao, kiến thức văn hóa còn ít, nhận thức chính trị còn yếu, tâm sinh lý chưa ổn định. Như vậy độ tuổi 21 không thể đảm nhận được nhiệm vụ của Quốc hội, ví dụ như nhiệm vụ làm luật. Ở Pháp, muốn ứng cử vào hạ nghị viện thì người ứng cử phải đủ 23 tuổi vào thượng viện phải 35 tuổi. Theo tôi, có thể khi quy định người 21 tuổi có quyền ứng cử vào đại biểu Quốc hội thì có quan niệm cho rằng, đất nước ta dân chủ hơn, trẻ hóa hơn. Nhưng theo tôi, nhiệm vụ của Quốc hội là rất nặng nề, rất quan trọng, do đó, phải người có tài trí mới làm được. Vì vậy, tôi đề nghị nên quy định: người ứng cử vào đại biểu Quốc hội phải đủ 32 tuổi, vì độ tuổi ấy, mọi khía cạnh như chính trị, tâm lý, nhận thức đã chắc chắn hơn, vì thế, đảm đương được nhiệm vụ chính trị của Quốc hội. Song, theo tôi cũng nên giới hạn độ tuổi. Qua theo dõi, tôi thấy có đại Quốc hội khóa V là linh mục Lương Đình Ái đã 86 tuổi. Bác Hồ của chúng ta, từ trước đến nay nhân dân Việt Nam đã suy tôn Bác vị lãnh tụ thiên tài, Người cha già của dân tộc, vậy mà Bác đã từng nói: 79 tuổi thuộc lớp người xưa nay hiếm, tuổi ấy Bác sẽ đi gặp C.Mác, F.Ăng ghen. Theo tôi, quan điểm dân chủ không phải tất cả các độ tuổi, mà cần độ tuổi nào thì hiệu quả công việc cao. Phát triển dân chủ vì lợi ích cho nhân dân, cho đất nước, phát triển dân chủ không vì tuổi ít vào Quốc hội là văn minh, tuổi già vẫn ở Quốc hội là dân chủ hơn. Phát triển dân chủ cần đặt câu hỏi: Anh A ở Đại biểu Quốc hội khóa IV, V, làm được những gì? Theo tôi, những người có hàm từ Bộ trưởng trở lên, những người có học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư có thể làm Đại biểu Quốc hội không quá 70 tuổi còn bình thường không được quá tuổi quy định công chức 60 tuổi nếu là nam, nữ không quá 55 tuổi.

Continue reading

LÀM GÌ ĐỂ CÁC VĂN BẢN HÀNH CHÍNH ĐẠT CHẤT LƯỢNG

DIỆP VĂN SƠN

Luật Doanh nghiệp là một bước tiến lớn trong việc tạo lập môi trường kinh doanh cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, khi nghĩ về chuyện dưới luật còn có nhiều nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư… ban hành kém chất  lượng, gây cản trở cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình gia nhập thị trường, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần đẩy mạnh cải cách trong việc ban hành các văn bản để tạo sự đồng bộ…

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương là làm sao cho các văn bản ban hành đạt chất lượng cao nhất. Nhưng làm thế nào để đo được chất lượng của việc ban hành văn bản? Một khiếm khuyết dễ nhận thấy và đã để lại nhiều hệ lụy là việc phân tích chính sách ít được quan tâm đúng mức để làm cơ sở cho việc ban hành văn bản, thậm chí ngay trong Luật Ban hành các văn bản pháp luật cũng không đề cập công đoạn này. Các văn bản kém chất lượng thường xuất phát từ những nguyên nhân sau: Không thiết lập được những ưu tiên chính sách chính yếu; không đưa ra được những lựa chọn giữa các mục tiêu mâu thuẫn nhau; không chuyển hóa được những ưu tiên thành các văn bản hoạt động cụ thể; tạo ra một khoảng trống về chính sách do không có tính liên tục trong bộ máy hành chính hoặc do những nền tảng chính sách yếu kém và thiếu gắn kết; vai trò của tổ chức không rõ ràng hoặc có sự mâu thuẫn giữa các chương trình công tác của các bộ, ngành hoặc vì cả hai lý do này; các ý kiến đệ trình lên chính phủ không đánh giá đầy đủ về các khoản chi phí theo ngành dọc; có sự tồn tại song song các nhóm lợi ích từ bên ngoài không chịu trách nhiệm nhưng lại có khả năng tác động lên chính sách.

Có bốn nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong một quy trình ra quyết định: tính kỷ luật, tính minh bạch, tính bền vững và lựa chọn cấu trúc. Theo nguyên tắc ra văn bản có tính kỷ luật cao, các quyết định cần phải nhất quán, có tính thực tiễn về mặt tài chính và khả năng thực hiện. Trong khi nguyên tắc này có vẻ hiển nhiên, trên thực tế nó lại ít khi được tôn trọng. Ở những nền hành chính kém phát triển, người ta thường ban hành quyết định mà không có sự cân nhắc, xem xét đầy đủ những chi phí tiềm tàng, đặc biệt là gánh nặng chi phí theo ngành dọc tác động lên ngân sách. Ví dụ, kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Phi cho thấy hơn hai phần ba quyết định của nội các đưa ra không bao giờ được thực hiện. Ngoài ra, tính bền vững của việc ra quyết định cũng có vai trò quan trọng. Các quyết định nông nổi thường là cản trở lớn cho các hoạt động kinh tế.

Continue reading