QUẢN TRỊ CÔNG TY GIA ĐÌNH TỐT: KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG DOANH NGHIỆP LỚN

LS. ĐẶNG THẾ ĐỨC – Công ty Luật Indochine Counsel

Có rất nhiều công ty gia đình thành công và lọt vào Fortune 500. Tuy nhiên, theo số liệu điều tra, đại đa số (95%) các công ty gia đình đã suy giảm mạnh sau thế hệ thứ ba. Bí quyết của 5% doanh nghiệp thành công còn lại là gì? Câu trả lời là “hệ thống quản trị công ty tốt”.

Công ty gia đình là công ty trong đó các thành viên trong một gia đình nắm mức sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành viên hội đồng quản trị. Thông thường, ở công ty gia đình, đại diện của gia đình sẽ nắm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc và Tổng giám đốc. Các thành viên của gia đình vừa là cổ đông, vừa là người quản lý, điều hành công ty.

Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp tư nhân thành công của Việt Nam là các doanh nghiệp gia  đình. Điều này không phải là ngoại lệ trên thế giới. Ở những nền kinh tế đang phát triển, nhiều công ty thành công cũng có nguồn gốc từ các doanh nghiệp gia đình, điển hình là Wal-Mart, Bertelsmann và Bombardier ở Bắc Mỹ và châu Âu; các “chaebol” ở Hàn Quốc và “grupo” ở châu Mỹ La Tinh.

Khi gia đình ông Trần Kim Thành ra định cư ở nước ngoài, để lại cơ sở buôn bán bánh kẹo Đô Thành, ông và em trai là Trần Lệ Nguyên, mỗi người có một tiệm bánh đã góp lại lập ra Công ty TNHH Xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô. Bắt đầu từ ngày 01/10/2002, Công ty chuyển sang hình thức công ty cổ phần do ông Trần Kim Thành là Chủ tịch Hội ồng quản trị, em trai ông là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Năm 2007, doanh thu của Kinh Đô đạt 1238 tỷ đồng.

Ưu điểm về mặt quản trị của các công ty gia đình

– Vì quyền sở hữu nằm trong tay một hoặc một vài thành viên trong gia đình, nên công ty gia đình có xu hướng "cá nhân hoá", thống nhất quyền lực vào tay người chủ gia đình. Quyền lực này cho phép công ty gia đình có thể thực thi một tầm nhìn dài hạn, tập trung đầu tư tạo ra những ưu thế cạnh tranh dài hạn mà những công ty chỉ chạy theo kết quả ngắn hạn trên thị trường chứng khoán không thể đạt được.

Continue reading

VỀ TIÊU CHÍ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

TS. ĐỖ NGỌC HẢI – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội đã được quy định trong Hiến pháp, trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, nhưng theo tôi, trong điều kiện của nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng đa dạng và sâu sắc, cần thêm, sửa đổi và làm rõ một vài tiêu chí sau:

Thứ nhất, về độ tuổi:

Hiện nay, luật quy định công dân đủ 21 tuổi có quyền ứng cử làm đại biểu Quốc hội. Theo tôi quy định độ tuổi 21 là còn quá trẻ. Tuổi 21 mới là tuổi vừa tốt nghiệp đại học nếu học giỏi. Ngay ở những cơ quan bình thường cũng còn phải làm hợp đồng từ 1 đến 2 năm. Một người muốn trở thành luật sư, phải tốt nghiệp đại học luật, sau đó học lớp đào tạo nghề luật sư ở Học viện Tư pháp 6 tháng (có thể sắp tới lâu hơn), mới được cấp chứng chỉ và phải thực tập 2 năm ở văn phòng luật sư, sau về thi, nếu đỗ mới đủ tiêu chuẩn của luật sư hành nghề.

Tuổi 21 sức khỏe thì có, ước mơ thì nhiều, song tích lũy kiến thức xã hội chưa có là bao, kiến thức văn hóa còn ít, nhận thức chính trị còn yếu, tâm sinh lý chưa ổn định. Như vậy độ tuổi 21 không thể đảm nhận được nhiệm vụ của Quốc hội, ví dụ như nhiệm vụ làm luật. Ở Pháp, muốn ứng cử vào hạ nghị viện thì người ứng cử phải đủ 23 tuổi vào thượng viện phải 35 tuổi. Theo tôi, có thể khi quy định người 21 tuổi có quyền ứng cử vào đại biểu Quốc hội thì có quan niệm cho rằng, đất nước ta dân chủ hơn, trẻ hóa hơn. Nhưng theo tôi, nhiệm vụ của Quốc hội là rất nặng nề, rất quan trọng, do đó, phải người có tài trí mới làm được. Vì vậy, tôi đề nghị nên quy định: người ứng cử vào đại biểu Quốc hội phải đủ 32 tuổi, vì độ tuổi ấy, mọi khía cạnh như chính trị, tâm lý, nhận thức đã chắc chắn hơn, vì thế, đảm đương được nhiệm vụ chính trị của Quốc hội. Song, theo tôi cũng nên giới hạn độ tuổi. Qua theo dõi, tôi thấy có đại Quốc hội khóa V là linh mục Lương Đình Ái đã 86 tuổi. Bác Hồ của chúng ta, từ trước đến nay nhân dân Việt Nam đã suy tôn Bác vị lãnh tụ thiên tài, Người cha già của dân tộc, vậy mà Bác đã từng nói: 79 tuổi thuộc lớp người xưa nay hiếm, tuổi ấy Bác sẽ đi gặp C.Mác, F.Ăng ghen. Theo tôi, quan điểm dân chủ không phải tất cả các độ tuổi, mà cần độ tuổi nào thì hiệu quả công việc cao. Phát triển dân chủ vì lợi ích cho nhân dân, cho đất nước, phát triển dân chủ không vì tuổi ít vào Quốc hội là văn minh, tuổi già vẫn ở Quốc hội là dân chủ hơn. Phát triển dân chủ cần đặt câu hỏi: Anh A ở Đại biểu Quốc hội khóa IV, V, làm được những gì? Theo tôi, những người có hàm từ Bộ trưởng trở lên, những người có học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư có thể làm Đại biểu Quốc hội không quá 70 tuổi còn bình thường không được quá tuổi quy định công chức 60 tuổi nếu là nam, nữ không quá 55 tuổi.

Continue reading

LÀM GÌ ĐỂ CÁC VĂN BẢN HÀNH CHÍNH ĐẠT CHẤT LƯỢNG

DIỆP VĂN SƠN

Luật Doanh nghiệp là một bước tiến lớn trong việc tạo lập môi trường kinh doanh cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, khi nghĩ về chuyện dưới luật còn có nhiều nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư… ban hành kém chất  lượng, gây cản trở cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình gia nhập thị trường, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần đẩy mạnh cải cách trong việc ban hành các văn bản để tạo sự đồng bộ…

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên quan trọng nhất của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương là làm sao cho các văn bản ban hành đạt chất lượng cao nhất. Nhưng làm thế nào để đo được chất lượng của việc ban hành văn bản? Một khiếm khuyết dễ nhận thấy và đã để lại nhiều hệ lụy là việc phân tích chính sách ít được quan tâm đúng mức để làm cơ sở cho việc ban hành văn bản, thậm chí ngay trong Luật Ban hành các văn bản pháp luật cũng không đề cập công đoạn này. Các văn bản kém chất lượng thường xuất phát từ những nguyên nhân sau: Không thiết lập được những ưu tiên chính sách chính yếu; không đưa ra được những lựa chọn giữa các mục tiêu mâu thuẫn nhau; không chuyển hóa được những ưu tiên thành các văn bản hoạt động cụ thể; tạo ra một khoảng trống về chính sách do không có tính liên tục trong bộ máy hành chính hoặc do những nền tảng chính sách yếu kém và thiếu gắn kết; vai trò của tổ chức không rõ ràng hoặc có sự mâu thuẫn giữa các chương trình công tác của các bộ, ngành hoặc vì cả hai lý do này; các ý kiến đệ trình lên chính phủ không đánh giá đầy đủ về các khoản chi phí theo ngành dọc; có sự tồn tại song song các nhóm lợi ích từ bên ngoài không chịu trách nhiệm nhưng lại có khả năng tác động lên chính sách.

Có bốn nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong một quy trình ra quyết định: tính kỷ luật, tính minh bạch, tính bền vững và lựa chọn cấu trúc. Theo nguyên tắc ra văn bản có tính kỷ luật cao, các quyết định cần phải nhất quán, có tính thực tiễn về mặt tài chính và khả năng thực hiện. Trong khi nguyên tắc này có vẻ hiển nhiên, trên thực tế nó lại ít khi được tôn trọng. Ở những nền hành chính kém phát triển, người ta thường ban hành quyết định mà không có sự cân nhắc, xem xét đầy đủ những chi phí tiềm tàng, đặc biệt là gánh nặng chi phí theo ngành dọc tác động lên ngân sách. Ví dụ, kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Phi cho thấy hơn hai phần ba quyết định của nội các đưa ra không bao giờ được thực hiện. Ngoài ra, tính bền vững của việc ra quyết định cũng có vai trò quan trọng. Các quyết định nông nổi thường là cản trở lớn cho các hoạt động kinh tế.

Continue reading