LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TRỊNH THỊ HOA MAI -  Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động. Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của nhà trường đại học luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp. Như vậy, các nhà trường đại học luôn có nhu cầu phải được gắn kết với doanh nghiệp. Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất. Được hợp tác với một cơ sở đào tạo đại học cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp. Do đó, mối liên kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho doanh nghiệp. Bài báo cũng đề xuất những giải pháp nhằm tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Những giải pháp đó liên quan đến cả nhà trường, doanh nghiệp và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Các doanh nghiệp là tế bào quan trọng của nền kinh tế. Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp quyết định sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Hoạt động trong môi trường hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Một trong những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Có thể nói, trình độ học vấn của cả người lao động và chủ doanh nghiệp hiện nay còn rất thấp. Trong số hơn 25% lao động có chuyên môn thì cũng chỉ có khoảng 6% lao động có trình độ cao đẳng và đại học. Chủ doanh nghiệp có trình độ đại học cũng chỉ khoảng 2%. Về cơ bản, đội ngũ này mới được hình thành những năm 90, còn thiếu kinh nghiệm về nhiều mặt, từ kỹ năng quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường [1,2]. Đây là một lực cản mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp và cần phải quyết tâm vượt qua vì sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp này trong điều kiện hội nhập hiện nay. Có nhiều con đường để tháo gỡ khó khăn trên, trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung bàn về vai trò của các trường đại học trong việc cung ứng lao động đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp trong điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Continue reading

NHU CẦU VỀ ĐÀO TẠO SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ QUẾ ANH -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Bài viết đề cập tới mục tiêu xây dựng nền văn hoá sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các trường đại học trong việc tạo dựng những yếu tố cần thiết để góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển nền văn hoá SHTT. Trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu về đào tạo SHTT dưới các góc độ khác nhau, tác giả đưa ra một số đề xuất về nội dung và thời lượng giảng dạy về SHTT trong các trường đại học ở Việt Nam. Với cách nhìn nhận SHTT như là một lĩnh vực hết sức đa dạng và mang tính liên ngành, những đề xuất trong bài viết được xây dựng theo các tiêu chí khác nhau về cấp độ đào tạo cũng như định hướng chuyên môn của người học.

1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và mục tiêu xây dựng nền văn hoá sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

SHTT đã trở thành một trong các nội dung cơ bản của các chương trình hợp tác kinh tế đa phương và song phương, trong đó có các thiết chế kinh tế mà Việt Nam đang tham gia. Mục tiêu của việc bảo hộ quyền SHTT đã được Tổ chức Thương mại thế giới cam kết theo đuổi, đó là ”Với mong muốn giảm sai lệch thương mại và các rào cản đối với thương mại quốc tế, … thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí tuệ, và bảo đảm rằng bản thân các biện pháp và thủ tục thực thi quyền SHTT sẽ không trở thành rào cản đối với thương mại hợp pháp” (Lời nói đầu Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT – TRIPS). Bên cạnh đó, mục tiêu của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng được nhấn mạnh tại Điều 7 Hiệp định TRIPS:

”Việc bảo hộ và thực thi các quyền SHTT phải góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PV

Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Việt Nam năm 1987 là một trong những đạo luật kinh tế đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Nhìn lại chặng đường 20 năm qua, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trương Văn Đoan đã có bài tổng kết Tác động của ĐTNN đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, tại Hội Nghị Tổng kết 20 năm ĐTNN tại Việt Nam (1987 – 2007, Civillawinfor).

DẤU ẤN 20 NĂM

Trong suốt 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã không ngừng được mở rộng và phát triển, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

Tính đến nay, cả nước có khoảng 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 98 tỷ USD. Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 83 tỷ USD. Riêng năm 2007, thu hút ĐTNN đạt 20,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư nước ngoài của 5 năm 2001 – 2005 và chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 20 năm qua.

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 61% tổng vốn đăng ký, lĩnh vực dịch vụ chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 4,6 % tổng vốn ĐTNN đăng ký.

Đến nay, ĐTNN đã trải rộng khắp 64 tỉnh, thành phố cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế – xã hội chung và các vùng phụ cận. Vùng trọng kinh tế điểm phía Bắc thu hút trên 24 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 27% tổng vốn đăng ký cả nước; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thu hút 44,87 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 54% tổng vốn đăng ký; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thu hút được 8,6 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả nước.

Continue reading

LƯƠNG VÀ TÂM

SAGA.VN

Phàm ở đời, nhận hay cho đều gắn với chữ Tâm. Chữ Tâm tròn hay khuyết, mỏng hay dày đều xuất phát từ tâm thế, mục đích của người cho và nhận vậy. Lương (thu nhập, nhận) cũng không ngoài sự ràng buộc ấy. Soi chiếu việc này với việc một số sếp của các doanh nghiệp nhà nước nhận lương cao tới mức gây sốc cho dư luận, lại băn khoăn đi tìm vị trí chữ Tâm.

Nhận lương như thế mà để lỗ, lúc đó chữ Tâm có ngủ yên? Kinh doanh nguồn tiền khổng lồ của nhà nước, “buôn tài không bằng dài vốn”, nhưng “vốn dài” mà lợi nhuận thu về ngắn, có khi lại âm, thế nhưng lương tháng chẳng âm bao giờ.

Vừa mới đây, báo chí lại thông tin Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang nhận lương mỗi tháng 232 triệu đồng trong khi cả năm Cty này chỉ nộp ngân sách 4,7 tỷ đồng! Và lương công nhân chỉ bằng mươi cân cá kèo. Lúc đó chữ Tâm trong họ chắc đang ngủ yên?

Lương không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với Tâm. Câu chuyện các cô giáo mầm non ở xã Long Thành, huyện Yên Thành nhận mức lương mỗi tháng sáu trăm nghìn đồng, có khi lương được trả bằng lúa, bằng lạc, bằng cả ổ chó con. Nhưng các cô vẫn say nghề, yêu trẻ vô điều kiện.

Biết bao cán bộ công nhân viên chức đang nhận những đồng lương khốn khó mà vẫn hăng say lao động, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Lương chịu sự điều chỉnh của cơ chế, chính sách nhưng lương cũng chịu sự chi phối của chữ Tâm. Tâm thể hiện ở việc đưa ra một chế độ tiền lương công bằng, nhân sinh của những người hoạch định chính sách.

Continue reading

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động. Vì thế, pháp luật lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước. Bộ Luật Lao động Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994, đến nay Bộ luật đó qua ba lần sửa đổi bổ sung. Bộ luật đó thể hiện rõ mong muốn của xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đổi mới pháp chế, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập, cũng như yêu cầu khách quan của thực tiễn đời sống lao động, có thể thấy pháp luật lao động Việt Nam còn bộc lộc một số nhược điểm cần phải được chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình mới.

 1. Đánh giá chung về hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành

Có thể nói, từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, pháp luật lao động nước ta đã có một bước tiến đáng kể:

Một là, hệ thống pháp luật lao động đã trở thành một hệ thống luật chuyên ngành tương đối đồ sộ với khá nhiều văn bản pháp luật, kể cả văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất như Bộ Luật Lao động. Pháp luật lao động ở nước ta trong những năm qua đã có bước chuyển đổi và phát triển quan trọng. Ngày 23/06/1994, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động [1] – Bộ luật của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ Luật Lao động đã được thực hiện từ ngày 01/01/1995. Sau đó Bộ Luật Lao động được sửa đổi bổ sung ba lần vào các năm 2002; 2006 và 2007. Bộ Luật Lao động đã khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Bộ Luật Lao động đã thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam và Hiến pháp 1992 trong lĩnh vực lao động – xã hội. Điều này có thể thấy, một Bộ luật đã được pháp điển hoá, chi tiết hoá và bổ sung bằng các đạo luật riêng lẻ, như: Luật Bảo hiểm Xã hội; Luật đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng; Luật Dạy nghề là nét mới trong hoạt động lập pháp của Việt Nam. Bộ Luật Lao động đã góp phần quan trọng giải phóng mọi tiềm năng lao động, mở mang nhiều ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: LUẬT SƯ GIỮ BÍ MẬT CHO THÂN CHỦ ĐẾN ĐÂU?

HỒNG TÚ

Luật sư không được câu kết với cán bộ tố tụng, không được giúp đỡ khách hàng giải quyết công việc bằng những thủ đoạn, hành vi bất hợp pháp.

Đạo đức hành nghề của luật sư được các đại biểu tham gia hội thảo “Quản lý nghề luật sư: Kinh nghiệm của Việt Nam và Nhật Bản” rất quan tâm, nhất là khi sắp tới, nội dung này sẽ được Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành thành quy tắc. Vấn đề đầu tiên trong đạo đức hành nghề luật sư là mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng.

Tố giác hay im lặng?

Theo luật sư Nguyễn Huy Thiệp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc luật sư giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu. Ông phân tích: “Nếu luật sư thực hiện tốt nguyên tắc này thì khách hàng mới có niềm tin vào luật sư. Khi đó họ sẽ cung cấp toàn bộ, đầy đủ thông tin liên quan đến sự việc, kể cả những vấn đề tế nhị. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư”.

Nhiều đại biểu tán đồng ý kiến này. Tuy nhiên, luật sư Trương Xuân Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) tỏ ra băn khoăn khi đặt giả thuyết: Nếu khách hàng tiết lộ cho luật sư biết họ đã thực hiện một hành vi phạm tội thì luật sư phải làm thế nào? Đi báo cơ quan chức năng hay im lặng che giấu tội phạm?

Luật sư Toriyama Hanroku (Đoàn Luật sư Osaka) nêu kinh nghiệm của Nhật Bản để các đại biểu tham khảo. Theo ông, luật sư Nhật Bản không được phép tiết lộ thông tin của khách hàng. Tuy nhiên, nếu biết được khách hành của mình đang chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng, luật sư được phép báo cho cơ quan chức năng sau khi đã làm hết các biện pháp khác nhưng không ngăn cản khách hàng được. Còn lại, tất cả các trường hợp khác luật sư đều không được tố cáo, đó là nguyên tắc nghề nghiệp.

Continue reading

BÀI DIỄN VĂN HAY DÀNH CHO SINH VIÊN VÀ NHỮNG NGƯỜI HÀNH NGHỀ LUẬT

Diễn văn của luật sư George Graham Vest tại một phiên tòa xét xử vụ kiện một người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire của báo The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 1.000 năm qua. 

Thưa quý ngài hội thẩm,

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù quay ra chống lại chúng ta. Con cái mà ta nuôi dưõng với tình thương yêu hết mực rồi ra có thể là một lũ vô ơn.

Những người gần gũi, thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và trung thành.

Tiền bạc mà con người có được rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lở vận.

Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù gió ông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được! Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta, như thái dương trên bầu trời.

Continue reading

TIỆM CẬN CÁC QUI PHẠM LUẬT QUỐC TẾ

LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các quy phạm Luật Quốc tế không giống nhau cả về nội dung và hình thức, bao gồm: các quy phạm thành văn và các quy phạm bất thành văn. Quy phạm thành văn như quy phạm điều ước và các văn kiện của tổ chức quốc tế và của hội nghị quốc tế. Các quy phạm đó điều chỉnh các quan hệ quốc tế khu vực, liên khu vực và toàn cầu trên cơ sở quyền và trách nhiệm của quốc gia này đồng thời cũng là quyền và trách nhiệm của quốc gia tương ứng (trừ các điều khoản bảo lưu [1].

Quy phạm bất thành văn được tồn tại dưới dạng tập quán quốc tế, được cộng đồng quốc tế công nhận là quy phạm bắt buộc và chúng có thể được ghi nhận trong các phán quyết của tòa án, cơ quan trọng tài, nghị quyết của tổ chức quốc tế, thậm chí có cả trong các văn bản đơn phương của các quốc gia. Quy phạm tập quán có thể trở thành quy phạm điều ước thông qua việc luật hóa và khi đó cùng một quy phạm đối với một số quốc gia này là quy phạm điều ước, còn đối với nhóm quốc gia khác là quy phạm tập quán(1) Cùng với sự phát triển tiến bộ của Luật Quốc tế, quy phạm điều ước ngày càng thể hiện vai trò quan trọng và chủ yếu trong việc điều chỉnh phần lớn các quan hệ quốc tế hiện đại, nhưng điều đó không có nghĩa là quy phạm điều ước có thể thay thế hoàn toàn các quy phạm tập quán [2]. Vấn đề này đã được các nhà khoa học Luật Quốc tế trên thế giới nghiên cứu trong các công trình khoa học của mình và phần lớn trong số họ đều cho rằng quy phạm tập quán là nguồn cơ bản của Luật Quốc tế [3].

Trong hệ thống Luật Quốc tế có các ngành luật, các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ quốc tế khác nhau. Chẳng hạn như, các quy phạm của Luật vũ trụ thì quy định quy chế pháp lý của khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác; Công ước về Luật điều ước quốc tế thì quy định về quy trình ký kết và thực thi điều ước; Luật an ninh quốc tế lại bao hàm các biện pháp đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế; Công ước về Luật Biển thì điều chỉnh Luật Biển quốc tế; Công ước về luật lệ và tập quán chiến tranh điều chỉnh về Luật nhân đạo quốc tế, v.v…

Continue reading

TRIẾT HỌC PHÁP LUẬT TRONG HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC PHÁP LÝ

HOÀNG THỊ KIM QUẾ – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặt vấn đề

Trong hệ thống các khoa học pháp lý, triết học pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng trên cấp độ chung và cấp độ chuyên ngành. Nói một cách đơn giản nhất, triết học pháp luật chính là cách tiếp cận triết học các vấn đề pháp luật và các vấn đề nhà nước trong mối quan hệ với pháp luật. Ở nước ta, trong những năm gần đây đã bắt đầu có sự quan tâm nghiên cứu, bàn luận về triết học pháp luật. Tuy vậy, so với tầm vóc và ý nghĩa của bộ môn khoa học pháp lý này cũng như sự phát triển của nó trên thế giới, việc nghiên cứu ở nước ta về triết học pháp luật vẫn còn rất khiêm tốn, cả trong lý luận hàn lâm và lý luận giảng đường.

1. Ba con đường – ba cách thức – ba hướng cơ bản về tiếp cận pháp luật

Trong khoa học từ xa xưa đã hình thành nên ba con đường hay ba cách thức cơ bản về tiếp cận pháp luật, nhà nước: lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật. Đó cũng chính là ba hướng tiếp cận pháp luật cần được quan tâm triển khai ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Có làm được điều này thì chúng ta mới có thể khắc phục nhanh chóng được sự lạc hậu và chủ động tham gia hội nhập, trong đó có hội nhập về tư tưởng, về khoa học và đào tạo luật học. Cũng cần phải nhấn mạnh thêm, ngoài ra còn một số cách tiếp cận khác về nhà nước, pháp luật như: tâm lý học pháp luật, kinh tế học pháp luật, nhân chủng học pháp luật v.v… Nhưng với tư cách là những cách thức, hướng tiếp cận có tính liên ngành, chung và cơ bản nhất vẫn là: triết học pháp luật, lý luận pháp luật và xã hội học pháp luật.

Ba cách thức – ba hướng tiếp cận các vấn đề pháp lý không phải hoàn toàn tách biệt nhau mà luôn có sự tích hợp trong việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Về phương diện này những năm gần đây ở nước ta bước đầu đã được triển khai nghiên cứu tuy chưa thường xuyên và sâu sắc. Ví như vấn đề triết lý của luật thương mại, triết lý của quan hệ lao động, triết lý lập pháp, mối quan hệ giữa xã hội và pháp luật; mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán, luật tục, hương ước, tôn giáo, đạo đức v.v… Không chỉ trong các ấn phẩm khoa học mà cả trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo luật, đặc biệt là tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, trong nhiều môn học đã có sự tích hợp ba cách tiếp cận pháp luật này – lý luận pháp luật, triết học pháp luật và xã hội học pháp luật.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI

N..T.K.O

Hoạt động đảm bảo tiền gửi được triển khai đầu tiên ở New York, Mỹ năm 1829 với danh hiệu “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, hàm ý bảo hiểm trách nhiệm đối với tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi.

Từ năm 1831 đến năm 1858, năm bang tiếp theo ở Mỹ đã thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Mặc dầu hầu hết các tổ chức BHTG có lúc hoạt động thành đạt, một số chính sách về ngân hàng có liên quan được ban hành trong những năm sau đó (1886) đã góp phần làm cho các tổ chức này đóng cửa. Thời kỳ thử nghiệm tiếp theo của hoạt động BHTG cũng diễn ra ở Mỹ vào những năm 1908-1930. Từ 1908 đến 1917 ở Mỹ đã có tám bang thành lập hệ thống BHTG. Tính đến 1930 cả tám hệ thống này đã đóng cửa do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế bất lợi làm cho nhiều ngân hàng ở tám bang này đóng cửa và dẫn đến các tổ chức BHTG ở đó bị mất khả năng thanh toán.

Hoạt động ngân hàng ở Mỹ đầu những năm 30 tiếp tục gặp khó khăn. Trong giai đoạn 1930 – 1933 mỗi năm có hơn 1.000 ngân hàng ngừng hoạt động, đỉnh cao là năm 1933 có 4.000 ngân hàng thương mại phải ngừng hoạt động. Trước tình hình đó, ngày 1/1/1934 Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã được thành lập, đây là mô hình được xem là hình mẫu đầu tiên về BHTG (FDIC, 1998).

Tiếp theo FDIC, trong những năm 1960, trên thế giới có sáu quốc gia thành lập tổ chức BHTG, những năm 1970 có thêm bốn quốc gia. Hầu hết các quốc gia triển khai hoạt động BHTG công khai vào những năm cuối 1990 (xem hình). Đến nay, trên thế giới có 98 quốc gia có tổ chức hoạt động BHTG công khai. Đặc biệt, ngày 6/5/2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) được thành lập có trụ sở đặt tại Thụy Sỹ. Đến nay IADI đã có 52 tổ chức BHTG các nước là thành viên, 6 hiệp hội, 5 quan sát viên và 12 đối tác (số liệu tính đến năm 2008, IADI). Điều đó đánh dấu sự quan tâm chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn một động lực mới thúc đẩy phát triển hoạt động này trên toàn thế giới.

Continue reading

HỘ KHẨU VÀ QUYỀN LAO ĐỘNG

NGUYỄN QUANG A

Năm 2006 khi thảo luận về Luật Cư trú, nhiều người trong đó có người viết những dòng này, đã đề nghị bãi bỏ chế độ hộ khẩu vì nó ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động, gây ra sự phân biệt đối xử, vi phạm Hiến pháp, vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã long trọng ký kết, nhưng các quy định hạn chế quyền cư trú phổ quát mà cụ thể là chế độ hộ khẩu vẫn được thông qua.

Theo đó, để được đăng ký thường trú ở thành phố công dân phải chứng minh mình có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

Ngay cả quy định trên của Luật Cư trú cũng nên được xem xét lại theo hướng huỷ bỏ, thế mà Dự thảo Luật Thủ đô dự kiến sẽ được trình Quốc hội trong năm nay lại đi ngược lại hướng đó, thậm chí còn quy định khắt khe hơn: thay cho "1 năm trở lên" dự thảo lại quy định thời gian tạm trú là "5 năm trở lên". Dự thảo đã dấy lên nhiều ý kiến phản đối.

Đây là điều không thể chấp nhận được, không chỉ vì nó vi phạm các quyền cơ bản của con người, vi phạm Hiến pháp, vi phạm bản thân Luật Cư trú (hay những người soạn thảo hiểu "từ 1 năm trở lên" có thể là 5, 10 hay 50 năm trở lên cũng hợp luật?)  mà cũng bởi vì nó không phục vụ cho sự phát triển của chính Thủ đô, nó cản trở sự linh động của thị trường lao động, cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và đất nước.

Tuy nhiên, nó tạo quyền cho những người quản lý. Đừng thấy khó quản lý thì tìm cách cấm. Đó là cách hành xử của những người không có năng lực, hay của những người bị lợi ích nhóm chi phối.

Người ta thường hay vin cớ "an ninh" để giữ chế độ hộ khẩu, chế độ khai báo. Việc đó cũng chẳng khác gì việc: vì một số người mắc bệnh hiểm nghèo mà bắt toàn dân phải uống thuốc đặc trị, vừa tốn phí nguồn lực quốc gia, vừa gây phiền hà cho người dân và thậm chí gây nguy hiểm cho họ. Có các cách quản lý khác hữu hiệu hơn nhiều.

Continue reading

XUNG QUANH VỤ THUỐC TÂN DƯỢC TRỊ GIÁ HÀNG TỶ ĐỒNG CỦA VINACERO HẾT HẠN SỬ DỤNG

1. QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

1.1. Vì sao Bộ Y tế lại im lặng?

Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) là doanh nghiệp hoạt động vì sự nghiệp nhân đạo. Đầu năm 2008, cùng một lúc, từ nhà sản xuất thuốc-Polysan (LB Nga) và các công ty đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương lén lút bắt tay nhau bội tín, làm cho thuốc của Vinareco tồn kho và nguy cơ phải hủy gần chục tỷ đồng tiền thuốc do quá date.

Trong nhiều năm qua, Vinareco là Nhà phân phối chính thức duy nhất 2 loại thuốc Cycloferon và Reamberin (thuốc điều trị gan và điều hoà miễn dịch) tại Việt Nam. Trong nhiều năm, doanh nghiệp này phải bỏ hàng tỷ đồng để làm thị trường. Từ những năm đầu 2004, thuốc chỉ tiêu thụ vài trăm ngàn USD, đến năm 2008, thuốc đã có thương hiệu tiêu thụ trên 1 triệu USD/năm là do Vinareco đã lập hồ sơ và 2 lần đưa vào danh mục của Bộ Y tế. Thế nhưng đầu 2008, từ sự bội tín của 2 doanh nghiệp vốn là đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương đã đẩy doanh nghiệp này phải tồn kho và phải tiêu hủy hàng tỷ đồng tiền thuốc một cách hết sức lãng phí. Điều đáng nói, ngay khi bắt đầu sự việc xảy ra Vinareco và Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều “cầu khẩn” đối với Bộ Y tế nhưng hơn 1 năm nay tất cả đều rơi vào im lặng.

Ngày 24.3.2009, trước khó khăn của đơn vị trực thuộc, Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều công văn gửi Bộ trưởng Bộ Y tế và Bệnh viện Bạch Mai nhờ giúp đỡ tiêu thụ số thuốc để khỏi cận date phải hủy, lúc đó hạn sử dụng còn khá dài, mặc dù trong Công văn có nêu: Nếu được Bệnh viện giúp đỡ thì coi đây là nghĩa cử cao đẹp góp phần vào sự nghiệp nhân đạo… nhưng các đơn vị này hầu như không có trả lời!

Tiếp đến, ngày 24.8.2009, Chủ tịch Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam lại có Công văn gửi Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Nguyễn Quốc Anh nhờ giúp đỡ, trong Công văn có nêu: Người trúng thầu năm 2008-2009 là Công ty TNHH Thống Nhất, chính là người bội tín gây hậu quả cho Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) của Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Lại một lần nữa, từ Bộ Y tế đến Giám đốc Bệnh viện vẫn thờ ơ, vô cảm.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 144/BXD-QLN NGÀY 26 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ XÉT CÔNG NHẬN CHO NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT CÓ TÊN TRONG SỔ MỤC KÊ LẬP TRƯỚC NĂM 1993 DO BỘ XÂY DỰNG BAN HÀNH

Kính gửi:

Văn phòng Chính phủ

Ngày 07/01/2010, Văn phòng Chính phủ có công văn số 124/VPCP-KTN đề nghị Bộ Xây dựng có ý kiến đối với đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nêu tại công văn số 4591/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/12/2009) về việc xét công nhận cho những trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê lập trước năm 1993 như có tên trong sổ địa chính để làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Việc Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất xét công nhận những trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê lập từ trước năm 1993 được coi như có tên trong sổ địa chính, tạo cơ sở cho việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp này là phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất cũng như góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng nhận thấy để đảm bảo việc áp dụng thống nhất, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với địa phương tổng hợp về số liệu các trường hợp nêu trên trong phạm vi cả nước để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng về đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với việc xét công nhận người sử dụng đất có tên trong sổ mục kê trước năm 1993 như người có tên trong sổ địa chính để làm cơ sở cho việc cấp giấy chứng nhận, đề nghị Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 314/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 28 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Trả lời công văn số 67/UBND ngày 06/01/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Doanh nghiệp có sử dụng lao động là người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp thì phải thực hiện việc tuyển dụng và quản lý người nước ngoài theo đúng quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Thông tư số 08/2008/TT-BLĐTBXH ngày 10/6/2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên.

2. Tiền lương của người nước ngoài làm việc tại doanh nghiệp do hai bên thỏa thuận và được ghi trong hợp đồng lao động.

3. Tiền lương của người nước ngoài không nằm trong đơn giá tiền lương của người lao động Việt Nam.

Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn Công ty Thương mại và Đầu tư Khánh Hòa thực hiện chi trả tiền lương cho người nước ngoài đúng theo quy định của nhà nước./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG

CÔNG VĂN SỐ 307/LĐTBXH-BHXH NGÀY 28 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP KHU VỰC ĐỐI VỚI NGƯỜI HƯỞNG TRỢ CẤP TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP HÀNG THÁNG VỪA HƯỞNG LƯƠNG HƯU

Kính gửi:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trả lời Công văn số 4599/BHXH-CSXH ngày 08/12/2009 của quý cơ quan đề nghị cho ý kiến về việc thực hiện chế độ phụ cấp khu vực đối với trường hợp vừa hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng vừa hưởng lương hưu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Nghị định số 122/2008/NĐ-CP ngày 04/12/2008 của Chính phủ và Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc thực hiện phụ cấp khu vực đối với người hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng thì người lao động nghỉ việc đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần kể từ ngày 01/01/2007 trở đi, mà trước đó đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm phụ cấp khu vực, thì ngoài hưởng lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần theo quy định còn được hưởng trợ cấp một lần tương ứng với thời gian và số tiền phụ cấp khu vực đã đóng bảo hiểm xã hội. Đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 01/01/2007, cư trú tại nơi có phụ cấp khu vực được hưởng phụ cấp khu vực theo mức hiện hưởng (không điều chỉnh theo mức lương tối thiểu chung) cho đến khi có quy định mới của Chính phủ.

Như vậy, đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 01/01/2007, từ ngày 01/01/2007 tiếp tục được hưởng phụ cấp khu vực theo mức hiện hưởng thì không thuộc đối tượng được giải quyết trợ cấp một lần theo quy định tại Nghị định số 122/2008/NĐ-CP và Thông tư số 03/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để quý cơ quan biết và chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố thực hiện./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Minh Huân

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI TRONG NHƯỢNG QUYỀN

KINH DOANH – Mọi hợp đồng nhượng quyền đều bao gồm nhiều điều khoản nhằm bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, các sáng chế, bí quyết kinh doanh. Có nhiều hợp đồng lại thất bại do không chỉ ra được một cách thức đúng đắn nhằm bảo vệ một thứ được coi là tài sản quý giá nhất đối với mọi doanh nghiệp đó chính là các bí mật thương mại.

Xét trong bối cảnh của nghành công nghiệp nhượng quyền, thật rất cần thiết cho cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền hiểu thế nào là một bí mật thương mại, tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại trở nên quan trọng, sự bảo vệ đó có thể thất bại ra sao và những nỗ lực cần thiết để giúp đảm bảo việc bảo vệ những bí mật thương mại trong nghành kinh doanh này nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của hệ thống nhượng quyền.

Bí mật thương mại:

Một bí mật thương mại được định nghĩa chung như là một dạng thông tin mà các thông tin này có thể tạo ra cho người nắm giữ chúng một lợi thế cạnh tranh nhất định, do vậy thông tin này sẽ được giữ bí mật và người khác sẽ không biết gì về thông tin này và bí mật thương mại chính là đối tượng của những nỗ lực thiết thực nhằm duy trì tính bí mật của nó trong bất kì hoàn cảnh nào.

Tại sao việc bảo vệ bí mật thương mại lại quan trọng?

Những bí mật thương mại có thể mang lại một lợi thế canh tranh cho một doanh nghiệp miễn là các đối thủ không thể biết gì về chúng. Vì vậy, không giống bằng sáng chế, chỉ có giá trị đến 20 năm sau khi thông tin này đã được phổ biến rộng rãi, ngược lại, một bí mật thương mại có thể còn giá trị để mang lại một lợi thế cạnh tranh lâu dài hơn sau khi một bằng sáng chế đã hết hiệu lực.
Thí dụ, nếu công thức cho Coco-Cola đã được cấp bằng sáng chế thay vì được xác nhận như là một bí mật thương mại thì bằng sáng chế này chắc chắn đã hết hiệu lực từ lâu, mặt khác, với một lợi thế cạnh tranh, Coco-Cola và nghành kinh doanh nước giải khát của thương hiệu này đã được ỵêu thích hơn 100 năm qua.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU

ĐÀO MINH ĐỨC – Sở KH&CN TP.HCM

I. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu

Trước đây, hai khái niệm “nhãn hiệu” và “thương hiệu” đã từng được phân bịệt một cách khá rõ ràng ở cả khía cạnh pháp lý lẫn ngôn ngữ học Việt Nam. Luật số 13/57 ngày 01.8.1957 ở miền Nam đã quy định về “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng cho các thương phẩm. Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm … và dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, vào giai đọan đó, theo Tự điển Việt Nam Ban Tu thư Khai Trí, “thương hiệu” là “tên hiệu của nhà buôn” và “nhãn hiệu” là “giấy dán ngòai để làm hiệu” 1. Trong Tự điển Việt Anh của Nguyễn văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn hiệu” là “trademark, brand” 2…. Ngay cả một thời gian khá dài sau năm 1975, Tự điển Việt Pháp của Công ty

Food contains three types of Anabolic steroids and generics Viagra: sugar, starches and fiber. Anabolic steroids and generics Viagra are either called simple or complex, depending on the food’s chemical alphabol online structure and how quickly the sugar is digested and absorbed. The type of Anabolic steroids and generics Viagra that you eat makes a difference – Foods that contain high amounts of simple sugars, especially fructose raise triglyceride levels. Triglycerides (or blood fats) are an important barometer of metabolic health; high levels may be associated with coronary heart disease, diabetes and fatty liver.

Phát hành Sách Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ định nghĩa “thương hiệu enseigne, nom commercant” và “nhãn hiệu marque de fabrique” 3.

Tuy còn thiếu tính chính tắc, nhưng sự phân định đó đã bảo đảm tính hài hòa với cách tiếp cận chung của các nước phát triển, cụ thể như qua định nghĩa của Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ : “nhãn hiệu (brand) là một cái tên, một từ ngữ, một mẫu thiết kế, một biểu tượng hoặc bất kỳ một tính chất nào khác 4 giúp nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nhân để phân biệt với hàng hóa , dịch vụ tương ứng của các doanh nhân khác. Thuật ngữ pháp lý tương ứng với “brand“ là “trademark”. Một nhãn hiệu có thể dùng để nhận biết một sản phẩm, một họ sản phẩm hoặc tòan bộ sản phẩm của doanh nhân. Nếu dùng cho tòan bộ doanh nghiệp nói chung, thuật ngữ tương ứng là “thương hiệu” (trade name)” 5

Continue reading

VẬN DỤNG PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU TRONG KINH DOANH[1]

ĐÀO MINH ĐỨC -  Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM

Các nhiệm vụ pháp lý thường gặp trong quản trị thương hiệu (corporate brand/trade name)

Trước hết, tên doanh nghiệp được hình thành trong thủ tục đăng ký kinh doanh, và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…) và tên riêng[2]. Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt. Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước ngoài[3].

Đi sâu vào các khía cạnh khác nhau, các pháp luật chuyên ngành lại sử dụng các thuật ngữ khác nhau khi điều chỉnh việc đặt và sử dụng tên của các chủ thể có hoạt động kinh doanh trong chuyên ngành đó, thí dụ như “tên gọi của pháp nhân”[4] hay tên của cá nhân có hoạt động kinh doanh hợp pháp trong pháp luật dân sự, “tên tổ chức khoa học công nghệ” trong pháp luật khoa học công nghệ[5], “tên hợp tác xã” trong pháp luật về hợp tác xã[6]

Do vậy, khi xem xét việc bảo hộ tên của mọi chủ thể có hoạt động kinh doanh, Luật Sở hữu trí tuệ sử dụng thuật ngữ chung là tên thương mại và định nghĩa: tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[7]. Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó[8].

Thuật ngữ pháp lý “tên thương mại” (trade name) có thể xem là có nội hàm tương đương với thuật ngữ thương hiệu của giới kinh doanh và bao gồm: thành phần tên riêng trong tên doanh nghiệp, tên tiếng nước ngoài, tên viết tắt hoặc tên giao dịch của doanh nghiệp.

Continue reading

BÀN VỀ KHÁI NIỆM QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2004

THS. ĐỖ HẢI HÀ -  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Theo quy định pháp luật hiện hành, quyết định của Trọng tài thương mại được chia ra làm hai loại: quyết định của Trọng tài nước ngoài và quyết định của Trọng tài trong nước. Việc xác định đúng hai loại quyết định trọng tài này có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tế bởi lẽ mỗi loại quyết định lại có cơ chế công nhận và cho thi hành riêng. Quyết định của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành theo các quy định tại Phần VI của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS). Trong khi đó, việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài trong nước lại được thực hiện theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 (PLTT).

Hiện nay, cơ sở pháp lý để phân biệt quyết định của Trọng tài nước ngoài với quyết định của Trọng tài trong nước là khoản 2 Điều 342 BLTTDS. Bài viết này sẽ xem xét tính hợp lý và hướng hoàn thiện khái niệm quyết định của Trọng tài nước ngoài được ghi nhận trong điều luật này.

Những bất cập trong khái niệm quyết định của Trọng tài nước ngoài

Khoản 2 Điều 342 BLTTDS quy định: “Quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động”. Như vậy, một quyết định trọng tài sẽ được coi là quyết định của Trọng tài nước ngoài nếu thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu: (1) quyết định đó được tuyên bởi “Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp” bất kể rằng quyết định đó được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam hay trong lãnh thổ Việt Nam; và (2) tranh chấp được giải quyết bởi quyết định đó “phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cả hai dấu hiệu này đều có những điểm chưa thực sự hợp lý. Cụ thể như sau:

Đối với dấu hiệu thứ nhất, quyết định của Trọng tài nước ngoài là “quyết địnhđược tuyên ngoài hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài” vừa có điểm không rõ ràng, vừa không phù hợp với Công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài 1958 (Công ước New York) mà Việt Nam đã gia nhập và thông lệ quốc tế vì những lý do sau đây:

Continue reading