QUI ĐỊNH BỔ SUNG HỘ TỊCH CẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG THÔNG NHẤT

NGUYỄN THANH

So với Nghị định 83 (Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về việc đăng ký hộ tịch – Civillawinfor) trước đây, các quy định về điều chỉnh, bổ sung hộ tịch ngày càng thông thoáng hơn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện thống nhất, dẫn đến khó khăn cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Sai, khi ra quyết định bổ sung hộ tịch

Nghị định 158 (Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngyaf 27/12/2005 của Chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch – Civillawinfor) quy định rõ: UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây, hay UBND cấp huyện mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi. Theo quy định, người yêu cầu bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch. Việc bổ sung hộ tịch được giải quyết ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ. Nội dung bổ sung được ghi trực tiếp vào những cột, mục tương ứng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần ghi bổ sung. Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh phải ghi rõ nội dung bổ sung; căn cứ ghi bổ sung; họ, tên, chữ ký của người ghi bổ sung; ngày, tháng, năm bổ sung. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần đã ghi bổ sung. Trường hợp nội dung Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh trước đây không có cột mục cần ghi bổ sung, thì nội dung bổ sung được ghi vào mặt sau của bản chính Giấy khai sinh và cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh. Trong trường hợp, việc đăng ký hộ tịch trước đây do UBND cấp xã thực hiện, nhưng sổ hộ tịch chỉ còn lưu tại UBND cấp huyện, thì UBND cấp huyện thực hiện việc bổ sung.  Sau khi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, nội dung bổ sung hộ tịch đã được ghi vào Sổ đăng ký khai sinh, thì bản sao Giấy khai sinh từ Sổ đăng ký khai sinh sẽ ghi theo nội dung đã thay đổi, cải chính hoặc bổ sung. Như vậy, trong quy trình bổ sung hộ tịch theo Nghị định 158, cơ quan giải quyết việc bổ sung hộ tịch không phải ra bất cứ quyết định bổ sung hộ tịch nào, mà chỉ căn cứ vào các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 123/QĐ-TTg NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ PHỤC VỤ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” với các nội dung cơ bản như sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh, thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Xây dựng và phát triển đủ số lượng luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư để đáp ứng nhu cầu tư vấn và tham gia tranh tụng các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có cơ quan Chính phủ, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 05/2010/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VIỆC ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn Luật Phá sản ngày 24 tháng 6 năm 2004;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 12 năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với tổ chức tín dụng về điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của tổ chức tín dụng bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

2. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.

Điều 2. Thủ tục phá sản

1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thủ tục phá sản được áp dụng đối với tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:

a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;

b) Phục hồi hoạt động kinh doanh;

c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;

d) Tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 183/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 19 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRẢ TIỀN TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

Trả lời công văn số 1488/LĐTBXH ngày 23/11/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội về việc trả tiền trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Trường hợp ông Phạm Văn T có thời gian công tác tại Lâm trường A từ 1976 đến 1989, sau đó đi hợp tác lao động nước ngoài từ 1989 đến 1993 và khi về nước không được bố trí công việc để tiếp tục làm việc trong khu vực nhà nước thì được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Thông tư số 12-TT/LB ngày 3/8/1992 của liên bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Tài chính hướng dẫn thực hiện một số chính sách, chế độ đối với người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài về nước. Trường hợp ông T chưa nhận trợ cấp thôi việc thì đề nghị làm việc với cơ quan bảo hiểm xã hội để xem xét xác nhận thời gian được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội (nếu đủ điều kiện).

Đến tháng 3 năm 1998 ông T xin vào làm việc tại công ty kinh doanh lâm nghiệp tỉnh (nay chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Nam Hòa 100% vốn Nhà nước) xin thôi việc theo đúng quy định của pháp luật thì được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 44/2003/NĐ-CP. Thời gian tính trợ cấp thôi việc của ông T được tính từ tháng 3/1998 đến khi thôi việc và công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Nam Hòa có trách nhiệm chi trả.

2. Đối với trường hợp ông Phan Văn H có thời gian công tác tại cơ quan hành chính sự nghiệp đến năm 1990, sau đó được bổ nhiệm làm Giám đốc công ty nhà nước đến năm 2005 thực hiện cổ phần hóa nay ông H xin thôi việc, trường hợp này không thuộc đối tượng ký hợp đồng lao động theo quy định tại Bộ luật Lao động, do vậy đề nghị Quý Sở gửi công văn tới Bộ Nội vụ để được hướng dẫn, thực hiện.

Continue reading

ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP VÀ SO SÁNH VỚI VIỆC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM Ở VIỆT NAM

THS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP – Khoa Kinh tế – Luật, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh

Việc đăng ký giao dịch bất động sản trong luật dân sự Pháp là một cơ chế hữu hiệu cho việc bảo vệ quyền lợi của bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ có liên quan đến bất động sản. Trong khi đó, luật Việt Nam chỉ quan tâm đến việc đăng ký giao dịch bảo đảm, mà cụ thể là hợp đồng thế chấp theo quy định của Nghị định 163/CP năm 2006. Và hiện nay vẫn tồn tại song song bên cạnh Nghị định này một Nghị định khác cùng điều chỉnh vấn đề về đăng ký giao dịch bảo đảm, đó là Nghị định 08/CP năm 2000. Tuy nhiên, cả hai Nghị định này hiện vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế. Để bảo vệ quyền lợi của các bên có quyền một cách thật sự có hiệu quả, các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này cần thiết phải được hoàn thiện nhanh chóng.

Chế định đăng ký giao dịch bất động sản trong luật dân sự của Pháp xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử. Bắt đầu với Đạo luật số 9 tháng Gặt hái năm 17951 về thế chấp tài sản, vấn đề đăng ký đặt ra một cách có hệ thống đối với tất cả các giao dịch thế chấp tài sản với mục đích nhằm khuếch trương các giao dịch thế chấp tài sản, đưa các giao dịch này vào sự quản lý một cách có tổ chức của pháp luật. Tuy nhiên, đạo luật này nhanh chóng bị hủy bỏ bởi đạo luật được ban hành sau đó vào năm 1798. Đó là đạo luật số 11 tháng Sương mù (ngày 01/11/1798) và vấn đề đăng ký giao dịch thế chấp lại được đặt ra với mục đích mới quan trọng và rõ ràng hơn trước, nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ nhận thế chấp. Đạo luật này thiết lập một hệ thống các cơ quan đăng ký giao dịch thế chấp trong tất cả các đơn vị hành chính cấp quận, cơ quan này chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký với hai nhóm giao dịch khác nhau, vào sổ đăng ký giao dịch thế chấp và ghi nhận quyền ưu tiên2 đối với một số chủ nợ và đăng ký việc sao lại3 các giao dịch được thiết lập trên bất động sản. Với loại đăng ký thứ hai này, cơ quan đăng ký sẽ “sao chép” một phần hay toàn văn giao dịch có liên quan đến bất động sản, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến việc định đoạt, chuyển nhượng bất động sản, các sao chép này được lưu giữ tại cơ quan đăng ký như một biện pháp đăng ký đích thực.

Việc không đăng ký các giao dịch phải đăng ký theo luật này sẽ dẫn đến kết quả là hợp đồng thế chấp hay các giao dịch chuyển nhượng bất động sản nói chung sẽ không phát sinh giá trị đối kháng với người thứ ba. Hay nói cách khác là các giao dịch này chỉ có giá trị pháp lý trong quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch mà không phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba, tức là các bên không thể viện dẫn việc xác lập giao dịch để bảo vệ quyền của mình đối với một người thứ ba có liên quan. Có thể nói, các quy định ban đầu này về đăng ký giao dịch bất động sản ở Pháp nhìn chung đã rất tiến bộ so với các quy định cùng thời kỳ trong các lĩnh vực pháp lý khác.

Continue reading

GIẢM TÍNH HÌNH THỨC TRONG VIỆC THAM GIA XÉT XỬ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN

PHẠM THÁI

Trong thời gian qua, Báo ĐBND đăng một số bài trao đổi về việc quản lý và nâng cao chất lượng xét xử của Hội thẩm nhân dân (HTND). Xét thấy, cần phải có sự đánh giá toàn diện, nhiều chiều về thực tiễn tham gia hoạt động xét xử của HTND, nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như việc thực thi vai trò, trọng trách của HTND, tôi thấy cần trao đổi để cung cấp thêm thông tin và quan điểm của mình về vấn đề này.

Việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ XHCN. Ghi nhận vai trò của HTND trong công tác xét xử của Ngành Tòa án trong những năm qua. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số nơi, việc tham gia xét xử của HTND vẫn mang nặng tính hình thức. Thực tế nhiều HTND chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm mà pháp luật quy định, cũng như sự kỳ vọng của nhân dân.

Mục đích của chế định xét xử có HTND tham gia không đơn thuần là cùng Thẩm phán xét xử cho xong vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Quan trọng hơn, pháp luật giao trọng trách cho HTND thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế XHCN. Thực tế thời gian qua cho thấy, chất lượng xét xử các loại án chưa cao, tình trạng tiêu cực của một số cán bộ Tòa án đã bị phát hiện ảnh hưởng uy tín của Ngành Tòa án. Để xảy ra tình trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính nội tại của Ngành Tòa án, có một phần trách nhiệm của các HTND. Do kiến thức pháp luật và bản lĩnh còn hạn chế nên hầu hết các HTND chưa thực hiện tốt nguyên tắc “Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” và nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việc HTND chưa phát huy hết được vai trò, trách nhiệm có lẽ xuất phát từ cả quy định của pháp luật và việc thực thi.

Continue reading