LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TRỊNH THỊ HOA MAI -  Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động. Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của nhà trường đại học luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp. Như vậy, các nhà trường đại học luôn có nhu cầu phải được gắn kết với doanh nghiệp. Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất. Được hợp tác với một cơ sở đào tạo đại học cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp. Do đó, mối liên kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho doanh nghiệp. Bài báo cũng đề xuất những giải pháp nhằm tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Những giải pháp đó liên quan đến cả nhà trường, doanh nghiệp và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Các doanh nghiệp là tế bào quan trọng của nền kinh tế. Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp quyết định sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Hoạt động trong môi trường hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Một trong những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Có thể nói, trình độ học vấn của cả người lao động và chủ doanh nghiệp hiện nay còn rất thấp. Trong số hơn 25% lao động có chuyên môn thì cũng chỉ có khoảng 6% lao động có trình độ cao đẳng và đại học. Chủ doanh nghiệp có trình độ đại học cũng chỉ khoảng 2%. Về cơ bản, đội ngũ này mới được hình thành những năm 90, còn thiếu kinh nghiệm về nhiều mặt, từ kỹ năng quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường [1,2]. Đây là một lực cản mà tất cả các doanh nghiệp đều gặp và cần phải quyết tâm vượt qua vì sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp này trong điều kiện hội nhập hiện nay. Có nhiều con đường để tháo gỡ khó khăn trên, trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung bàn về vai trò của các trường đại học trong việc cung ứng lao động đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp trong điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Continue reading

NHU CẦU VỀ ĐÀO TẠO SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ QUẾ ANH -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Bài viết đề cập tới mục tiêu xây dựng nền văn hoá sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các trường đại học trong việc tạo dựng những yếu tố cần thiết để góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển nền văn hoá SHTT. Trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu về đào tạo SHTT dưới các góc độ khác nhau, tác giả đưa ra một số đề xuất về nội dung và thời lượng giảng dạy về SHTT trong các trường đại học ở Việt Nam. Với cách nhìn nhận SHTT như là một lĩnh vực hết sức đa dạng và mang tính liên ngành, những đề xuất trong bài viết được xây dựng theo các tiêu chí khác nhau về cấp độ đào tạo cũng như định hướng chuyên môn của người học.

1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và mục tiêu xây dựng nền văn hoá sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

SHTT đã trở thành một trong các nội dung cơ bản của các chương trình hợp tác kinh tế đa phương và song phương, trong đó có các thiết chế kinh tế mà Việt Nam đang tham gia. Mục tiêu của việc bảo hộ quyền SHTT đã được Tổ chức Thương mại thế giới cam kết theo đuổi, đó là ”Với mong muốn giảm sai lệch thương mại và các rào cản đối với thương mại quốc tế, … thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện các quyền sở hữu trí tuệ, và bảo đảm rằng bản thân các biện pháp và thủ tục thực thi quyền SHTT sẽ không trở thành rào cản đối với thương mại hợp pháp” (Lời nói đầu Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT – TRIPS). Bên cạnh đó, mục tiêu của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng được nhấn mạnh tại Điều 7 Hiệp định TRIPS:

”Việc bảo hộ và thực thi các quyền SHTT phải góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PV

Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) Việt Nam năm 1987 là một trong những đạo luật kinh tế đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Nhìn lại chặng đường 20 năm qua, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trương Văn Đoan đã có bài tổng kết Tác động của ĐTNN đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, tại Hội Nghị Tổng kết 20 năm ĐTNN tại Việt Nam (1987 – 2007, Civillawinfor).

DẤU ẤN 20 NĂM

Trong suốt 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã không ngừng được mở rộng và phát triển, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

Tính đến nay, cả nước có khoảng 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 98 tỷ USD. Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 83 tỷ USD. Riêng năm 2007, thu hút ĐTNN đạt 20,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư nước ngoài của 5 năm 2001 – 2005 và chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 20 năm qua.

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 61% tổng vốn đăng ký, lĩnh vực dịch vụ chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 4,6 % tổng vốn ĐTNN đăng ký.

Đến nay, ĐTNN đã trải rộng khắp 64 tỉnh, thành phố cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế – xã hội chung và các vùng phụ cận. Vùng trọng kinh tế điểm phía Bắc thu hút trên 24 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 27% tổng vốn đăng ký cả nước; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thu hút 44,87 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 54% tổng vốn đăng ký; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thu hút được 8,6 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả nước.

Continue reading

LƯƠNG VÀ TÂM

SAGA.VN

Phàm ở đời, nhận hay cho đều gắn với chữ Tâm. Chữ Tâm tròn hay khuyết, mỏng hay dày đều xuất phát từ tâm thế, mục đích của người cho và nhận vậy. Lương (thu nhập, nhận) cũng không ngoài sự ràng buộc ấy. Soi chiếu việc này với việc một số sếp của các doanh nghiệp nhà nước nhận lương cao tới mức gây sốc cho dư luận, lại băn khoăn đi tìm vị trí chữ Tâm.

Nhận lương như thế mà để lỗ, lúc đó chữ Tâm có ngủ yên? Kinh doanh nguồn tiền khổng lồ của nhà nước, “buôn tài không bằng dài vốn”, nhưng “vốn dài” mà lợi nhuận thu về ngắn, có khi lại âm, thế nhưng lương tháng chẳng âm bao giờ.

Vừa mới đây, báo chí lại thông tin Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Kiên Giang nhận lương mỗi tháng 232 triệu đồng trong khi cả năm Cty này chỉ nộp ngân sách 4,7 tỷ đồng! Và lương công nhân chỉ bằng mươi cân cá kèo. Lúc đó chữ Tâm trong họ chắc đang ngủ yên?

Lương không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với Tâm. Câu chuyện các cô giáo mầm non ở xã Long Thành, huyện Yên Thành nhận mức lương mỗi tháng sáu trăm nghìn đồng, có khi lương được trả bằng lúa, bằng lạc, bằng cả ổ chó con. Nhưng các cô vẫn say nghề, yêu trẻ vô điều kiện.

Biết bao cán bộ công nhân viên chức đang nhận những đồng lương khốn khó mà vẫn hăng say lao động, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Lương chịu sự điều chỉnh của cơ chế, chính sách nhưng lương cũng chịu sự chi phối của chữ Tâm. Tâm thể hiện ở việc đưa ra một chế độ tiền lương công bằng, nhân sinh của những người hoạch định chính sách.

Continue reading

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động. Vì thế, pháp luật lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước. Bộ Luật Lao động Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994, đến nay Bộ luật đó qua ba lần sửa đổi bổ sung. Bộ luật đó thể hiện rõ mong muốn của xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đổi mới pháp chế, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập, cũng như yêu cầu khách quan của thực tiễn đời sống lao động, có thể thấy pháp luật lao động Việt Nam còn bộc lộc một số nhược điểm cần phải được chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình mới.

 1. Đánh giá chung về hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành

Có thể nói, từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, pháp luật lao động nước ta đã có một bước tiến đáng kể:

Một là, hệ thống pháp luật lao động đã trở thành một hệ thống luật chuyên ngành tương đối đồ sộ với khá nhiều văn bản pháp luật, kể cả văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất như Bộ Luật Lao động. Pháp luật lao động ở nước ta trong những năm qua đã có bước chuyển đổi và phát triển quan trọng. Ngày 23/06/1994, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động [1] – Bộ luật của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ Luật Lao động đã được thực hiện từ ngày 01/01/1995. Sau đó Bộ Luật Lao động được sửa đổi bổ sung ba lần vào các năm 2002; 2006 và 2007. Bộ Luật Lao động đã khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Bộ Luật Lao động đã thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam và Hiến pháp 1992 trong lĩnh vực lao động – xã hội. Điều này có thể thấy, một Bộ luật đã được pháp điển hoá, chi tiết hoá và bổ sung bằng các đạo luật riêng lẻ, như: Luật Bảo hiểm Xã hội; Luật đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng; Luật Dạy nghề là nét mới trong hoạt động lập pháp của Việt Nam. Bộ Luật Lao động đã góp phần quan trọng giải phóng mọi tiềm năng lao động, mở mang nhiều ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: LUẬT SƯ GIỮ BÍ MẬT CHO THÂN CHỦ ĐẾN ĐÂU?

HỒNG TÚ

Luật sư không được câu kết với cán bộ tố tụng, không được giúp đỡ khách hàng giải quyết công việc bằng những thủ đoạn, hành vi bất hợp pháp.

Đạo đức hành nghề của luật sư được các đại biểu tham gia hội thảo “Quản lý nghề luật sư: Kinh nghiệm của Việt Nam và Nhật Bản” rất quan tâm, nhất là khi sắp tới, nội dung này sẽ được Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành thành quy tắc. Vấn đề đầu tiên trong đạo đức hành nghề luật sư là mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng.

Tố giác hay im lặng?

Theo luật sư Nguyễn Huy Thiệp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc luật sư giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu. Ông phân tích: “Nếu luật sư thực hiện tốt nguyên tắc này thì khách hàng mới có niềm tin vào luật sư. Khi đó họ sẽ cung cấp toàn bộ, đầy đủ thông tin liên quan đến sự việc, kể cả những vấn đề tế nhị. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư”.

Nhiều đại biểu tán đồng ý kiến này. Tuy nhiên, luật sư Trương Xuân Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) tỏ ra băn khoăn khi đặt giả thuyết: Nếu khách hàng tiết lộ cho luật sư biết họ đã thực hiện một hành vi phạm tội thì luật sư phải làm thế nào? Đi báo cơ quan chức năng hay im lặng che giấu tội phạm?

Luật sư Toriyama Hanroku (Đoàn Luật sư Osaka) nêu kinh nghiệm của Nhật Bản để các đại biểu tham khảo. Theo ông, luật sư Nhật Bản không được phép tiết lộ thông tin của khách hàng. Tuy nhiên, nếu biết được khách hành của mình đang chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng, luật sư được phép báo cho cơ quan chức năng sau khi đã làm hết các biện pháp khác nhưng không ngăn cản khách hàng được. Còn lại, tất cả các trường hợp khác luật sư đều không được tố cáo, đó là nguyên tắc nghề nghiệp.

Continue reading