Đào tạo luật sư ở một số nước trên thế giới và những kinh nghiệm ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THU HÀ,  TS. NGÔ HOÀNG OANH & TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật Luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).

Tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư năm 2006:

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)

Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.

1. Đào tạo luật sư ở Pháp

Điều kiện bắt buộc để hành nghề luật sư ở Pháp là phải là thành viên của Đoàn luật sư địa phương (barreau) với điều kiện gia nhập là phải có bằng Maitrise về luật[1], phải có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư (Certificat d’aptitude à la profession d’advocat), sau đó làm luật sư thực tập trong 2 năm.

Continue reading

ĐÀOTẠO LUẬT SƯ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THU HÀ – TS. NGÔ HOÀNG OANH – TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật Luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).

Tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư năm 2006:

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)

Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.

1. Đào tạo luật sư ở Pháp

Điều kiện bắt buộc để hành nghề luật sư ở Pháp là phải là thành viên của Đoàn luật sư địa phương (barreau) với điều kiện gia nhập là phải có bằng Maitrise về luật[1], phải có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư (Certificat d’aptitude à la profession d’advocat), sau đó làm luật sư thực tập trong 2 năm.

Continue reading

Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học – PHƯƠNG PHÁP THÍCH HỢP VỚI ĐÀO TẠO Ở ĐẠI HỌC

LÊ QUANG SƠN – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Bài viết này nhằm đề xướng một hướng dạy học mới trong đào tạo đại học – dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học. Bản chất của hướng dạy học này là tổ chức quá trình dạy học theo logic nghiên cứu khoa học. Trong hướng dạy học này, dưới sự tổ chức, hướng dẫn và cố vấn của người dạy, người học tự mình phát hiện, biểu đạt vấn đề (lý luận hay thực tiễn) thuộc các lĩnh vực tri thức/thực tiễn khác nhau, vạch hướng giải quyết, thiết kế các nghiên cứu lý luận hay thực tiễn để giải quyết vấn đề, và trên cơ sở vấn đề được giải quyết, nêu hay phát hiện những vấn đề mới.

Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học nên được coi như một hướng dạy học dung hợp trong nó nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau, và có thể được áp dụng một cách mềm dẻo bởi những nhà giáo với những tiềm năng về phương pháp dạy học khác nhau.

1. Đặt vấn đề

Thành tựu nổi bật nhất của tâm lý học thế kỷ XX là sự khám phá ra vai trò quyết định của hoạt động của con người trong việc hình thành các năng lực và phẩm chất. Những khả năng trí tuệ, năng lực chuyên môn, các phẩm chất nghề nghiệp, thuộc tính nhân cách của con người là kết quả của việc con người, bằng hoạt động của chính bản thân mình, chuyển hóa những năng lực và phẩm chất người của loài người thành tài sản riêng cho bản thân. Giáo dục và dạy học, về bản chất, chính là sự tổ chức hoạt động lĩnh hội cho người học, hướng vào lĩnh hội kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người. Chất lượng của các năng lực, sự hình thành phẩm chất tâm lý khác nhau tùy thuộc ở cách mà con người tiến hành hoạt động lĩnh hội. Nói cách khác, phương pháp giáo dục, dạy học nào thì kết quả giáo dục, dạy học ấy. Nếu dạy học chỉ đòi hỏi ở người học sự ghi nhớ thụ động, sự dập khuôn cứng nhắc, thói chờ đợi chỉ dẫn thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể hình thành ở người học khả năng ghi nhớ máy móc, tính thụ động chờ đợi chỉ dẫn, chứ không thể hình thành được tư duy uyển chuyển, óc sáng tạo và tinh thần khám phá.

Trong lĩnh vực giáo dục, phương pháp dạy học được hiểu là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học (bao gồm cả trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; hình thành các phẩm chất nhân cách; phát triển những khả năng và năng lực). Phương pháp dạy học là cách mà người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) hoạt động của người học, và cách mà người học tiến hành hoạt động lĩnh hội năng lực người.

Continue reading

DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – PHƯƠNG PHÁP THÍCH HỢP VỚI ĐÀO TẠO Ở ĐẠI HỌC

LÊ QUANG SƠN – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Bài viết này nhằm đề xướng một hướng dạy học mới trong đào tạo đại học – dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học. Bản chất của hướng dạy học này là tổ chức quá trình dạy học theo logic nghiên cứu khoa học. Trong hướng dạy học này, dưới sự tổ chức, hướng dẫn và cố vấn của người dạy, người học tự mình phát hiện, biểu đạt vấn đề (lý luận hay thực tiễn) thuộc các lĩnh vực tri thức/thực tiễn khác nhau, vạch hướng giải quyết, thiết kế các nghiên cứu lý luận hay thực tiễn để giải quyết vấn đề, và trên cơ sở vấn đề được giải quyết, nêu hay phát hiện những vấn đề mới.

Dạy học theo phương pháp nghiên cứu khoa học nên được coi như một hướng dạy học dung hợp trong nó nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau, và có thể được áp dụng một cách mềm dẻo bởi những nhà giáo với những tiềm năng về phương pháp dạy học khác nhau.

1. Đặt vấn đề

Thành tựu nổi bật nhất của tâm lý học thế kỷ XX là sự khám phá ra vai trò quyết định của hoạt động của con người trong việc hình thành các năng lực và phẩm chất. Những khả năng trí tuệ, năng lực chuyên môn, các phẩm chất nghề nghiệp, thuộc tính nhân cách của con người là kết quả của việc con người, bằng hoạt động của chính bản thân mình, chuyển hóa những năng lực và phẩm chất người của loài người thành tài sản riêng cho bản thân. Giáo dục và dạy học, về bản chất, chính là sự tổ chức hoạt động lĩnh hội cho người học, hướng vào lĩnh hội kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người. Chất lượng của các năng lực, sự hình thành phẩm chất tâm lý khác nhau tùy thuộc ở cách mà con người tiến hành hoạt động lĩnh hội. Nói cách khác, phương pháp giáo dục, dạy học nào thì kết quả giáo dục, dạy học ấy. Nếu dạy học chỉ đòi hỏi ở người học sự ghi nhớ thụ động, sự dập khuôn cứng nhắc, thói chờ đợi chỉ dẫn thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể hình thành ở người học khả năng ghi nhớ máy móc, tính thụ động chờ đợi chỉ dẫn, chứ không thể hình thành được tư duy uyển chuyển, óc sáng tạo và tinh thần khám phá.

Trong lĩnh vực giáo dục, phương pháp dạy học được hiểu là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học (bao gồm cả trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; hình thành các phẩm chất nhân cách; phát triển những khả năng và năng lực). Phương pháp dạy học là cách mà người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) hoạt động của người học, và cách mà người học tiến hành hoạt động lĩnh hội năng lực người.

Continue reading

M&A Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

NGUYỄN HÒA NHÂN – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

M&A là hoạt động kinh tế tăng trưởng mạnh từ lâu nay trên thế giới. Ở Việt Nam, hoạt động này bắt đầu chưa lâu song ngày càng sôi động và hứa hẹn một sự bùng nổ trong thời gian đến tuy rằng những hiểu biết hiện tại về nó còn rất hạn chế. Chính vì vậy, bài viết này nhằm giới thiệu hệ thống các vấn đề cơ bản liên quan quá trình M&A và phân tích thực tế ứng dụng hoạt động M&A ở Việt Nam. Một trong những vấn đề lý thuyết mấu chốt cần nắm vững khi tiến hành hoạt động M&A được đề cập đến là các yếu tố tạo nên giá trị tăng thêm sau M&A.

Bài viết cũng phân tích một cách cơ bản những kết quả và hạn chế của hoạt động M&A cho đến nay cũng như những cơ hội và thách thức cho hoạt động M&A sắp đến. Cuối cùng, điều quan trọng là đề xuất một số hướng giải pháp cơ bản chuẩn bị cho sự phát triển hoạt động M&A ở Việt Nam, nhất là các nội dung cần lưu ý cho các công ty tham gia M&A.

1. M&A và những lợi ích

Hiện nay M&A được gọi phổ biến là “sáp nhập (Mergers) và mua lại (Acquisitions)” (có người còn gọi đó là “hợp nhất và thâu tóm”). Sáp nhập là hình thức trong đó hai hay nhiều công ty kết hợp lại thành một và cho ra đời một pháp nhân m ới, một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ. Ví dụ Daimler-Benz và Chrysler sáp nhập thành một công ty mới mang tên DaimlerChrysler. Có 3 loại sáp nhập: ngang, dọc, tổ hợp. Sáp nhập ngang (horizontal mergers) là sự sáp nhập giữa hai công ty kinh doanh trong cùng cùng một lĩnh vực, ví dụ giữa hai ngân hàng sáp nhập với nhau; Sáp nhập dọc (vertical mergers) là sự sáp nhập giữa hai công ty nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước (forward, ví dụ công ty may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo) hoặc phía sau (backward, ví dụ công ty sản xuất sữa mua lại công ty bao bì, đóng chai hoặc công ty chăn nuôi bò sữa) của công ty sáp nhập trên chuỗi giá trị đó; Sáp nhập tổ hợp (conglomerate mergers) bao gồm tất cả các loại sáp nhập khác.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 01/2010/TT-BTP NGÀY 09 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 77/2008/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 7 NĂM 2008 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT

Căn cứ Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định số 77/2008/NĐ-CP) như sau:

Chương I

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT

Điều 1. Cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật

Cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật theo quy định của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP bao gồm:

1. Cơ sở đào tạo chuyên ngành luật được thành lập hợp pháp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được phép đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp đại học luật hoặc cấp bằng tốt nghiệp trung cấp luật.

2. Cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được thành lập hợp pháp, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học pháp lý.

Điều 2. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật

1. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm tư vấn pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP gồm có: Giám đốc, tư vấn viên pháp luật hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động (sau đây gọi tắt là luật sư), kế toán, thủ quỹ. Trung tâm tư vấn pháp luật có thể có Phó Giám đốc và nhân viên khác.

Continue reading

CHO VAY TÍN CHẤP Ở VIỆT NAM: ĐẾN BAO GIỜ?

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Một trong những khó khăn lớn khi các doanh nghiệp muốn vay vốn của các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng là phải có tài sản thế chấp. Trong khi đó, xét về mặt lý thuyết, các ngân hàng và tổ chức tín dụng hoàn toàn có quyền cho các doanh nghiệp vay vốn không cần có tài sản đảm bảo, tức là cho vay tín chấp. Nhưng, điều đó vẫn chỉ có trên lý thuyết mà thôi. Vậy ta có thể làm gì để vay tín chấp trở thành hiện thực?

Vay tín chấp là gì?

Vay tín chấp là hình thức vay tiền ngân hàng và các tổ chức tín dụng được bảo đảm bằng sự tín nhiệm, không cần có tài sản thế chấp.Tất nhiên, tài sản thế chấp được đề cập ở đây là một tài sản hữu hình hoặc một bất động sản đầu tư. Khái niệm trên cho thấy, vay tín chấp không phải là việc cho vay không có bảo đảm mà cao hơn, tài sản bảo đảm là sự tín nhiệm giữa người cho vay (các ngân hàng, tổ chức tín dụng) và người vay, thông thường là các doanh nghiệp. Từ những phân tích trên, có thể thấy, vay tín chấp có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, vay tín chấp không thể thực hiện được trong giai đoạn đầu của mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Để có được sự tín nhiệm, quan hệ vay – cho vay phải trải qua một thời gian nhất định.

Hai là, thế chủ động trong việc quyết định cho vay tín chấp thuộc về người cho vay. Bởi lẽ, khi và chỉ khi người cho vay có được độ tin cậy rất cao đối với người vay mới có thể quyết định cho vay tín chấp.

Ba là, người vay (các doanh nghiệp) đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm để có thể vay tín chấp. Trong nhiều trường hợp, chính hoạt động kinh doanh có hiệu quả và sự minh bạch của doanh nghiệp lại là nhân tố quyết định để ngân hàng và các tổ chức tín dụng quyết định cho vay tín chấp.

Bốn là, sự tín nhiệm (“tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình, không thể đem đấu giá để thu hồi vốn cho vay. Vì vậy, quyết định cho vay tín chấp của các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng và vì vậy, khó khăn là lẽ đương nhiên.

Continue reading

NHỮNG NHẦM LẪN VÀ BẤT CẬP VỀ THỦ TỤC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Công ty cổ phần là một phát minh của nền kinh tế thị trường, là loại hình doanh nghiệp chiếm ưu thế lớn nhất về nguổn vốn và năng lực kinh doanh. Công ty cổ phần là nền tảng hình thành nên những công ty siêu quốc gia, những tập đoàn kinh tế lớn và thị trường chứng khoán. Nhưng đối với Việt Nam, công ty cổ phần chỉ mới có tuổi đời hai chục năm. VÌ vậy, chỉ riêng về trình tự, thủ tục tiến hành các cuộc họp Đại hội đổng cổ đông cũng đã có không ít sai sót, nhầm lẫn và bất cập.

1. Nhầm lẫn về tên gọi cuộc họp

Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định "Đại hội đổng cổ đông gổm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần". Đại hội đổng cổ đông là một co cấu tổ chức của công ty, luôn hiện hữu từ khi thành lập công ty cổ phần cho đến khi chấm dứt hoạt động. Mọi cổ đông đều là thành viên đương nhiên cấu thành nên Đại hội đồng cổ đông. Nhưng hầu hết các công ty, các phương tiện báo chí và cơ quan Nhà nước đã sử dụng nhầm lẫn chữ "Đại hội" trong cụm từ này đổng nghĩa với cuộc họp, cho nên viết là "mời dự Đại hội đổng cổ đông Tập đoàn Bảo Việt" hay "Đại hội đổng cổ đông thường niên Ngân hàng TMCP Hàng Hải" hoặc "Đại hội đổng cổ đông lần thứ nhất Ngân hàng TCMP Công thương Việt Nam". Theo đúng ngữ nghĩa cũng như quy định của Luật Doanh nghiệp, luôn luôn phải thêm từ cuộc họp hoặc từ khác tương đương vào cụm từ "Đại hội đổng cổ đông" để chỉ một cuộc họp.

Ngay chính Luật Doanh nghiệp cũng một lần bị nhầm lẫn và đã diễn ra không ít lần nhầm lẫn trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Gần đây nhất là Công văn số 3069/BKH-PTDN ngày 04-5-2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng không chính xác khi viết câu trích yếu: "V/v Tỷ lệ tham dự Đại hội đổng cổ đông thường niên của công ty cổ phần".

2. Nhầm lẫn về thời hạn mời họp

Khoản 2, Điều 97 của Luật Doanh nghiệp về "Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đổng cổ đông" quy định: "Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính". Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều công ty đã kéo dài thời hạn họp đến tận tháng 5, tháng 6 năm sau. Ví dụ, đến giữa tháng 6/2009 Ngân hàng TMCP Quân Đội mới tiến hành họp Đại hội đổng cổ đông hay Công ty Cổ phần chứng khoán APEC họp vào cuối tháng 6-2009.

Continue reading

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HỒ PHI HÀ

Vốn là một câu chuyện thường xuyên làm đau đầu các doanh nghiệp. Vốn đối với doanh nghiệp quan trọng như huyết mạch trong cơ thể con người. Vì vậy, huy động vốn là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Hiện nay, có nhiều kênh huy động vốn khác nhau, trong đó thị trường bất động sản là một trong những kênh huy động vốn đang nhận được sự quan tâm từ nhiều phía. Vậy thực trạng huy động vốn từ thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay ra sao? 

Có thể nhận thấy rằng thị trường bất động sản là một loại hình thị trường quan trọng. Đối với các nước công nghiệp, hoạt động của thị trường bất động sản thường chiếm khoảng 30% GDP. Cũng có rất nhiều quốc gia có nguồn thu thuế cho Ngân sách Nhà nước từ đất đai và bất động sản chiếm 50%-70% tổng thu. Sự ra đời và phát triển của loại hình thị trường này đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian qua bởi nó là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Việc phát triển thị trường bất động sản tạo ra những kích thích cho đầu tư vào đất đai, sự chuyển dịch năng động về lao động giữa các ngành, các vùng lãnh thổ; chuyển bất động sản thành tài sản tài chính để thu hút vào hoạt động các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế…. Và thị trường bất động sản thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua tình hình huy động nguồn vốn từ đất đai cho Ngân sách Nhà nước sẽ gián tiếp tác động tới nguồn vốn cho doanh nghiệp. Cụ thể trong thời gian qua, các khoản thu từ đất đai luôn là một nguồn thu ổn định và chiếm từ 8- 9,5% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước. Đó là chưa tính đến lệ phí trước bạ khi chuyển quyền sử dụng đất và các khoản thu gián tiếp thông qua góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất… cũng làm tăng các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước. Điều này được thể hiện số thu cho Ngân sách Nhà nước từ đất đai qua các năm như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU: HAI NGÔI NHÀ ĐƯỢC TẶNG CHO

VĂN ĐOÀN

Nhà ở từ hồi giải phóng nhưng phải trả lại cho người không ở một ngày nào. Phải xác lập quyền rồi mới được tặng cho.

Cuối năm 2008, bà H. kiện ông TH ra tòa để đòi lại hai căn nhà ở quận Bình Thạnh (TP.HCM). Bà H. cho rằng hai căn nhà trên là của bà T., hiện đang ở nước ngoài, cho bà.

Cả hai cùng được tặng nhà

Bà H. diễn giải, năm 1968, bà T. ủy quyền giao hai căn nhà này cho một người quen trông coi để bà này đi nước ngoài chữa bệnh. Sau đó thì người quen của bà T. cho ông TH vào ở nhờ. Khi giải phóng, người quen của bà T. cho ông TH tài sản trên.

Tuy nhiên, đến năm 2008, bà T. lại tặng hai căn nhà này cho bà. Sau đó, bà được UBND quận Bình Thạnh cấp giấy tờ nhà. Do vậy, bà kiện đòi ông TH phải trả lại nhà cho bà.

Bỗng dưng mất nhà, ông TH phản đối, cho rằng đúng là hai căn nhà trên trước đây là của bà T. Thế nhưng năm 1968, bà T. đã ủy quyền cho người quen được quyền mua bán, sang nhượng tài sản này. Vì vậy, người quen của bà T. đã cho ông nên không chấp nhận trả lại nhà.

Ông TH cho biết thêm, từ đó đến nay ông đã kê khai và ở trong hai ngôi nhà này mà không có tranh chấp gì. Ông có đủ điều kiện để được cấp giấy tờ nhà nhưng chưa làm vì chưa có tiền.

Người đang ở phải trả nhà

Cuối năm 2009, TAND TP.HCM xử sơ thẩm vụ án. Tại tòa, luật sư của ông TH cho rằng hai căn nhà mà ông TH đang ở là tài sản hợp pháp của ông bởi lẽ giấy cho nhận tài sản giữa ông và người quen của bà T. đã được chứng nhận hợp lệ tại thời điểm bấy giờ.

Continue reading

QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI: “CHỒNG” VÀ “TRỐNG”

GS. TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Khoảng “chồng” là chỗ đầy “hấp dẫn” nên nhiều người quản lý muốn “nhẩy vào” để “quy định” sao cho có lợi cho đối tượng nào đó mà người quản lý yêu mến; còn khoảng “trống” là chỗ “khó” nên có thể vì thế mà người quản lý không muốn “dính” vào, ngại đưa ra các quy định hoặc có thể vì khó mà cố ý trì hoãn để vẫn dùng quy định cũ cho có lợi cho đối tượng nào đó mà người quản lý yêu mến.

Tồn tại của vấn đề:

Bất kỳ một hệ thống quản lý nào cũng phải bắt đầu bằng các công cụ quản lý của Nhà nước để thiết lập hành lang pháp lý, tiếp theo là tổ chức hệ thống hành chính để thực hiện việc quản lý với nhiệm vụ là giữ trật tự cho mọi hoạt động thuộc phạm vi quản lý, dẫu có “ngược xuôi” gì thì cũng chỉ được thể hiện trong hành lang pháp lý đã định và nhiệm vụ là tác động bằng các chính sách của Nhà nước để mọi hoạt động thuộc phạm vi quản lý hướng theo chiều tạo hiệu quả cao.

Đến nay, quản lý Nhà nước về đất đai có 3 công cụ chủ yếu là pháp luật, quy hoạch và tài chính. Pháp luật về đất đai là một hệ thống các quy định để điều chỉnh việc sử dụng đất trong mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng và người sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất đai là việc xếp đặt mục đích sử dụng đất theo không gian và thời gian sao cho đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường trong mối quan hệ với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch mặt bằng xây dựng. Tài chính đất đai là hệ thống giá đất và thuế đất nhằm điều tiết lợi ích từ sử dụng đất giữa Nhà nước, cộng đồng và người sử dụng đất sao cho bảo đảm quyền lợi hợp lý của các bên. Hệ thống hành chính quản lý đất đai có nhiệm vụ buộc mọi người làm đúng pháp luật về đất đai, sử dụng đất đúng quy hoạch, thực hiện đúng các nghĩa vụ tài chính về đất đai, hướng dẫn đúng những trường hợp được ưu đãi và kiểm tra thường xuyên để ngăn chặn kịp thời các hành vi làm trái các quy định của pháp luật, quy hoạch và tài chính.

Continue reading

LUẬT ĐẤT ĐAI – HAI VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

PHẠM QUANG LÊ

Một lần nữa, Luật Đất đai – một đạo luật rất quan trọng – lại được đưa ra xem xét để sửa đổi, bổ sung (Tác giả viết bài này trước thời điểm Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, tuy nhiên tính thời sự của nó vẫn còn trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003 – Civillawinfor). Đó là điều mọi người đang mong đợi trước những hạn chế, bất cập của  khung pháp lý hiện hành và những vướng mắc hàng ngày trong công tác quản lý, sử dụng đất đai đang diễn ra.

Đã có nhiều ý kiến đóng góp vào nội dung cụ thể của Dự luật, ở đây chỉ xin đề cập đến cách tiếp cận với mong muốn làm rõ thêm một số vấn đề cốt yếu.

Đã có bước tiến rất quan trọng, nhưng…

Từ khi mở ra công cuộc Đổi Mới, đã từng có những nỗ lực đột phá vào vấn đề nhạy cảm và phức tạp này với những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình hình đang tiếp tục diễn biến phức tạp, nóng bỏng. Đúng là, như có người đã nói trong một cuộc hội thảo, đất đai đang tạo ra “3 cái nhất” là: lợi nhuận “siêu” nhất; tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng nhất; khiếu kiện nhiều nhất và “3 cái mất” là: mất của, mất cán bộ, mất kỷ cương. Hóa giải thực trạng đó đang là bài toán làm “đau đầu” các nhà lãnh đạo, quản lý và những người quan tâm. Để thấy rõ hơn các bước tiến đã đạt được và những hạn chế tồn tại, có lẽ nên thử nhìn lại đôi nét chính của đoạn đường đã qua.

Đầu tiên phải kể đến bước đột phá “khoán hộ” trong nông nghiệp. Nhờ cơ chế này, sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, năng suất lúa tăng vọt qua “cửa ải 5 tấn/ha”, góp phần quan trọng đưa cả nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội gay gắt lúc đó và biến nước ta thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba rồi thứ 2 thế giới. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 1987 hầu như chưa có gì mới (phải đến năm 1992  nhiều quan điểm mới về đất đai mới được Hiến pháp ghi nhận). Có thể thấy ở đây một điển hình của hiện tượng Chính sách đi thẳng vào cuộc sống và tạo nên kỳ tích thật giản dị, không cần nhiều văn bản dài dòng, tổ chức cồng kềnh, khiếu kiện cũng rất ít. Đó là khi người ban bố chính sách và người chấp hành chính sách về cơ bản nhất trí với nhau: Đất đai là tư liệu sản xuất nông nghiệp, phải tranh thủ sử dụng tư liệu này cho tốt để mưu cầu no ấm cho mình và cho đồng bào. Ngoài ra không còn cách nhìn nào khác, mà có “nhìn” khác thì cũng chưa có điều kiện làm khác: chúng ta vừa ra khỏi một cơ chế làm nghèo kiệt, chưa ai có điều kiện dùng đất để làm giàu nhanh chóng nên ít ai ham hố.

Continue reading

VẤN ĐỀ SỞ HỮU: HIỆN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Cơ chế thị trường ở Việt Nam mới bắt đầu được nhận thức và áp dụng từ gần 20 năm qua. Hiến Pháp 1992 khẳng định: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN". Đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10, năm 2006 viết gọn lại là: mô hình "nền kinh tế thị trường định hướng XHCN".

Cơ chế thị trường chỉ là phương tiện để vận hành nền kinh tế thị trường dựa vào những quy luật lợi ích khách quan của nó. Bản thân cơ chế thị trường không phải là một mô hình kinh tế, đó chỉ là cách thức phân phối lợi ích dựa theo các quy luật kinh tế khách quan. Cơ chế thị trường có thể giống nhau ở các nước khác nhau, nhưng việc vận dụng nó trong nền kinh tế thị trường ở mỗi nước có thể khác nhau do những đặc trưng riêng về thể chế chính trị và mô hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia. Một số trong những nhân tố tạo nên sự khác biệt căn bản nói trên là nhận thức 2 vấn đề: Vấn đề sở hữu và vấn đề thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

Lý luận và thực tiền về sở hữu:

Thứ nhất, bản chất của quan hệ sở hữu là quyền sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX) là quan hệ giữa người với người về mặt chiếm hữu TLSX. Đây là quan hệ khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, quan hệ đó thể hiện ở cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng);

Thứ hai, chế độ sở hữu là sự pháp lý hoá các quan hệ sở hữu thành các quyền như: quyền định đoạt, quyền sử dụng, quyền quản lý sản xuất kinh doanh, quyền thực hiện các lợi ích kinh tế. Tương ứng với các phương thức sản xuất khác nhau có thể có các loại hình sở hữu phổ biến khác nhau. Cho đến nay, thế giới đã có 3 hình thức sở hữu chính: sở hữu xã hội, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp;

Continue reading

NÊN GIỚI HẠN THỜI GIAN KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN

XUÂN VIỄN

Pháp luật về cư trú của công dân là quy định bắt buộc và cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của cơ quan công an. Liên quan đến vấn đề này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật có liên quan đến việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, cư trú của công dân đều chưa có quy định cụ thể về giới hạn thời gian kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định tại điều 46 của Bộ Luật dân sự và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Tổ chức, cá nhân muốn vào chỗ ở của người khác thì phải có sự đồng ý của người đó. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của người khác và phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Theo Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 thì cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân có thẩm quyền quản lý vấn đề liên quan đến cư trú tại địa bàn đảm nhận. Như vậy, căn cứ theo quy định hiện hành, cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân cấp phường, thị trấn, trưởng công an xã có thẩm quyền kiểm tra trực tiếp việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, tổ chức thuộc địa bàn quản lý theo thời gian định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu của công tác phòng chống tội phạm. Có nghĩa là pháp luật không giới hạn về thời gian kiểm tra, cơ quan chức năng có thể kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của công dân bất cứ lúc nào. Trong thực tế, cũng có  những đợt kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành vào đêm khuya, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt người dân.

Nếu chỉ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú liên quan đến vấn đề đăng ký thường trú, tạm trú thì cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định (có thể quy định trước 22 giờ). Trong trường hợp liên quan đến yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hoặc những trường hợp đặc biệt khác pháp luật mới không giới hạn về thời gian. Hiện nay, việc kiểm tra chấp hành pháp luật về cư trú vào bất kỳ thời điểm nào như quy định hiện hành là chưa hợp lý. Nên quy định một số trường hợp "đặc biệt" mới giao thẩm quyền kiểm tra bất kỳ cho các cá nhân, tổ chức.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG: ĐẠO LÝ, PHÁP LÝ VÀ . . . NHỮNG ĐIỀU VÔ LÝ

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Sức sản xuất xã hội do hai yếu tố quyết định đó là: Công cụ sản xuất và lao động. Lao động chính là con người, là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là đạo lý và là phần rất quan trọng trong quy định pháp lý của tất cả các quốc gia trên thế giới.

ĐẠO LÝ

Con người là vốn quý nhất của mọi xã hội. Vì vậy, con người phải luôn luôn được bảo vệ. Mục tiêu tối thượng của mọi xã hội là bảo vệ quyền được sống, được lao động và được hưởng thụ lành mạnh của con người. Song, do những hoàn cảnh khác nhau về tố chất, hoàn cảnh sống của từng người, do sự phát triển không đều của nền kinh tế, xã hội loài người lại phân hoá thành kẻ giàu, người nghèo. Một bộ phận nắm giữ của cải xã hội và các tư liệu sản xuất, đó là những người chủ. Một bộ phận khác chỉ có sức lao động, phải đi bán sức lao động để kiếm sống – đó là những lao động làm thuê. Trong hai bộ phận ấy, những người lao động làm thuê ở thế yếu hơn. Vì vậy, họ cần được bảo vệ thường xuyên hơn, đầy đủ hơn. Đó là đạo lý tất yếu ở bất kỳ xã hội nào.
Xuất phát từ đạo lý chung, tất yếu đã nêu, pháp luật của các quốc gia đều tập trung bảo vệ người lao động làm thuê. Nghiên cứu Luật Lao động của các nước phát triển như Singapore, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật… cho thấy, bằng đạo luật của mình, quốc gia nào cũng bảo vệ người lao động làm thuê từ quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, đến tiền công và chế độ cho người lao động khi đau ốm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, v.v…

Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng phải đặt ra nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi người lao động. Nếu không thực hiện nhiệm vụ quan trọng ấy, nhà nước đó tất yếu sẽ không tồn tại vì sẽ không được một bộ phận đông đảo nhất trong nhân dân ở quốc gia đó ủng hộ.

Continue reading

MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tư tưởng nổi bật của Nghị quyết là phải tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ công tác thi hành án ở Việt Nam. Điều này được thể hiện thông qua bốn nội dung cơ bản, bao gồm: một là, xây dựng Bộ luật Thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực về thi hành án; hai là, xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; ba là, chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp; bốn là, từng bước xã hội hoá các hoạt động thi hành án.

Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là những nội dung đổi mới này được xây dựng và thực hiện dựa trên một mô hình tổ chức thi hành án như thế nào, hệ thống các cơ quan quản lý thi hành án của Việt Nam được sắp xếp và tổ chức lại như thế nào để đáp ứng yêu cầu của các nội dung cải cách đó, kinh nghiệm về mô hình tổ chức thi hành án của các nước trong khu vực và trên thế giới ra sao,…? Có thể nói, về mặt thực tiễn, đây là những vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên việc nghiên cứu, khảo cứu kinh nghiệm pháp luật, thực tiễn thi hành án của các nước trên thế giới, đặc biệt về các mô hình thi hành án là rất cần thiết hiện nay. Từ đó tổng kết, đúc rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế quý báu để lựa chọn cho Việt Nam một mô hình tổ chức thi hành án thích hợp, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả công tác thi hành án trong thời gian tới. Phạm vi bài viết này đề cập đến mô hình tổ chức thi hành án của một số nước trên thế giới:

1. Tại Cộng hoà Pháp

Cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự đều tập trung ở Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý.

Thi hành các bản án, quyết định về dân sự do các văn phòng hoặc công ty Thừa phát lại thực hiện mà trực tiếp là các Thừa phát lại. Các văn phòng, công ty Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo mô hình của các công ty thương mại. Tư cách Thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp vừa là một nghề tự do, có tư cách hoạt động độc lập. Điều đáng lưu ý là họ hoạt động bằng nguồn kinh phí, thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả mà Nhà nước không phải mất một khoản tài chính nào chi trả lương cho họ, thậm chí nhờ hoạt động của các văn phòng, công ty Thừa phát lại mà nhà nước thu được một khoản tài chính thông qua việc đánh thuế. Điều đáng lưu ý nữa là Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết.

Continue reading

CỤ THỂ HÓA QUAN ĐIỂM VỀ TẬP QUÁN PHÁP THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 48 – NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong nhiều năm qua, mặc dù đã tích cực đổi mới, nhưng pháp luật Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập trong việc thực hiện ba nhiệm vụ lớn: (1) thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng; (2) phản ánh trung thành các lợi ích của nhân dân và tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa; và (3) bảo đảm cho hoạt động quản lý của Nhà nước, mà Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội X của Đảng đã nêu. Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị có nhận định tổng quát như sau:

“…nhìn chung, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống”. Vì thế Nghị quyết đã nói rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp và vấn đề tổ chức thực hiện “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Trong rất nhiều các vấn đề pháp lý được Nghị quyết đề cập, tập quán pháp là một trọng đề được nêu ra với các quan điểm có tính nguyên tắc. Có lẽ, việc coi tập quán là một nguồn của pháp luật làm cho pháp luật gần dân hơn và dễ đi vào cuộc sống hơn.

1. Quan điểm về tập quán pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị

Khi nói tới pháp luật về sở hữu và tự do kinh doanh, Nghị quyết đã chỉ rõ: “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”. Qua đây có thể thấy, việc đề cao tự do ý chí trong lĩnh vực luật tư được thể hiện dưới hình thức tôn trọng sự thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, nguyên tắc tự do ý chí cần bị hạn chế để bảo vệ các lợi ích chính đáng của cộng đồng thông qua việc vô hiệu hóa các hợp đồng chống lại trật tự công cộng, đạo đức xã hội và bảo đảm sự bình ổn của các quan hệ xã hội thông qua việc sử dụng tập quán, cũng như thông lệ quốc tế điều tiết quan hệ hợp đồng. Gắn liền với việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế là tiến trình hội nhập quốc tế. Do đó việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế và điều ước quốc tế cũng được Nghị quyết nêu ra1.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: “TRÔNG GIỮ” THÀNH … BÁN

LƯU NGUYỄN

Một miếng đất nhưng mỗi lần xử thì tòa lại giao cho một người khác nhau. Gần 20 năm trước, bà Hoa được cha mẹ để lại cho một miếng đất hơn 2 ha ở tỉnh Tiền Giang. Ít lâu sau bà sang Úc sinh sống nên giao đất lại cho vợ chồng con gái quản lý, sử dụng.

Đất của cha mẹ

Nhưng rồi vợ chồng con gái này cũng theo chân mẹ ra nước ngoài nên đành nhờ ông Thanh ở lại coi sóc với điều kiện chỉ “trông coi quản lý, đóng thuế cho nhà nước, không được qua bộ, đứng tên hay bán cho bất kỳ ai…”.

Ba năm sau, vợ chồng con gái bà Hoa lại lập tờ “hủy bỏ ủy quyền” quản lý đất với ông Thanh với lý do ông này không làm tròn nhiệm vụ quản lý đất (!?).

Chuyện không có gì ầm ĩ khi năm 2005, bà Hoa cùng vợ chồng con gái lập văn bản khước từ tài sản trên rồi ủy quyền em gái của bà Hoa toàn quyền định đoạt. Bà đã đi đăng ký và được cấp chủ quyền. Sau đó, thấy người em bán bớt đất nên bà Hoa và vợ chồng con gái đã khởi kiện đòi lại đất.

Là của người em

Xử sơ thẩm lần đầu, TAND tỉnh Tiền Giang nhận định, bà Hoa và vợ chồng con gái đã khước từ tài sản tại Việt Nam nên tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoa. Hiện nay, em của bà Hoa đã có giấy tờ hợp pháp nên được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng mảnh đất này.

Các đương sự lập tức kháng cáo. Lúc này ông Thanh nhảy ra khiếu nại rằng đất trên con rể bà Hoa đã bán cho mình vào năm 2000 nên ông phải được tham gia tố tụng chứ nếu không sẽ bị thiệt thòi. Vì có sự xuất hiện đột ngột của ông Thanh và một số chứng cứ cần làm rõ nên Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã tuyên hủy án để TAND tỉnh Tiền Giang xét xử lại.

Continue reading

TAI HỌA TỪ LÒNG NGHEN TỴ

NGUYỄN VĂN TRỌNG

Tính ghen tỵ đã được biết đến từ lâu như một thói xấu mang tính phổ quát của con người. Văn chương của nhân loại đưa ra biết bao điển hình sinh động của thói xấu ấy dẫn đến những tội ác làm kinh động lòng người. J.S. Mill nhận xét rằng tính ghen tỵ ở phương Đông là ghê gớm nhất, một người có đứa con kháu khỉnh dễ thương cũng có thể là lý do để thành đối tượng bị hàng xóm ghen ghét.

Tính ghen tỵ tuy có thể có xuất xứ từ bản năng con người, nhưng biểu hiện xã hội của nó có mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa của cộng đồng. Một cộng đồng có nhiều người có tâm thế tích cực với khát vọng được làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác thì cơ may xuất hiện người tài trong cộng đồng ấy là rất cao, tính ghen tỵ trong cộng đồng ấy cũng rất thấp. Ngược lại, một cộng đồng mà đam mê cai trị người khác mạnh hơn nhiều so với ham muốn có độc lập cá nhân để làm những công việc sáng tạo, thì đó chính là một cộng đồng săn tìm địa vị theo cách gọi của J.S. Mill.

Một cá nhân trung bình trong cộng đồng này sẽ ưu tiên lựa chọn cơ hội, dù có xa vời và khó xảy ra đến đâu đi nữa, được chia phần đôi chút về quyền lực để áp đặt lên đồng bào của mình, hơn là lựa chọn sự tự do để được làm công việc mình yêu thích. Ở một cộng đồng như thế chỉ có sự bình đẳng là được quan tâm chứ không phải sự tự do. Trong cộng đồng săn tìm địa vị, tính ghen tỵ thường thể hiện ra ở mức độ cao.

Trong tiến trình lịch sử của mọi dân tộc đều diễn ra sự phân tầng xã hội với kẻ giàu và người nghèo, kẻ nắm quyền uy và người bị cai trị. Xung đột xã hội luôn luôn xảy ra. Các bậc hiền triết của nhân loại thuộc mọi thời đại đều bận tâm tìm kiếm một hình thức chính thể tối ưu để giảm thiểu thấp nhất các xung đột xã hội mà vẫn tạo cơ hội cho người tài xuất hiện đặng thúc đẩy xã hội phát triển.

Nhiều học thuyết khác nhau xuất hiện với các biện giải vô cùng phức tạp. Học thuyết nào càng gây chú ý nhiều thì càng có nhiều cách biện giải khác nhau được đưa ra. Rất khó để nắm bắt được thực chất của các cách biện giải khác nhau ấy và chẳng có mấy người dám nói là nắm được vấn đề này.

Continue reading