CÔNG VĂN SỐ 241/BXD-QLN NGÀY 10 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ BÁO CÁO TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CĂN HỘ NHÀ CHUNG CƯ LÀM CƠ SỞ SẢN XUẤT, KINH DOANH, VĂN PHÒNG

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian vừa qua, các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội đã phản ánh một số vấn đề tồn tại trong quản lý sử dụng nhà chung cư, trong đó có việc sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng dân cư trong nhà chung cư. Để hướng dẫn địa phương thực hiện các quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư, Bộ Xây dựng đã có Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19/11/2009 đề nghị một số địa phương, nơi có nhiều nhà chung cư đã, đang và sẽ được xây dựng khẩn trương rà soát, trên cơ sở đó lập kế hoạch, lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để chấn chỉnh kịp thời các trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng và đặc biệt quan tâm đến công tác phòng chống cháy nổ trong nhà chung cư.

Trong Công văn số 2544/BXD-QLN đã nêu rõ: đối với nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu ở thì cần bố trí và quản lý các văn phòng này như đối với công trình kinh doanh, dịch vụ. Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư thì phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

Để tăng cường công tác quản lý sử dụng nhà chung cư, kịp thời nắm bắt tình hình cũng như những ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng của việc sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng, Bộ Xây dựng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo kiểm tra, thống kê việc sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng tại các nhà chung cư (kể cả nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp trong đó có căn hộ) trên địa bàn, từ đó đề xuất lộ trình, phương án giải quyết phù hợp và báo cáo về Bộ Xây dựng, số 37 phố Lê Đại Hành – Hà Nội trước ngày 30/3/2010 (có Biểu mẫu báo cáo kèm theo).

Điện thoại liên hệ: 04 39746478; Fax: 04 38215208./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CHUYỆN PHONG TỤC TẾT

NGUYỄN VINH PHÚC

Lễ tết là thuộc về phong tục. Trong phong tục của cả nước có phong tục riêng của từng vùng. Mỗi vùng đóng góp những phong tục của mình vào phong tục chung. Hà Nội cũng vậy, từ xưa để hình thành một vùng “Văn hóa kinh kỳ” cũng có tục đón Tết riêng.

Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay đổi các chế độ chính trị cũng ảnh hưởng tới phong tục giã từ cái cũ, tiếp nhận cái mới. Lễ tết cũng vậy, tuy vẫn giữ căn cốt cổ truyền song tết ờ Hà Nội cũng có đổi thay cùng thời gian. Tựu trung vẫn là có hai khâu cơ bản: chuẩn bị và ăn tết.

Có tới vài chục năm đầu thế kỷ XX, giáp Tết ở Hà Nội, nhà nào cũng quét dọn cửa nhà, lau chùi bàn thờ, sắm sanh lễ vật… Về may mặc thì nhà giàu sắm áo gấm, áo đoạn, khăn lượt, khăn nhung… Nhà bình dân thì cũng cố cho được tấm áo dài bằng the, bằng lương, cái khăn lụa, khăn sồi. Nhất là con gái dậy thì, bố mẹ tất mua cho cái khăn vấn tóc bằng nhiễu Tam giang và bộ dây xà tích:

Khen ai nhuộm nhiễu Tam giang
Kéo dây xà tích cho nàng chơi xuân.

Rồi nhà giàu thì lên Hàng Ngang mua vài củ thủy tiên về gọt tỉa, đến Hàng Khoai, Hàng Lược mua hoa cúc, hoa đào, sang Hàng Cân mua bào ngư, long tu. Tới Hàng Bạc để “tắm” lại các đồ trang sức bằng vàng.

Nhà nghèo thì lên Hàng Bồ mua chữ, mua câu đối viết trên giấy, lên Hàng Mã mua vài cành hoa giấy, vào chợ Đồng Xuân mua miến, mua măng và cũng là dịp duy nhất trong năm là lên Hàng Chiếu mua một cặp chiếu đậu có hình chữ Thọ đỏ chót…

Continue reading

QUAN NIỆM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NƯỚC TA

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử, thiết nghĩ chúng ta tìm hiểu sự áp dụng của nguyên tắc này qua hai mô hình tố tụng là mô hình tranh tụng thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và mô hình thẩm xét ở các nước châu Âu lục địa, trong đó điển hình là Pháp.

Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm.89

Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại. Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm.90 Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm.91 Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định.92

Trái lại, các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng nguyên tắc này là: thứ nhất, với quan niệm rằng thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được sự bổ trợ những kinh nghiệm thực tế cuộc sống của hội thẩm hay phụ thẩm khi xét xử nhưng dầu sao vẫn là những con người bình thường, tức là cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa áp cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm).93 Toà án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan.94 Thứ hai, nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán sơ thẩm. Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn. Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm.95

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ NHẬN THỨC LUẬN CHUYỂN ĐỔI

TS. VƯƠNG QUÂN HOÀNG – Đại học Tổng hợp Brussels (Bỉ)

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa thập niên thứ hai, thế kỷ XXI. Tuy vậy, mốc thời gian không quan trọng bằng những đổi thay chóng mặt của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, và những biến đổi sâu sắc nó sẽ mang lại. Quá trình ấy, ngay bây giờ, lại được phóng đại qua lăng kính của những biến động toàn cầu do khủng hoảng kinh tế – tài chính 2007 – 2009, điều có thể dẫn tới những biến đổi lớn về cấu trúc kinh tế nhân loại, cũng như diễn tiến địa – chính trị khắp nơi trên thế giới.

1 – Kinh tế Việt Nam năm 2009

Dân số nước ta hiện nay xấp xỉ 85,9 triệu người, hiển nhiên là một quốc gia có dân số lớn của hành tinh khoảng 7 tỉ. Nếu như phần đông kinh tế gia quen với khái niệm bản chất của lạm phát là do quá nhiều tiền cạnh tranh nhau để giành về một số lượng quá ít hàng hóa, thì ở một nghĩa khác, nói như Min-tơn Frai-men (Milton Friedman), đó cũng có thể là quá nhiều người tìm kiếm một số lượng hàng hóa rất hữu hạn. Như vậy, dân số lớn, bên cạnh ưu điểm nguồn lao động dồi dào, chính là một câu hỏi lớn về khả năng cải thiện kinh tế.

Trong suốt hơn hai thập niên đổi mới, kinh tế Việt Nam liên tục duy trì đà tăng trưởng tương đối. Chất lượng mở rộng kinh tế thể hiện qua thống kê GDP bình quân đầu người từ mức 200 USD/người (năm 1986) đã tăng lên gấp 5 lần, đạt 1.000 USD/người vào năm 2008, và ước tính sẽ vượt 1.200 USD/người sau năm 2010. Sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam cũng thể hiện ở quy mô vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên. Dù chịu ảnh hưởng từ các biến động kinh tế quốc tế, trở ngại của môi trường kinh doanh trong nước, sự gia tăng cạnh tranh thu hút nguồn lực từ các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới, liên tục trong hai thập niên, tỷ lệ FDI so với GDP chỉ hai lần thấp hơn tăng trưởng GDP thực tế, vào các năm 1991 – 1993 và 2003 – 2007. Lượng vốn FDI năm 2009 vẫn có được tín hiệu tốt, một cách so sánh so với bối cảnh khu vực, với mức cam kết mới 20 tỉ USD, và phần giải ngân lượng cam kết quá khứ để cấu thành nguồn lực thực tế 8 tỉ USD.

Continue reading