BÁNH CHƯNG, DƯA HÀNH . . . VÀ NHỮNG ĐỔI THAY CỦA TẾT

TRÍ TUỆ

Tết, dù thời nay được định nghĩa bằng những món Tây, bằng những món quà biếu xa xỉ chở nặng… toan tính thì trong tâm niệm của hết thảy người Việt, Tết muôn đời vẫn là xum vầy, là tụ họp và vui vẻ.

Năm hết, tết đến. Tiệc tùng mở ra. Trong quan niệm của người Việt xưa thì cả hai năm dành dụm chỉ dành cho một ngày tết. Có chút đường cũng góp lại, có chút mắm cũng để dành. Chút đậu xanh ki cóp được cả năm cũng chỉ để dành cho dịp này để gói bánh chưng. Ở quê thì mổ lợn chung, mấy nhà chung nhau một con. Cũng khoảng từ thời điểm này mọi người bắt đầu để dành bí, hồng để làm mứt. Với những cậu học trò lười thì điểm chác cũng vừa xong, họ bắt đầu quan tâm tới con dấu in trên trang vở cũ, những quả pháo Bình Đà. Nhiều cậu ham chơi, nghịch ngợm còn tự cuốn pháo, những quả pháo cối nguy hiểm giờ trẻ em không còn thấy, nhưng dù gì nó cũng là một phần của Tết xưa. Tết ngày đó, nghèo nhưng vui, ai cũng nghèo, tranh đua gì?

Rồi mọi thứ bắt đầu thay đổi từ năm 1986, nước nhà chính thức mở cửa, những tập đoàn lớn bắt đầu rót tiền vào Việt Nam. Người Nhật tới Việt Nam đầu tiên khi người Nga vừa về nước. Văn hóa Tây Âu và Bắc Mỹ ngày một thổi mạnh. Mọi ý niệm về tết, quà tết của mọi người cũng bắt đầu thay đổi.

Bây giờ, Tết bỗng nhạt hơn. Bởi người ta, kể cả trẻ con bỗng nhiên dồn cái nô nức ấy cho Noel – tết của người Công giáo rồi. Trẻ con háo hức chờ ông gia Noel cưỡi xe máy đến nhà tặng quà. Các quán bar, nhà hàng, công viên ngày này lũ lượt khách Tây, khách ta ăn uống vui chơi. Đường phố tắc nghẽn, còi xe inh ỏi, không khí rộn ràng bởi ai cũng muốn ra đường ngắm phố, ngắm người. Hai bên phố, các cửa hiệu nhộn nhịp kim tuyến, đèn xanh đèn đỏ nhấp nháy trên cây thông Noel. Chẳng thiếu người chạnh lòng: Dân mình giờ Tây quá. Nhưng mà ngày vui, ngày Tết, dù chẳng phải Tết truyền thống, thì cớ gì mà buồn, chi bằng cứ vui chung cái vui của mọi người. Có thêm một cái Tết, cuộc đời này thêm một niềm vui.

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN – VÀI Ý KIẾN TỪ GÓC NHÌN PHÁP LUẬT DÂN SỰ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

(Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 chưa được ban hành)

Tư tưởng chủ đạo mà dựa vào đó, người Anh xây dựng chế định thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đầu tiên của loài người, vào giữa thế kỷ 19, là “có thu nhập thì phải chịu thuế”(1). Thu nhập được hiểu là khoản lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ gia nhập một cách hợp pháp vào khối tài sản của một người, làm tăng thêm giá trị của khối tài sản đó. Chịu thuế có nghĩa là người có thu nhập phải khai báo đầy đủ các khoản thu nhập của mình để, dựa vào lời khai đó, nhà nước quyết định đánh thuế hay không và, nếu đánh thuế, thì mức thuế là bao nhiêu.

Như vậy, không nhất thiết cứ có thu nhập thì phải đóng thuế. Các nguyên tắc công bằng xã hội, chính sách dân số, gia đình, chính sách kinh tế, nói chung, rất nhiều tham số  được nhà nước dùng làm cơ sở để xây dựng các tiêu chí nhằm xác định, trong số những người chịu thuế, các hạng người phải nộp thuế và hệ thống thang bậc thuế suất cho từng hạng người hoặc từng nhóm trường hợp cần đánh thuế. Thuế TNCN trở thành một biện pháp tái lập sự cân bằng về phân phối của cải xã hội bị mất do sự can thiệp của nhiều yếu tố vào quá trình tạo thu nhập của con người: tài năng, sự may mắn, môi trường sống, quan hệ xã hội thuận lợi,…     

Dự án Luật Thuế TNCN, đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, cũng dựa vào tư tưởng chủ đạo truyền thống và phương pháp xây dựng tiêu chí xác định người chịu thuế, người nộp thuế và mức thuế phải nộp được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, các giải pháp cụ thể có vẻ chưa phải là kết quả của một quá trình cân nhắc có cơ sở khoa học, nhất là cơ sở đạo lý.

Trong các vấn đề thu hút sự chú ý đặc biệt của người dân có các quy định liên quan đến suất giảm trừ gia cảnh và cách xác định thu nhập tính thuế.

Continue reading

CHỦ NGHĨA BẢO HỘ VÀ CHÍNH TRỊ

BRUCE STOKES – Chuyên mục Kinh tế quốc tế của tờ National Journal

Chủ nghĩa bảo hộ đã có một lịch sử tồn tại khá dài. Trước những áp lực chính trị, các chính phủ ở các quốc gia phát triển và đang phát triển đã phải bảo hộ ngành dệt may, sản xuất ô tô, nông nghiệp và các nhà sản xuất khác trước làn sóng nhập khẩu. Ở nhiều nơi, người nông dân mặc dù chỉ chiếm số ít nhưng lại được nhận trợ cấp bảo hộ, bởi lẽ họ nắm trong tay sức mạnh của những lá phiếu bầu cử. Do bảo hộ mang tính chính trị nên các giải pháp cũng phải mang tính chính trị.

Chủ nghĩa bảo hộ – những biện pháp của chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài – có nguồn gốc sâu xa trong chính trị của các quốc gia trên thế giới. Chủ nghĩa bảo hộ vừa là sản phẩm của những nhóm lợi ích đặc biệt vừa phản ánh mối lo ngại chung của xã hội trước những thay đổi. Tuy vậy, chủ nghĩa bảo hộ cũng đi liền với cái giá phải trả rất lớn về kinh tế.

Việc chống lại tự do hóa thương mại cũng như căn nguyên chính trị của nó hầu như không phải là chuyện mới. Trong nửa đầu thế kỷ 19, nước Anh đã áp đặt thuế quan nhập khẩu để bảo hộ cho người nông dân và điền chủ nước Anh trước sự cạnh tranh của hàng ngũ cốc nhập khẩu rất rẻ từ nước ngoài. Song, mức thuế quan nhập khẩu đó đã làm tăng giá thực phẩm ở các thành phố của nước Anh, buộc tư bản công nghiệp miễn cưỡng phải trả lương cao hơn để công nhân có đủ tiền mua lương thực. Năm 1846, sau một cuộc đấu tranh lâu dài tại Quốc hội, Đạo luật Bảo hộ sản xuất ngô (Corn Laws) đã bị bãi bỏ, nhờ đó đã cởi trói và mở đường cho sự vươn lên về chính trị của tầng lớp trung lưu mới ở nước Anh. 

Các cuộc đấu tranh tương tự như vậy về thuế quan cũng trở thành vấn đề nổi cộm trong nền chính trị Hoa Kỳ trong một thời gian dài ở thế kỷ XIX. Vào đêm trước của cuộc Nội chiến ở Hoa Kỳ (1861-1865), các tiểu bang công nghiệp ở miền Bắc đã chủ trương dựng lên hàng rào thuế quan thật cao để bảo vệ ngành công nghiệp chế tạo của họ trước sự cạnh tranh từ châu Âu. Các tiểu bang miền Nam thì chủ trương áp dụng thuế quan thấp vì họ nhập khẩu rất nhiều hàng hóa tiêu dùng, từ vải lanh tới máy móc nông nghiệp. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của vấn đề này như thế nào qua sự kiện sau: khi Jefferson Davis, chủ tịch của phe chủ trương ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đọc diễn văn nhậm chức vào năm 1861, ông đã dành phần lớn thời gian trong bài phát biểu của mình để nói về việc cần áp dụng mức thuế quan nhập khẩu thấp, chứ không nói về chế độ nô lệ.

Continue reading

THÔNG BÁO SỐ 17/TB-TKTH NGÀY 03 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO về kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Tòa án nhân dân

Trong hai ngày 25 và 26/01/2010, tại Hà Nội, Toà án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2010. Thừa lệnh Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Vụ thống kê – Tổng hợp xin thông báo toàn văn kết luận của Chánh án tại Hội nghị.

Kính thưa các vị khách quý,

Thưa các đồng chí đại biểu,

Sau hai ngày làm việc nghiêm túc với tinh thần dân chủ và trách nhiệm cao, Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2010 của ngành Toà án nhân dân đã thành công tốt đẹp.

Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Toà án nhân dân; báo cáo tham luận của một số đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân địa phương. Đặc biệt, Hội nghị đã vinh dự được đón tiếp và nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công tác của ngành Toà án nhân dân. Qua kết quả tổng hợp ý kiến thảo luận tại các tổ và tại hội trường cho thấy, về cơ bản các Đại biểu đều nhất trí cao với những đánh giá về tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2009; thống nhất phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Toà án nhân dân được nêu trong Báo cáo tổng kết trình Hội nghị. Bên cạnh đó, các Đại biểu cũng đóng góp nhiều ý kiến rất xác đáng, thiết thực góp phần làm rõ hơn ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và khó khăn, vướng mắc trong công tác của ngành Toà án nhân dân; đề xuất nhiều giải pháp thiết thực và đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác.

Continue reading

THÔNG BÁO SỐ 17/TB-TKTH NGÀY 03 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ KẾT LUẬN CỦA CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2009 VÀ TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2010 CỦA NGÀNH TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Trong hai ngày 25 và 26/01/2010, tại Hà Nội, Toà án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2010. Thừa lệnh Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Vụ thống kê – Tổng hợp xin thông báo toàn văn kết luận của Chánh án tại Hội nghị.

Kính thưa các vị khách quý,

Thưa các đồng chí đại biểu,

Sau hai ngày làm việc nghiêm túc với tinh thần dân chủ và trách nhiệm cao, Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2010 của ngành Toà án nhân dân đã thành công tốt đẹp.

Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Toà án nhân dân; báo cáo tham luận của một số đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân địa phương. Đặc biệt, Hội nghị đã vinh dự được đón tiếp và nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công tác của ngành Toà án nhân dân. Qua kết quả tổng hợp ý kiến thảo luận tại các tổ và tại hội trường cho thấy, về cơ bản các Đại biểu đều nhất trí cao với những đánh giá về tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2009; thống nhất phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Toà án nhân dân được nêu trong Báo cáo tổng kết trình Hội nghị. Bên cạnh đó, các Đại biểu cũng đóng góp nhiều ý kiến rất xác đáng, thiết thực góp phần làm rõ hơn ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và khó khăn, vướng mắc trong công tác của ngành Toà án nhân dân; đề xuất nhiều giải pháp thiết thực và đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ LAO ĐỘNG: NÊN ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT THEO HƯỚNG CHO PHÉP

TS. PHAN HUY HỒNG & THS. NGÔ THỊ THU – Đại học Luật TPHCM

Các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin về sự xuất hiện hoạt động cho thuê lao động từ khoảng cuối năm 2001. Theo đó, một số doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động, cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở hợp đồng cung ứng lao động thời vụ hoặc tương tự[1]. Hoạt động này gây rất nhiều phản ứng khác nhau từ phía doanh nghiệp, từ các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, dù thế nào thì nó vẫn diễn ra trên thực tế và đòi hỏi cần có một phân tích tỉnh táo các khía cạnh kinh tế, pháp lý của hoạt động cho thuê lao động, làm cơ sở cho một chính sách pháp luật phù hợp với nhu cầu của hoạt động kinh tế, đồng thời đảm bảo lợi ích của các chủ thể tham gia, đặc biệt là của người lao động.

1. Nhận diện hoạt động cho thuê lao động

Có nhiều chủ thể khác nhau tham gia vào các hoạt động đa dạng làm cầu nối giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), như: các hoạt động giới thiệu việc làm do các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức như hội chợ việc làm hay sàn giao dịch việc làm[2]. Ngoài ra còn có hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm là các đơn vị sự nghiệp có thu ở các địa phương[3]. Hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm được coi thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, mặc dù là hoạt động có thu, nhưng như vậy là phi lợi nhuận.

Nhưng thị trường lao động trở nên thực sự sôi động khi bắt đầu có sự tham gia của các doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm. Cơ sở pháp lý cho phép doanh nghiệp được tham gia vào hoạt động giới thiệu việc làm là Nghị định số 39/2003/NĐ-CP. Tuy nhiên, các điều kiện hoạt động giới thiệu việc làm của doanh nghiệp lại được điều chỉnh bằng Nghị định số 19/2005/NĐ-CP. Theo Điều 12, 13 Nghị định 19/2005/NĐ-CP, doanh nghiệp được cấp phép hoạt động giới thiệu việc làm trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp giấy phép và chứng minh được việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện về trụ sở, trang thiết bị, ký quỹ và nhân lực. Mặc dù là tổ chức kinh tế, hoạt động vì mục đích sinh lợi, nhưng phạm vi hoạt động giới thiệu việc làm của doanh nghiệp được cấp phép hoạt động giới thiệu việc làm giống như của Trung tâm giới thiệu việc làm (so sánh Điều 17 với Điều 7 Nghị định số 19/2005/NĐ-CP), bao gồm: tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách có liên quan đến quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động; giới thiệu việc làm cho NLĐ, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của NSDLĐ; thu thập, phân tích và cung ứng thông tin về thị trường lao động; được dạy nghề theo quy định của pháp luật.

Continue reading

VIẾT TIẾP BÀI “QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO VỀ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ”

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Sau khi http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com đăng bài “Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý” (sau đây gọi tắt là bài nghiên cứu trước), đã có một số sinh viên, học viên cao học và những người khác có quan tâm gặp trực tiếp hoặc gọi điện hỏi tác giả về quản lý nhãn hiệu dịch vụ của các trường đại học ở Việt Nam. Nhận thấy đây là một vấn đề mới, chưa hề có các nghiên cứu đi trước và cũng là để cho các bạn học viên cao học, sinh viên có tình huống thực tiễn thảo luận trong quá trình học tập và nghiên cứu sở hữu trí tuệ, tác giả viết tiếp bài nghiên cứu nói trên nhằm cung cấp thêm một số thông tin có liên quan.

Cũng cần lưu ý rằng hiện nay có một số website đã đăng không đầy đủ bài nghiên nói trên mà chưa được sự đồng ý của tác giả, nên tác giả cũng không có điều kiện để kiểm tra lại trước khi các website này đăng tải, dẫn đến việc các độc giả có thể không tiếp nhận đầy đủ về thông tin, nhằm khắc phục yếu tố này, tác giả chọn http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com để đăng tải toàn bộ thông tin về vấn đề nghiên cứu.

Trong bài nghiên cứu trước, có chi tiết được quan tâm, đó là Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn, chủ sở hữu nhãn hiệu ĐẠI HỌC SÀI GÒN, số bằng 78863, ngày cấp 25.01.2007. Trong chi tiết này đã xuất hiện hai chủ thể:

Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn (tiền thân là Trường Đại học Dân lập Kỹ nghệ Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập tháng 04.2004 theo Quyết định số 57/2004/QĐ-TTg), sau đó trường đổi tên thành Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn vào tháng 03.2005 theo Quyết định số 52/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

Continue reading

DỰ THẢO (2) THÔNG TƯ LIÊN TỊCH HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về xác định tài sản của vợ, chồng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn như­ sau:

1. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

1.1. Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987

a) Theo quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Do đó, trong trường hợp vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987, trước và sau khi kết hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đương nhiên trở thành tài sản chung của vợ, chồng. Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trư­ớc hoặc sau khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

b) Trong trư­ờng hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của vợ, chồng để giải quyết. Tòa án lưu ý việc thỏa thuận đó phải là tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa…; tài sản thuộc trường hợp pháp luật quy định phải có đăng ký, chứng thực thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tòa án áp dụng quy định về trách nhiệm chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” để đánh giá và xác định tài sản của vợ, chồng.

Continue reading