GIỮA KHÍ XUÂN LUẬN THƯƠNG TRƯỜNG

NGUYỄN HOÀI BẮC (Từ Canada)

Nhiều người bạn hỏi tôi: Giữa thương trường hiện nay anh luận bàn thế nào? Tôi là doanh nhân trải qua mấy thời kỳ: Bao cấp kinh tế thị trường thuần túy khi sang định cư tại Canada và quay trở lại Việt Nam trong thời mở cửa khuyến khích đầu tư; rồi lao vào vòng xoáy của kinh tế thị trường thời kỳ của hậu WTO.

Suy ngẫm về thương trường trong thời mở cửa, có thể nhận thấy rằng trên thương trường ngày nay lấy thành bại luận anh hùng không lấy hào quang của quá khứ mà lấy hiệu quả của hiện tại làm thước đo giá trị của doanh nghiệp (DN).

Đầu xuân năm 2006, cả nước phấn khích sau hơn 11 năm vất vả thương thảo, đấu tranh được tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Rất nhiều người tin rằng “chúng ta sắp giàu”, công việc làm ăn sẽ thuận lợi, tốt hơn, nhưng cũng không ít người cảnh báo rằng, WTO không phải là chiếc bánh cho không và cái giá lại trả có thể sẽ nhiều hơn cái chúng ta thu được trong giai đoạn đầu hội nhập.

Hai năm gia nhập WTO cũng là vừa đủ để chúng ta nhìn nhận lại mình khi nền kinh tế toàn cầu khủng hoảng trầm trọng. Thế trận của thương trường tại VN là phải chống trả quyết liệt muôn vàn nước đi và thế đánh hung hiểm nghiệt ngã của thị trường thế giới liên thông không biên giới. Niềm vui chưa đến nhiều thì cơn thác đổ khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu sập xuống. Cả thế giới gồng mình gánh chịu và người ta tung ra nhiều chiêu độc để chống lại cơn bão tài chính đang lan rộng khắp thế giới. Mặt trái của kinh tế thế giới lộ nguyên hình. Nhiều đại gia công nghiệp, nhiều nhà tài phiệt lâu nay dùng uy quyền của tiền bạc để thao túng kinh tế nhiều nước trên thế giới đã vào trại giam hoặc trở về cát bụi.

Continue reading

CẤU TRÚC KỸ THUẬT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT SỞ HỮU BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM: GÓC NHÌN PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Tổng quan

Trước khi tiếp xúc với luật phương Tây, Việt Nam cũng có một tập hợp các quy tắc pháp lý chi phối quan hệ giữa người và người trong đời sống dân sự. Thế nhưng tập hợp đó còn xa mới đạt đến trình độ của một hệ thống pháp luật dân sự theo đúng nghĩa khoa học của từ ngữ. Riêng trong lĩnh vực tài sản, pháp luật Việt Nam chỉ thực sự phát triển kể từ khi các luật gia Pháp tìm cách đưa vào Việt Nam những thành tựu của văn hoá pháp lý La Mã – Đức (romano-germanique) trong khuôn khổ xây dựng hệ thống pháp luật thuộc địa. Có thể nói rằng, với sự ra đời của các Bộ dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ, theo khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Napoléon, pháp luật tài sản Việt Nam đã được hoàn thiện một bước đáng kể, trên cơ sở quan niệm La Mã về sở hữu.

Nói riêng về pháp luật bất động sản, việc ban hành Sắc lệnh điền thổ ngày 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ đã đặt cơ sở cho một chế độ quản lý quyền sở hữu tư nhân về đất theo kiểu Đức khá hoàn chỉnh. Quy tắc đặc trưng của chế độ đó, ghi nhận tại Điều 362 của Sắc lệnh, thiết lập bằng khoán điền thổ (titre foncier) là bằng chứng tuyệt đối và duy nhất về quyền sở hữu đất đai, đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển tâm lý pháp luật của người Việt Nam thời Pháp thuộc và cả hiện nay[1].

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, hệ thống pháp luật thuộc địa được thay thế bằng hệ thống pháp luật XHCN, nhưng các dấu vết của luật cũ vẫn được bảo tồn trong tục lệ. Khi xây dựng pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, người làm luật đã lấy lại rất nhiều giải pháp tích cực của tục lệ bên cạnh việc tham khảo và tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong các nền pháp luật thuộc hệ thống La Mã – Đức. Bằng cách đó, luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ mới tiếp tục chịu ảnh hưởng của luật dân sự Pháp. Đặc biệt, pháp luật Việt Nam hiện hành chấp nhận quan niệm về sở hữu trong luật của Pháp[2] và sử dụng những khái niệm trong luật sở hữu của Pháp phát triển để phát triển các chế định cơ bản của pháp luật tài sản Việt Nam.

Vấn đề là, pháp luật về sở hữu bất động sản trong luật Việt Nam, như là một phần của pháp luật dân sự, không thể được xây dựng dựa trên quyền sở hữu đất đai theo kiểu Pháp. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý; cá nhân, pháp nhân và nói chung các chủ thể của quan hệ pháp luật mà không phải là nhà nước chỉ thực hiện trên đất một quyền mà về phương diện kỹ thuật, có thể so sánh với quyền của người sử dụng đất trong quan hệ với chủ đất trong luật cổ của Pháp[3]. Với quyền này, người có quyền – cũng được gọi là người sử dụng đất – có thể thu được từ đất những lợi ích vật chất nhất định có giá trị tiền tệ. Bởi vậy, chính quyền sử dụng đất, chứ không phải đất, là tài sản thuộc sở hữu tư nhân trong luật Việt Nam hiện hành.

Continue reading

MẤY Ý KIẾN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

TS. VŨ ĐỨC KHIỂN – Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá XI

Quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là một trong những nội dung cơ bản của Hiến pháp nước ta. Trong tất cả các bản Hiến pháp của nhà nước ta, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 đều dành nhiều chương, điều quy định về bộ máy nhà nước (Hiến pháp năm 1946 có 4 trong tổng số 7 chương (4/7 chương), 48 trong tổng số 72 điều (48/72 điều); Hiến pháp năm 1959 có 5/10 chương, 66/112 điều; Hiến pháp năm 1980 có 5/12 chương, 60 /147 điều; Hiến pháp năm 1992 sau khi đã được sửa đổi, bổ sung một số điều có 5/12 chương, 58/147 điều). Bởi vậy khi bàn về hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước chúng ta không thể không xem xét những quy định trong Hiến pháp về vấn đề này.

Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động lập pháp của Quốc hội các khóa IX, X và XI, các nghị quyết của Đảng được thông qua trong thời gian gần đây (Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng khóa IX đều thấy có nhiều vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước được đặt ra nhưng chưa giải quyết do “đụng trần” Hiến pháp đã quy định. Đó là tổ chức chính quyền địa phương; tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát và mới đây nhất là tổ chức Quốc hội, tổ chức Chính phủ. Công cuộc cải cách hành chính với mục đích “ nâng cao hiệu lực quản lý, tăng cường pháp quyền… xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương đến cơ sở “ và “đổi mới và tăng cường hệ thống hành pháp cả về tổ chức cán bộ, cơ chế hoạt động. Phát huy vai trò điều hành của bộ máy hành pháp” đã được đặt ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991).

Continue reading