CÁC VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

TS. PHAN HỮU THƯ

Trong 360 năm dài tồn tại, triều đại nhà Lê đã để lại cho hậu thế những thành tựu to lớn trên lĩnh vực pháp luật và điển chế. Trong số các thành tựu đó phải kể đến Quốc triều Hình luật, một Bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của Triều Lê. Quốc triều Hình luật cũng chính là Bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ được  đầy đủ cho đến ngày nay.

Theo như tên gọi, Quốc triều Hình luật chính là Luật hình Triều Lê, nghĩa là chỉ bao gồm những quy định liên quan đến  luật hình sự  đương  thời. Tuy nhiên, do ra đời  từ  năm 1470 đến  1497 hoặc sớm hơn cho nên người  làm luật thời đó chưa phân biệt rạch ròi các ngành luật như bây giờ.

Quốc triều  Hình luật  bao gồm sáu quyển,  mỗi quyển  có hai chương,  riêng quyển  ba có ba chương.  Trong đó hai chương  Hộ hôn và Điền sản nằm trong quyển sáu là những chương  quy định về dân sự nhiều nhất, mặc dù rải rác trong một số chương  đều đề cập một vài vấn đề dân sự hoặc hôn nhân gia đình.

Theo Vũ Văn Mẫu thì trong Bộ luật của nhà Lê có rất nhiều điều tân kỳ mà cả các Bộ luật đời nhà Đường  cũng như các Bộ luật Trung Hoa không đề  cập. Những điều tân kỳ nằm rải rác ở khắp các chương nhưng chủ yếu tập trung ở hai chương  Hộ hôn và Điền sản, bởi vì, theo quan niệm cổ điển, các điều thuộc về dân luật thường không được  các nhà làm luật Đông phương quy định. Vì vậy, trong luật Trung Hoa, không có các quy định rõ ràng về cách thức thảo các văn tự, chứng thư, chúc thư, không định rõ về chế độ tài sản của vợ chồng trong lúc sinh thời cũng như trong lúc góa bụa, không ấn định minh bạch các việc về  thừa kế. Trong khi đó, các vấn đề  này đã được  lần lượt trình bày trong Quốc triều Hình luật. Điều 366 quy định về cách thức làm chúc thư hay các chứng thư  khác, Điều 374, 375, 376 quy định về  chế  độ  tài sản riêng của vợ  chồng; trong các điều khác (từ Điều 288-400) đã quy định các vấn đề về thừa kế và hương hỏa.

Continue reading

MÂM NGŨ QUẢ VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI VIỆT

ANH TUẤN

Tết Việt, nhà nào cũng có mâm ngũ quả bày trên bàn thờ cho dù nhà nghèo hoặc ngày tết có thiếu vài thứ nhưng mâm ngũ quả biểu trưng cho năm lời chúc là: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh vẫn là món cúng không thể thiếu. Mâm ngũ quả của người Việt biểu thị lòng tôn kính, biết ơn tổ tiên của các thế hệ cháu con, “ăn quả nhớ người trồng cây”, tượng trưng cho sự “Viên tròn Quả phúc” là khát vọng của gia đình trong năm mới.

Theo từ Hán Việt thì chữ Phúc trong ngũ quả chính là ước mong gia đình xum họp đông vui, hạnh phúc. Chữ Lộc cầu cho cả nhà được hưởng sự no đủ trong cuộc sống quanh năm. Chữ Thọ mang lời ước được sống trọn đời khỏe mạnh, sống trăm tuổi. Chữ Khang có nghĩa là an khang, an nhàn, tự tại, luôn minh mẫn, hoạt bát trong suốt cả năm. Chữ Ninh là lời ước gia đình ấm êm, tai qua nạn khỏi của cả gia đình và nhà cửa…

Mâm ngũ quả còn là sự tượng trưng cho luật cân bằng âm dương của vũ trụ và của cuộc sống con người. Người xưa quan niệm màu xanh của hoa quả mang tính âm (nải chuối xanh, đu đủ xanh…), trái chín có tính dương (trái thơm, quả hồng, quả cam…).

Mâm ngũ quả cũng tượng trưng cho thuật ngũ hành, cấu tạo nên vật chất của Trời Đất và con người (Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).

Mâm ngũ quả còn tượng trưng cho hương vị của cuộc sống mà con người phải trải qua: Ngọt, bùi, chua, cay, đắng (ngũ vị, ngũ quả).

Continue reading