GIỮ TẾT CỔ TRUYỀN – TẾT XƯA, TẾT NAY . . .

GS. LÊ VĂN LAN

Ngày xuân con én đưa thoi. Chỉ có 6 chữ thơ Xuân thôi mà thấy đủ sự vần vũ chuyển động của đất trời và lòng người. Có sự nhịp nhàng vui vẻ của con thoi và tiếng thoi. Cả những thoăn thoắt sinh động của cánh én trên lồng lộng mây trời…

Tết xuân là như thế. Không hề và không thể “nhất thành bất biến”. Nhưng nếu biến động chuệnh choạng hoặc thậm chí đứt gẫy thì “còn gì là xuân”?

Trong trường hợp lo toan này, phải chăng cần đến nhưng giá trị chuẩn mực mà nghìn lần Tết xuân qua, dân tộc ta đã tinh kết được?

Đến hẹn lại lên

Mấy chục năm trước, giữa những nối kéo một thời gian khó chiến tranh và đương thời là những hạn hẹp của bao cấp, xuất hiện ở Hà Nội kiến nghị, gửi đăng hẳn hoi trên báo chí chính thống – rằng nên bỏ Tết, cho đỡ phải . . . lo Tết.

Xôn xao cả lên, việc tán thành và phản đối. Có cả một luồng cực đoan và phê phán, đến mức một sáng thức dậy, chủ nhân căn nhà đề xuất việc bỏ Tết thức dậy, thấy ngay một hàng chữ cảnh báo trên cánh cửa nhà mình: "Năm nay nhà này mà ăn Tết, tao giết." Gia chủ đã phải báo công an cử người đến bảo vệ.

Một điều gì đó, ở đây, cũng giông giống việc xưa ở Văn Trưng (tên Nôm là Dưng), Vinh Phúc – nơi có cả một Tết xuân mồng Sáu tháng Giêng (với trò “quàng vai bắt trạch”) mà đến như các bậc già cả cũng phải nguyền: "Bỏ con bỏ cháu, không bỏ mùng Sáu hội Dưng Ngày Tết, vậy là không bỏ được, thế thì cứ đến hẹn lại lên, vào lúc năm hết Tết đến là ta chơi Tết, vui Tết và . . . lo Tết. Có vẻ như cái sự "tự nhiên nhi nhiên" thế này là việc "trôi theo dòng lịch sử" với ít phần tự thức nhưng lại nhiều phần tự phát để thực hiện – làm nên và hưởng thụ – Tết của chúng ta, mà trong đó và ở đây về mặt hiểu biết về quan niệm thì ít nhất cũng mặc nhiên hàm chứa hai vấn đề rất có liên quan: Ta đang coi Tết là một cái gì nhất thành bất biến, do đó dẫn đến chúng ta đang làm biến đổi Tết mà không hay biết (hoặc ít để ý đến).

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 23/BC-BTP NGÀY 05 THÁNG 2 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG KẾT CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2009 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2010

Năm 2009, trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thiên tai dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề, cùng với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị; sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng; sự chỉ đạo, giám sát có hiệu quả của Quốc hội, Chính phủ đã bám sát diễn biến, đánh giá đúng tình hình, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ, chuyển hướng kịp thời, quyết sách nhanh nhạy, chỉ đạo, điều hành tập trung, quyết liệt, liên tục, cụ thể, ứng biến và sáng tạo; đã thực hiện thành công mục tiêu tổng quát là ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý (GDP đạt 5,32%), ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội tốt hơn; chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; thế và lực của đất nước tiếp tục được tăng cường, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Trong những thành tựu chung của đất nước có sự đóng góp quan trọng của Ngành Tư pháp.

Ngay từ những ngày đầu năm 2009, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009 của đất nước, Nghị quyết của Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009, Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2009, Bộ đã ban hành Chương trình công tác trọng tâm của Ngành năm 2009 và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, tạo nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực công tác. Nhờ đó, vị trí, vai trò của công tác tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước tiếp tục được khẳng định; vị thế của Ngành từ Trung ương đến địa phương ngày càng được củng cố, tăng cường.

Các lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ được triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng thực hiện các nội dung theo Chương trình công tác trọng tâm năm 2009 như: triển khai thực hiện tốt Luật Ban hành VBQPPL; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai công tác theo dõi chung về thi hành pháp luật; tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện tốt Luật Thi hành án dân sự (THADS), Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật THADS, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong công tác THADS; nâng cao chất lượng hoạt động chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp; tăng cường năng lực của các cơ quan bổ trợ tư pháp, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp; tiếp tục lộ trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính; kiện toàn tổ chức, cán bộ của Ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh; tạo chuyển biến thực sự về chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật, nhất là đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp; thành lập Trường Trung cấp luật; tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo điều hành; đẩy mạnh việc phân cấp trong một số lĩnh vực hoạt động, hướng mạnh về cơ sở.

Continue reading

BẤT TRẮC TỪ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG

LS. ĐINH QUANG THUẬN – Công ty Luật TNHH P&P

Bài này đề cập một số bất trắc có thể xảy ra liên quan đến các hợp đồng gia công quần áo cho nước ngoài mà các đơn vị gia công trong nước có thể rút kinh nghiệm. Các hợp đồng gia công đầu tiên thường có nội dung đơn giản, trong đó bên giao gia công nước ngoài (bên giao gia công) đưa vật tư đến Việt Nam giao cho bên nhận gia công. Sau đó, bên nhận gia công sẽ gia công ra thành phẩm và giao lại cho bên giao gia công và nhận tiền.

Nghĩa vụ của bên nhận gia công chỉ gồm nhận vật tư tại cảng, kiểm tra, sản xuất theo mẫu và giao lại thành phẩm, hầu hết là theo phương thức FOB hoặc giao tại xưởng. Bên giao gia công sẽ tự thu xếp đưa thành phẩm đến giao cho các nhà nhập khẩu và phân phối tại các thị trường tiêu thụ (bên mua). Thực hiện những hợp đồng loại này, công việc của bên nhận gia công khá đơn giản, tuy phí gia công thấp nhưng tương đối an toàn.

Dần dần, cùng với nhu cầu đưa sản phẩm gia công đến thị trường tiêu thụ sớm nhất, giảm chi phí và nhân lực, sau này bên giao gia công thường yêu cầu bên nhận gia công sau khi hoàn tất công việc thay vì giao lại thành phẩm cho bên giao gia công thì chuyển thẳng đến thị trường tiêu thụ cho bên mua.

Công việc này thoạt nghe không có gì khó khăn. Tuy nhiên, trong thực tế nó khiến cho bên nhận gia công phải chịu thêm nhiều rủi ro như những trường hợp đã xảy ra trong thực tế sau đây.

1. Bên nhận gia công được bên giao gia công yêu cầu vận chuyển thành phẩm gia công bằng đường biển để giao cho bên mua tại thị trường Mỹ. Bên giao gia công đứng ra liên hệ với người vận chuyển (hãng tàu), cung cấp thông tin, thanh toán cước vận chuyển. Bên nhận gia công, theo sự sắp xếp của bên giao gia công, chỉ đứng tên là người gửi hàng trong vận đơn hàng hải.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ – XÃ HỘI TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT

PGS. TS. GORSHUNOV D.N – Khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Kazan, Liên bang Nga

Quy phạm pháp luật không có hiệu lực một cách tự động theo kiểu “mệnh lệnh – hiệu lực”. Để khơi gợi được sự hưởng ứng theo các yêu cầu đặt ra, trước tiên các quy phạm pháp luật phải đi vào nhận thức, tâm lý của con người và “dấu vết” để lại đó được thể hiện qua những quan điểm, thái độ và những định hướng nhất định của mỗi người. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà những quan điểm, thái độ này có thể có những mặt tích cực và cả những khía cạnh tiêu cực. Vấn đề là ở chỗ, cần phải chuẩn bị cho đối tượng được tiếp cận với pháp luật và hình thành ở họ thái độ đúng đắn đối với pháp luật.

Trong số các biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật thì việc dự báo hệ quả xã hội của hiệu lực pháp luật, sự chuẩn bị về mặt lý luận các hướng giải quyết những mâu thuẫn có thể xảy ra trong quá trình thực thi, việc nghiên cứu môi trường hiệu lực của pháp luật là những việc có ý nghĩa rất quan trọng[1]. 

1. Tâm lý và lợi ích cá nhân

Ngay từ thời kỳ trước Cách mạng tháng 10 Nga, trong khoa học pháp lý của Nga đã có quan điểm cho rằng, cần phải xem xét một cách tổng thể các yếu tố tâm lý cá nhân trong cơ chế thực thi pháp luật như: các lợi ích, nhu cầu, mục đích, nguyện vọng, sự hiểu biết về pháp luật… Trong mọi trường hợp, dù chủ thể thực thi pháp luật là một tập thể hay từng cá nhân, chúng ta đều có thể tìm thấy hành vi của họ nhằm vào việc thực hiện hoặc liên quan đến việc thực hiện các yếu tố đó[2].

Continue reading

THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG

ĐÀO VĂN HỘ – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (Bài viết được tác giả cập nhật tại thời điểm năm 2006)

Thời gian qua, nhiều vụ tranh chấp lao động và đình công đã xảy ra tại các doanh nghiệp, nhất là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN có vốn ĐTNN) và các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và sự phát triển kinh tế- xã hội cũng như trật tự, an toàn xã hội ở những doanh nghiệp và địa phương xảy ra đình công.

Nhằm cung cấp cho các đại biểu Quốc hội một cái nhìn tổng thể về thực trạng đình công để các đại biểu có những thông tin cần thiết khi thảo luận, xem xét thông qua Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (liên quan đến đình công và giải quyết đình công), bài viết đề cập đến đình công và phương hướng giải quyết.

Hộp 1:

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ Lao động – thương binh và xã hội, từ ngày Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/1995) đến hết tháng 3/2006, trên cả nước xảy ra gần 1200 cuộc đình công. Trong đó, đình công xảy ra chủ yếu và nhiều nhất ở các DN có vốn ĐTNN: 789 cuộc, chiếm 67,4%; DNTN: 298 cuộc, chiếm 25,4% và doanh nghiệp nhà nước (DNNN): 84 cuộc, chiếm 7,2%.

Tính bình quân, hàng năm xảy ra khoảng 98 cuộc và nếu so sánh, thì số vụ đình công năm sau cao hơn năm trước, ví dụ: năm 1995 cả nước xảy ra 28 cuộc; năm 1996: 59 cuộc; năm 1997: 59 cuộc; năm 1998: 62 cuộc; năm 1999: 67 cuộc; năm 2000: 71 cuộc; năm 2001: 89 cuộc; năm 2002: 100 cuộc; năm 2003: 139 cuộc; năm 2004: 125 cuộc; năm 2005: 147 cuộc và 3 tháng đầu năm 2006 đã xảy ra khoảng 150 cuộc.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN VÀ VIỆC XÂY DỰNG LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

GS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ở nước ta, Điều 69 của Hiến pháp 1992 có quy định về quyền được thông tin của công dân. Theo quy định trong Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc – Việt Nam đã tham gia Công ước này – quyền được thông tin là quyền con người, là một phần của quyền tự do ngôn luận. Trên thế giới, nhiều nước đã có luật về quyền được thông tin từ hàng trăm năm trước1. Việt Nam, do những điều kiện khách quan và chủ quan, gần đây, chúng ta mới quan tâm đến việc xây dựng đạo luật này. Việc xây dựng Luật Tiếp cận thông tin là một bước tiến quan trọng để người dân thực hiện quyền hiến định của mình.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, đất nước ta bước vào thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm. Trong các cuộc kháng chiến, bảo mật thông tin luôn là một trong những yêu cầu quan trọng. Các phong trào không nói, không biết, không tin trong những giai đoạn kháng chiến được coi là “kế sách kháng chiến”. Rồi trong thời kỳ nền kinh tế được điều hành theo cơ chế tập trung, bao cấp, chúng ta cũng chỉ có thông tin từ một phía. Trong các giai đoạn lịch sử ấy, hầu như chỉ có luồng thông tin tuyên truyền một chiều từ Trung ương, Nhà nước xuống cho người dân. Người dân luôn là người bị động, chỉ tiếp thu các nguồn thông tin chính thức của Nhà nước.

Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đã giúp xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với bối cảnh mới của nền kinh tế – xã hội đất nước. Trong hệ thống pháp luật ấy, các quy định về công khai thông tin, về quyền được thông tin của người dân đã được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp 1992, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Báo chí, Luật Kiểm toán nhà nước, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở… Tuy nhiên, phải nhận thấy là, các quy định về nội dung này còn chung chung, chưa làm rõ trách nhiệm khi quyền tiếp cận thông tin của người dân không được tôn trọng.

Continue reading

KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ VẤN ĐỀ CỦA VIỆT NAM

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Dưới sức ép của cạnh tranh, nhà kinh doanh luôn tìm cách nâng cao năng lực kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển. Với nhu cầu tìm kiếm một năng lực kinh doanh mới, các nhà kinh doanh đã biết tập trung các nguồn lực kinh tế ngay từ thời kỳ phôi thai của thị trường. Ngày nay, hình thức tập trung nguồn lực kinh doanh đã diễn ra khá phổ biến với những mức độ khác nhau và trở thành một phần quan trọng của quyền tự do kinh doanh. Cùng với đó là những luận cứ kiểm soát tập trung kinh tế được xác định nhằm giới hạn việc điều tiết của nhà nước vào hiện tượng kinh tế này.

1. Bản chất của tập trung kinh tế

Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, khái niệm tập trung kinh tế (TTKT) ở Việt Nam được bình luận ở nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, có ba cách tiếp cận cơ bản:

Một là, với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, TTKT trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất[1]. Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và hậu quả của TTKT đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh. Tuy nhiên, dường như quan điểm trên đã coi hiện tượng tích tụ tư bản là một phần của khái niệm TTKT. Hai là, với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp, TTKT (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản[2] lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác[3]. Khái niệm này đã không đưa ra các biểu hiện cụ thể của TTKT, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng. Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh năm 2004 không quy định thế nào là TTKT mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là TTKT. Theo đó, Điều 3 khoản 3 khẳng định TTKT là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định TTKT là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (i) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vi tập trung khác theo quy định của pháp luật. Sự liệt kê này đã làm rõ các hình thức TTKT mà quan điểm thứ hai chưa làm rõ.

Continue reading

LỄ, HỘI VÀ TẾT

NGUYỄN TIẾN VĂN

Lễ – Hội – Tết lấy tự nhiên, vũ trụ làm trục dọc, và nhân sinh làm trục ngang, hòa hợp cả với trời đất và con người. Và đương nhiên, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, nhất là cuộc sống hiện đại ngày nay, có những lễ-hội-tết bị làm cho phai mờ đi, và cũng có những lễ-hội-tết được làm cho đậm nét hơn.

Lễ – Hội – Tết là sinh hoạt đặc thù của con người, là nền tảng của đời sống chung từ gia đình, xóm làng, đến đất nước, và toàn cầu. Có thể trong cuộc tiến hóa của chủng loại con người, thoạt kì thủy là những cá thể đơn lẻ kết hợp với nhau thành từng tổ nhóm nhỏ vài đơn vị, đến vài chục đơn vị để quần thể dễ mưu sinh và tự vệ hơn. Hàng triệu năm qua đi và con người nhờ quy tụ được một số điều kiện có một không hai đã bứt khỏi đồng bộ linh trưởng (gồm khỉ, vượn, đười ươi, hắn tinh tinh…) và hình thành nhân loại. Những điều kiện đó hỗ tương tác động lên nhau là tư thế đứng thẳng, di chuyển trên hai chân, giải phóng đôi tay hoạt động tinh tế; ngón cái đối diện với 4 ngón còn lại giúp thao tác đa dạng, chính xác; cặp mắt nhìn ra không gian ba chiều; cổ họng, lưỡi và môi điều khiển âm thanh để hình thành ngôn ngữ; và khả năng nhận thức tự thân và ngoại giới được lưu trữ trong kí ức; hình vẽ và chữ viết bảo tồn và lưu truyền thành quả của các thế hệ làm cơ sở cho văn hóa, văn minh.

Từ Con người lao tác (homo faber) ở gần 3 triệu năm trước tới Con người thông minh (homo sapiens) ở đỉnh điểm khoảng 200.000 năm nay. Trong khi vũ trụ được khai sinh từ Vụ nổ lớn (the Big Bang) khoảng 15 tỉ năm trước, trong một hệ mặt trời gần 5 tỉ năm, và khi trái đất có sinh vật khoảng trên 3 tỉ năm, và bộ linh trưởng khoảng 50 triệu năm. Con người chỉ mới sáng tạo tiếng nói khoảng 100.000 năm nay, và chữ viết từ 5.000 năm nay. Lịch sử chỉ được ghi chép ngắn ngủi như thế đó. Trước nữa là thời tiền sử, chỉ có thể phỏng đoán qua sự thông giải những di chỉ và đồ chế tác bằng khảo cổ học. Tuy nhiên, ngoài những chế tác vật thể còn những thiết chế phi vật thể vô cùng quan trọng, qua đó chúng ta biết được những ứng xử của tổ tiên với tự nhiên, với đồng loại, thể hiện tư tưởng và tình cảm củahọ. Đó là văn minh phi vật thể, trong đó lễ hội chiếm một vị trí trung tâm.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TUYÊN TRUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG

THS. DOÃN THỊ THUẬN

Thời gian qua, truyền thông đại chúng (TTĐC) có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tuyên truyền, cổ vũ, định hướng cộng đồng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới; khẳng định, tôn vinh vị trí, vai trò và khả năng của phụ nữ trong việc xây dựng, duy trì, phát triển kinh tế-chính trị-xã hội và văn hoá truyền thống của Việt Nam. Trong nhiều sản phẩm truyền thông đã lồng ghép vấn đề bình đẳng giới góp phần quan trọng trong việc định hướng, thay đổi hành vi ứng xử, suy nghĩ, thái độ và tình cảm của phụ nữ và nam giới, xoá bỏ dần những định kiến giới.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sản phẩm truyền thông củng cố các định kiến giới một các không ý thức. Các bài viết, các câu chuyện trên báo chí thường nhấn mạnh vai trò của phụ nữ và nam giới dựa trên những khuôn mẫu giới như: phụ nữ thường làm công việc đơn giản, liên quan đến dịch vụ và luôn gắn với công việc gia đình, chăm sóc con cái, nội trợ; trong cuộc sống vợ chồng luôn là những người vợ biết nhẫn nhịn, phục dịch thiếu độc lập. Còn nam giới thường làm công việc quan trọng, tham gia vào các lĩnh vực nổi bật, thu nhập cao; là người trụ cột, có tiếng nói quyết định trong gia đình và nắm giữ quyền lực; năng động, tự chủ, thành đạt…

Ngoài những khuôn mẫu giới vô tình được phản ảnh trong các tác phẩm báo chí, định kiến giới còn thể hiện ngay trong các câu hỏi, lời bình, dẫn dắt của một số nhà báo cho rằng phụ nữ phải biết nấu ăn ngon, là người nội trợ chăm chỉ và chiều mọi thành viên trong gia đình, nhất là gia đình chồng.

Chẳng hạn, trong chương trình “Sức sống mới” phát ngày 6 tháng 11 năm 2007 với chủ đề “Người phụ nữ làm công tác khoa học”, người xem được biết tới một nhân vật nữ giỏi công nghệ thông tin. Tuy nhiên, việc này được coi như là điều bất thường qua những câu hỏi và lời bình của người dẫn chương trình (MC) “Khi sang Pháp chị đã từng làm nhiều việc dành cho nam giới chị có thể kể về những việc đó không ạ” hay “Tham gia trong lĩnh vực của nam giới chị có được nhiều thành công hay không?”. Những câu hỏi như vậy mang định kiến ngành công nghệ thông tin chỉ dành cho nam giới. MC và khách mời còn bình luận thêm về việc trở thành một “hiệp sỹ thông tin” đối với một nữ giới là điều đặc biệt, vì sự khác nhau về mặt sinh học giữa nam và nữ. Phụ nữ phải sinh con, nuôi con nên có ít thời gian để nghiên cứu vì vậy việc trở thành nhà khoa học nổi tiếng là điều hiếm thấy. Trong cách phân tích và bình luận như vậy, MC và khách mời đều thể hiện rõ định kiến của mình về khả năng kém nổi trội của phụ nữ so với nam giới và thậm chí cho đó là bình thường, là quy luật.

Continue reading