LỰA CHỌN MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA MỖI QUỐC GIA

GS. CLAUDE BRENNER – Trường Đại học tổng hợp Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

1. Đặt vấn đề

Theo quan điểm của pháp luật Cộng hoà Pháp, xây dựng một bộ luật chung về THA dân sự và THA hình sự là một dự án đầy tham vọng. Bởi lẽ, giữa hai lĩnh vực THA này vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về mặt logic, mỗi lĩnh vực đều dựa trên những căn cứ riêng và mang tính đặc thù. Ví dụ, giữa thủ tục THA phạt tù và thủ tục cưỡng chế thu hồi nợ đều có yếu tố cưỡng chế và sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang công quyền. Nhưng về cơ bản thì đó là hai thủ tục khác nhau, nhằm những mục đích khác nhau: trong trường hợp THA dân sự, thì sự tham gia của lực lượng vũ trang công quyền là nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, còn trường hợp THA hình sự, thì sự tham gia của lực lượng vũ trang công quyền lại nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy giữa THA dân sự và THA hình sự có những điểm tương đồng không thể phủ nhận. Trong cả hai trường hợp, mục tiêu theo đuổi đều là nhằm thi hành một văn bản tư pháp, mà trước hết là bản án, quyết định của tòa án – cơ quan tài phán nhà nước. Bởi vì, nếu cho rằng thủ tục cưỡng chế thi hành trong lĩnh vực dân sự có thể được sử dụng nhằm thi hành các văn bản ngoài tư pháp, thì theo quy định và thực tiễn pháp luật Cộng hòa Pháp, việc thi hành đó chỉ được coi là phần nối tiếp, là sự mở rộng có chủ đích riêng của việc thi hành các quyết định của cơ quan tài phán nhà nước. ở Pháp, các biện pháp cưỡng chế thi hành, kê biên có thể được sử dụng trong việc thi hành các phán quyết trọng tài (những quyết định của cơ quan tài phán tư). Tuy nhiên trước đó, phán quyết trọng tài bắt buộc phải được một cơ quan tài phán nhà nước công nhận và cho thi hành. Tương tự, trong một số điều kiện nhất định, hợp đồng và văn bản pháp lý thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư có thể được cưỡng chế thi hành mà không cần qua kiểm tra trước của tòa án. Điều kiện ở đây là văn bản đó phải là văn bản công chứng, tức là văn bản được lập bởi công chứng viên với tư cách là viên chức công quyền (trước kia là bổ trợ tư pháp) – người được ủy quyền thực hiện một phần quyền lực nhà nước. Như vậy, trọng tâm của hoạt động cưỡng chế THA, theo quy định của Cộng hoà Pháp và của phần lớn các hệ thống pháp luật khác, là thi hành bản án, quyết định của cơ quan tài phán nhà nước, còn việc đó là án dân sự, hành chính hay hình sự thì thực ra không quan trọng.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

1. Ý nghĩa của việc đăng ký bất động sản: thông tin về quyền hoặc tạo ra quyền

Việc thực hiện một quyền đối với một vật có giá trị tiền tệ chỉ suôn sẻ khi tất cả mọi người đều tôn trọng quyền đó. Muốn được mọi người tôn trọng, điều kiện cần là quyền đó phải được mọi người biết đến. Theo quan niệm truyền thống, đăng ký bất động sản là biện pháp có tác dụng công bố sự tồn tại của một quyền đối với một bất động sản, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể của quyền thực hiện quyền ấy trong mối quan hệ với tất cả mọi người.

Khác với đăng ký hộ tịch, đăng ký tài sản và nói riêng là đăng ký bất động sản, có đối tượng không phải là một sự kiện hay một giao dịch, mà là một quyền đối với một tài sản, đối với một bất động sản (1): quyền sở hữu, quyền của chủ nợ nhận thế chấp, quyền về lối đi qua…

Trong điều kiện bản thân việc đăng ký là một giao dịch do người có quyền xác lập tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vấn đề đặt ra là, giao dịch ấy có mối quan hệ gì với cuộc sống pháp lý của quyền được đăng ký, cụ thể là đối với việc xác lập, chứng minh sự tồn tại của quyền đó. Các hệ thống pháp luật giải quyết vấn đề theo một trong hai cách: 

Hoặc, luật thừa nhận quyền được xác lập do hiệu lực của các giao dịch (mua bán, trao đổi…) hoặc các sự kiện pháp lý (thừa kế, hết thời hiệu…) hình thành trong khuôn khổ cuộc sống dân sự, việc đăng ký là một giao dịch đặc thù, mang tính chất thủ tục hành chính và chỉ có tác dụng thông tin, công bố công khai cho người thứ ba về sự tồn tại của quyền đã được xác lập đó.

Hoặc, luật xác định rằng chính việc đăng ký có tác dụng trực tiếp xác lập quyền. Trong trường hợp quyền được tạo ra, thì cho đến ngày đăng ký, quyền không tồn tại về mặt pháp lý. Trong trường hợp quyền đang tồn tại, thuộc về một người và nay được chuyển giao cho người khác, thì việc đăng ký có tác dụng xác nhận sự chuyển giao quyền từ người chuyển giao sang người nhận chuyển giao.

Continue reading

HAI LÝ THUYẾT VÀ HAI LOẠI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

TRỊNH ĐỨC THẢO (Tác giả viết bài này trước thời điểm Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành – Civillawinfor)

Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ: “Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội.

Hoàn thiện cơ chế bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là tòa án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan, sai; khẩn trương ban hành Luật về Bồi thường nhà nước”.

Để thực hiện chủ trương trên, những năm gần đây trên các diễn đàn khoa học pháp lý đã và đang có nhiều cuộc Hội thảo khoa học quốc tế và quốc gia tập trung nghiên cứu về vấn đề bồi thường nhà nước với mục đích cung cấp những luận cứ khoa học cho các cơ quan xây dựng pháp luật đưa ra được những quyết sách đúng về bồi thường nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Chúng tôi muốn góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận của bồi thường nhà nước.

1. Hai lý thuyết trách nhiệm bồi thường nhà nước

Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước ở các nước trên thế giới cho thấy, trước thế kỷ XIX, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước chưa được thừa nhận ở bất kỳ quốc gia nào ở châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới. Bởi, thời bấy giờ bị chi phối bởi tư tưởng vua không thể làm điều gì sai, nghĩa là Nhà nước không thể làm sai, không làm gì trái pháp luật; vì thế, Nhà nước không có trách nhiệm phải bồi thường. Lúc này, những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan công quyền được xem là hành vi của cá nhân công chức nhà nước. Cho nên, nếu có thiệt hại xảy ra trong quá trình thi hành công vụ của Nhà nước thì lỗi thuộc về công chức và công chức phải bồi thường thiệt hại với tư cách  cá nhân.

Continue reading

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THỊ THU THỦY – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Thị trường chứng khoán (TTCK) chính thức, công khai ở Việt Nam hoạt động cho đến thời điểm hiện nay đã được gần 8 năm. Tuy nhiên, TTCK ở Việt Nam khác với TTCK ở các nước, được “sinh sôi, nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Bài viết đã trình bày về sự cần thiết cũng như những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

1. Dẫn nhập

TTCK trên thế giới ra đời cách đây hàng trăm năm (từ thế kỷ XV) ở Tây Âu, đến thế kỷ XVIII thì phát triển mạnh ở Anh, Hà Lan, Đức, Mỹ. Cho đến nay, sau hơn 5 thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, TTCK tự thân đã khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kích thích đầu tư và sự tăng trưởng kinh tế. Ở Việt Nam TTCK chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Khác với TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được “sinh sôi,nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ- CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006 đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK – là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định. Trong phạm vi bài viết xin được luận bàn về sự cần thiết cũng như những đặc trưng cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TTCK ở Việt Nam.

Continue reading

BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

THS. LÊ THỊ NAM GIANG & ĐOÀN CÔNG YÊN – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (BBCGQSDSC) là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia – trên cơ sở quy định của pháp luật – ra quyết định cưỡng chế, buộc người nắm độc quyền phải chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho Chính phủ hoặc cá nhân, tổ chức khác sử dụng thông qua hợp đồng bằng văn bản, với những điều kiện cơ bản đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền, với mục đích ngăn chặn sự lạm dụng độc quyền được xác lập bởi Bằng độc quyền sáng chế hoặc vì mục đích cộng đồng, phi thương mại.

Hiện nay, trong quá trình bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, một trong những vấn đề mà Việt Nam và các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm là vấn đề bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam đã dành riêng một mục để định chế vấn đề quan trọng này. 

1. Quy định pháp luật

Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Căn cứ BBCGQSDSC chính là cơ sở tiền đề làm phát sinh quan hệ chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu (hay người nắm độc quyền). Khoản 1, Điều 145 Luật SHTT ghi nhận bốn căn cứ mà bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có đủ điều kiện (theo luật định) cũng có thể nộp đơn đến cơ quan có thẩm quyền để xin cấp phép sử dụng sáng chế bắt buộc, bao gồm:

Thứ nhất, sử dụng sáng chế vì mục đích công cộng, phi thương mại. Mục đích này có thể hiểu là để nhằm phục vụ quốc phòng, an ninh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội. Đây chính là những nội dung cơ bản thuộc chức năng đối nội của một nhà nước. Do đó, để khai thác sáng chế với mục đích bảo vệ cộng đồng như vậy, các cơ quan nhà nước sẽ trực tiếp là Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng sáng chế bắt buộc thuộc lĩnh vực mình quản lý. Và theo điểm a, khoản 1 Điều 145, khi ở vào trường hợp này, bất chấp tư cách pháp lý của chủ sở hữu là có vi phạm nghĩa vụ sử dụng sáng chế hay không, việc BBCGQSDSC vẫn được tiến hành. Đây là điểm chung của chế định BBCGQSDSC tại các nước, phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPs Hiêp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.  của WTO.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 04/2010/TT-BLĐTBXH NGÀY 29 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI QUY ĐỊNH MỨC ĐIỀU CHỈNH TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG VÀ THU NHẬP THÁNG ĐÃ ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

Căn cứ Nghị định số 83/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm

LAcetate De Trenbolone fonctionne de manière similaire à la testostérone, améliorant potentiellement la quantité d’hypertrophie musculaire permettant la Trenabol pour vous aider a prendre du poids construction d’une masse maigre. Selon une étude en Russie en 1976, LAcetate De Trenbolone extrait de la plante Maral Root (également connue sous le nom de Rhaponticum carthamoides) a augmenté la synthèse des protéines et le poids corporel.

xã hội đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định (sau đây gọi tắt là Nghị định số 83/2008/NĐ-CP);
Căn cứ Nghị định số 134/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (sau đây gọi tắt là Nghị định số 134/2008/NĐ-CP),
Sau khi thống nhất với Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định mức điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định và mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:

Điều 1. Đối tượng áp dụng

1. Đối tượng điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 83/2008/NĐ-CP là người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, bảo hiểm xã hội một lần hoặc bị chết mà thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần, từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.

2. Đối tượng điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 134/2008/NĐ-CP là người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, bảo hiểm xã hội một lần hoặc bị chết mà thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần, từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.

Continue reading