TUỔI NGHỈ HƯU CỦA LAO ĐỘNG NỮ ĐỐI VỚI VIỆC SỬA ĐỔI LUẬT LAO ĐỘNG TRONG THỜI GIAN TỚI

NGUYỄN ANH MINH – Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHXH, BHXH Việt Nam

BHXH là một chính sách cơ bản trong hệ thống an sinh xă hội của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng. Trong các giai đoạn lịch sử phát triển kinh tế – xă hội của đất nước, Đảng và Nhà nước đă có những chính sách xă hội phù hợp với điều kiện của lao động nữ. Trong lĩnh vực BHXH, lao động nữ được hoàn toàn b́nh đẳng với nam giới về nghĩa vụ tham gia BHXH. Tuy nhiên, chính sách BHXH cũng có nhiều sự quan tâm đối với lao động nữ hơn trong việc hưởng một số chế độ BHXH, đặc biệt là chế độ hưu trí.

Chế độ hưu trí về cơ bản căn cứ vào hai yếu tố là điều kiện về tuổi đời và điều kiện về thời gian đóng BHXH. Việc quy định tuổi nghỉ hưu được xây dựng trên cơ sở người lao động phải có thời gian nhất định tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, đă đóng BHXH đủ một quăng thời gian theo quy định và có độ tuổi nhất định phù hợp với thực tế nước ta hiện nay. Trong các điều kiện này, điều kiện về tuổi đời giữ một vị trí đặc biệt trong việc xây dựng chế độ hưu trí. Tuổi nghỉ hưu bắt đầu khi t́nh trạng sức khoẻ của người lao động giảm sút và kết thúc ở các thời điểm khác nhau tuỳ thuộc sức khoẻ của mỗi cá nhân trong mỗi ngành nghề, lĩnh vực công tác khác nhau. Xác định hợp lư tuổi nghỉ hưu không chỉ có ư nghĩa quan trọng về chính trị, xă hội mà c̣n đảm bảo cân đối quỹ BHXH lâu dài. Bởi nếu giảm tuổi nghỉ hưu (không đồng thời với các điều chỉnh khác như điều chỉnh mức hưởng, mức đóng …) th́ quỹ BHXH tăng thời gian chi lương hưu, đồng thời giảm thu BHXH của mỗi người lao động sẽ là không phù hợp với một số nhóm lao động nữ c̣n có khả năng tiếp tục lao động, có nhu cầu phục vụ, cống hiến như lao động nữ làm việc trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, quản lư…. C̣n nếu tăng tuổi nghỉ hưu sẽ giảm bớt thời gian chi trả từ quỹ BHXH, đồng thời tăng nguồn đóng góp cho quỹ, đảm bảo hơn sự ổn định và cân đối quỹ BHXH lâu dài. Tuy nhiên, việc tăng tuổi nghỉ hưu sẽ không phù hợp với một số nhóm lao động nữ trực tiếp sản xuất, làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại có hại tới sức khỏe. V́ vậy, việc xác định tuổi nghỉ hưu phải trên cơ sở tổng hợp của các nhân tố kinh tế, xă hội, lịch sử của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Continue reading

VƯỚNG KHI CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG BẢO ĐẢM

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Luật Công chứng có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007. Qua hơn 2 năm thực hiện Luật, đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ, đặc biệt là trong việc công chứng các hợp đồng bảo đảm.

Thứ nhất là sự “lệch pha” giữa các quy định của pháp luật có liên quan. Thông thường, các hợp đồng, giao dịch bảo đảm liên quan đến các bên, đó là các tổ chức tín dụng và công dân, tổ chức có nhu cầu vay vốn. Theo quy định hiện hành về hợp đồng kinh tế thì hợp đồng bảo đảm được ký kết giữa các bên có liên quan không có quy định không bắt buộc phải xác định về giá trị tài sản mà bên bảo đảm đưa ra làm tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, theo quy định về công chứng thì việc xác định giá trị, tài sản trong giao dịch, hợp đồng bảo đảm là điều không thể thiếu. Từ đó đã gây khó khăn, bất cập cho chính các tổ chức tín dụng và bên muốn vay vốn, thông qua hình thức bảo đảm các tài sản. Bởi lẽ theo quy định, nếu hợp đồng bảo đảm tài sản không ghi giá trị của tài sản bảo đảm thì các công chứng viên sẽ không thể công chứng các hợp đồng đó. Nhiều ý kiến cho rằng, các giao dịch, hợp đồng bảo đảm tài sản giữa các tổ chức tín dụng và bên thứ hai không nhất thiết phải quy định về phần ghi giá trị tài sản; cần tôn trọng việc chấp thuận, chấp nhận giữa các bên (tổ chức tín dụng và bên thứ hai) về tài sản bảo đảm, giá trị tài sản. Trong trường hợp có xảy ra các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm giữa các bên thì các bên có thể tự giải quyết, tự chịu trách nhiệm về các thỏa thuận của mình theo các điều khoản được ghi trong hợp đồng và không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội. Mặt khác, pháp luật hiện hành cũng không quy định bắt buộc, không can thiệp các bên có liên quan (tổ chúc tín dụng và bên thứ hai) phải ghi rõ giá trị tài sản bảo đảm là cơ sở để được tính số tiền tối đa đối với tài sản bảo đảm trong quá trình tham gia giao dịch, hợp đồng.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1329/BTC-TCT NGÀY 29 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ VIỆC THỰC HIỆN THÔNG TƯ SỐ 130/2008/TT-BTC NGÀY 26 THÁNG 12 NĂM 2008

Kính gửi:

Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp, Bộ Tài chính nhận được ý kiến của một số Cục thuế và doanh nghiệp đề nghị hướng dẫn rõ thêm một số điểm trong Thông tư số 130/2008/TT-BTC. Về vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:

1. Hướng dẫn tính vào chi phí được trừ khoản nộp quỹ bảo hiểm thất nghiệp của doanh nghiệp.

– Điều 102 Luật bảo hiểm xã hội và Điều 25 Chương IV Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 quy định chi tiết thi hành Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009 quy định: “Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Điều 102 Luật bảo hiểm xã hội.

1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

2. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

3. Hàng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần”.

– Điểm 2.11 mục IV Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC hướng dẫn: Không được tính vào chi phí được trừ: “Phần trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn vượt mức quy định”.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NHẶT “SẠN” XỬ ÁN DÂN SỰ

KHẢI HÀ – ĐỨC MINH

Tòa phúc thẩm xử vào cuối tháng 7 nhưng trong giấy triệu tập đương sự lại đề xử vào cuối… tháng 8.

Tổng kết công tác ngành tòa án mới đây, Tòa dân sự TAND Tối cao đã chỉ mặt đặt tên hàng loạt sai sót cụ thể cần phải tránh khi giải quyết án dân sự: Không đảm bảo quyền tự quyết của đương sự, chứng cứ không đầy đủ, triệu tập sót người tham gia tố tụng…

Tháng 4-2009, Tòa dân sự TAND Tối cao đã xử giám đốc thẩm, hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm trong vụ tranh chấp về đất đai giữa bà Lê Thị Tuyết Nương với bà Nguyễn Kim Thông.

Chứng cứ chưa đủ đã vội xử

Theo hồ sơ, bà Nương sau khi mua đất đã bán lại cho bà Thông 500 m2nhưng không ghi rõ tứ cận. Bà Thông nhận đất, trả tiền rồi rào lại. Trên thực tế, bà Thông sử dụng tới hơn 600 m2. Phần đất còn lại của bà Nương cũng thừa một khoảnh so với khi mua đầu tiên.

Ba năm sau, bà Nương khởi kiện đòi lại đất đã bán, cho rằng bà Thông đã lấn đất của mình. Tòa cấp sơ thẩm giữ nguyên hiện trạng cho hai bên đương sự. Tòa phúc thẩm lại buộc bị đơn trả lại hơn 100 m2 đất thừa. Theo Tòa Dân sự, phán quyết của cả hai cấp đều chưa đủ căn cứ vì chưa làm rõ nguồn gốc của số đất dư ra.

Continue reading