ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

Chế định tài sản và quyền sở hữu là một trong những chế định hết sức quan trọng trong pháp luật dân sự, nên bất kỳ BLDS nào, chế định tài sản và quyền sở hữu cũng chiếm vị trí trọng tâm. Trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, chế định tài sản và quyền sở hữu đều được quy định ở phần thứ 2 gồm 7 chương, trong đó BLDS năm 1995 có 113 điều (từ Điều 172 đến Điều 284), BLDS năm 2005 có 117 điều ( từ điều 163 đến điều 279).

So với BLDS năm 1995 thì BLDS năm 2005 tăng thêm 4 điều, trong đó có 8 điều mới (Điều 166, 168, 188, 197, 218, 257, 258, 261), giữ nguyên 33 điều, sửa và bổ sung 76 điều. Trong số các điều sửa và bổ sung, có một số điều chỉ sửa câu chữ, từ ngữ cho chính xác, còn phần lớn việc sửa và bổ sung làm cho điều luật không những chính xác mà còn có nội dung mới. Đây là những quy định mà qua thực tiễn thực hiện BLDC1995, nhà làm luật đã bổ xung cho phù hợp với thực tiễn.

1. Nguyên tắc chịu rủi ro về tài sản

BLDS 1995 không có quy định này. Theo Điều 166 BLDS 2005 thì “chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có quy định khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Quy định trên rất quan trọng trong cuộc sống, nhất là trong các giao dịch dân sự thuê tài sản, mượn tài sản…Trong các loại giao dịch này chủ sở hữu tài sản là người cho thuê, cho mượn tài sản, nếu không may tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng thì người thuê, người mượn tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

2. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản

Theo Điều 168 BLDS 2000 thì:

a. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

b. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Continue reading

BÀN VỀ THẨM QUYỀN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON

TS. LÊ THU HÀ – Học viện tư pháp

1. Theo chị Phan Thị Yến (sinh năm 1984), năm 2003, chị và anh Lê Văn Thanh (sinh năm 1980) chung sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn, không được cha mẹ anh Thanh đồng ý. Mặc dù không được bố mẹ anh Thanh đồng ý, chị Yến và anh Thanh vẫn về sống chung với gia đình chồng. Đến ngày 31/01/2005 chị Yến sinh bé gái Lê Yến Ngọc. Do không có đăng ký kết hôn nên chị Yến không làm được khai sinh cho bé Ngọc.

Ngày 24/02/2006, anh Thanh bị tai nạn giao thông chết. Tháng 5 năm 2006, chị Yến có đơn ra Tòa án yêu cầu Tòa án xác định anh Thanh là cha cho cháu Lê Yến Ngọc. Bố mẹ anh Thanh cũng thừa nhận cháu Lê Yến Ngọc là con đẻ của anh Thanh, là cháu nội của ông bà. Theo Điều 65 luật hôn nhân và gia đình năm 2000, con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

Trong trường hợp cụ thể của chị Yến là yêu cầu xác định anh Thanh (đã chết) là cha cho bé Ngọc là một yêu cầu chính đáng, được pháp luật thừa nhận. Nhưng yêu cầu của chị Ngọc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay không?

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết trường hợp xác định con theo quy định tại Điều 64: Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Đối với trường hợp nhận cha, mẹ, con khác, Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định quyền được yêu cầu mà không quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết. Vấn đề này được quy định tương đối chi tiết trong Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định số 158/2005 có hiệu lực từ ngày 01/04/2006, thay thế nghị định số 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về đăng ký hộ tịch).

Mục 6, Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, tại Điều 32 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định điều kiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

TS. PHẠM VĂN LỢI & THS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

1. Quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Hiểu theo nghĩa rộng, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất cả hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp. Theo cách quan niệm này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (nhất là các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh) cũng thuộc vào phạm trù “cạnh tranh không lành mạnh”[3].

Theo quy định về “cạnh tranh không lành mạnh” của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp[4] (Điều 10bis – được bổ sung vào Công ước từ năm 1900) thì bất cứ hành vi nào không trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Luật Cạnh tranh của Việt Nam quan niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (Điều 3 Khoản 4). Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định rõ một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định thỏa mãn các tiêu chí quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh.

Continue reading

THỰC THI PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ – VẪN CHƯA THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC

VI HOA

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê vừa công bố, hiện nay cả nước có trên 21 triệu lao động, trong đó lao động nữ chiếm 47,7%, giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển KT- XH của đất nước. Lực lượng lao động nữ tham gia ngày càng nhiều hơn trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp vẫn chưa nghiêm túc…

Những kết quả bước đầu

Kết quả tham vấn công chúng đối tượng là nữ lao động tại các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài cho thấy  các quy định trong Chương X, Bộ Luật Lao động như: việc tuyển dụng, ký kết hợp đồng lao động; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; mức lương, nâng lương, điều kiện, môi trường lao động, chế độ thai sản… được nhiều doanh nghiệp triển khai thực hiện nghiêm túc và đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận.Qua đó quyền lợi của lao động nữ trong các doanh nghiệp được bảo đảm và người lao động yên tâm sản xuất,  muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.

Đánh giá tình hình việc làm và điều kiện làm việc của lao động nữ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, ĐBQH tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Thị Thu Hồng nhận xét, có 94,2% nữ công nhân lao động trong các doanh nghiệp có đủ việc làm thường xuyên, chỉ có 2,8% lao động nữ có việc làm nhưng thất thường; 78,4% lao động nữ thời gian làm thêm giờ có sự thỏa thuận với chủ sử dụng lao động… Bà Hồng cho biết, việc phát triển tổ chức, đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp được các cấp công đoàn quan tâm đáng kể, đã có 69,8% lao động nữ tham gia công đoàn trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước, 45,9% tham gia trong doanh nghiệp tư nhân, 69,8% trong các HTX…

Tại TP Đà Nẵng, theo số liệu thống kê của Sở LĐ, TB và XH hiện nay trên địa bàn thành phố có 9.386 doanh nghiệp, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp là 215.500 người,  trong đó tỷ lệ nữ chiếm 55%, số đơn vị sử dụng lao động nữ từ 30% trở lên thuộc các ngành như công nghiệp, thương mại- dịch vụ, thủy sản… Đa số các doanh nghiệp thực hiện tương đối đầy đủ các chế độ xã hội cho lao động nữ như BHXH, BHYT, chế độ nghỉ dưỡng sau khi sinh.

Continue reading

GIÁM HỘ, ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Chánh Toà Lao động, TANDTC

1. Những điểm mới về giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005)

Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự (BLDS) nhằm mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự.

Chế định giám hộ được quy định ở mục 4, Chương III Phần thứ nhất BLDS năm 2005 với 16 điều (từ Điều 58 đến Điều 73), với những sửa đổi bổ sung quan trọng so với các điều của tương tự của BLDS 1995.

1.1. Khái niệm giám hộ

Điều 58 BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm giám hộ:

“ Giám hộ là cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi ( NLHV) dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)

So với khái niệm giám hộ quy định tại Điều 67 BLDS 1995 thì khái niệm giám hộ nêu ở Điều 58 BLDS 2005 ngoài việc sửa đổi từ ngữ còn sửa nội dung câu “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” bằng câu “người mất NLHV dân sự”.

Việc thay đổi này làm cho điều luật vừa ngắn ngọn vừa thể hiện được sự chặt chẽ và chính xác hơn. Vì khái niệm mất NLHV dân sự đã được quy định tại Điều 24 BLDS 1995, Điều 22 BLDS 2005. Vì vậy điều luật không cần mô tả lại những biểu hiện của người mất NLHV dân sự.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh Tòa dân sự, TANDTC

Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là một loại tài sản đặc biệt, có ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội, nó liên quan đến mọi người, mọi cơ quan, tổ chức, được nhà nước hết sức quan tâm. Do đó, nó có một chế độ pháp lý riêng biệt. Có lẽ không có loại tài sản nào gắn với mọi người, mọi nhà nhưng lại chỉ có một chủ thể được quyền sở hữu đó là Nhà nước, còn người sử dụng đất, tuy không phải là chủ sở hữu nhưng lại có 10 quyền tương tự như các quyền của một chủ sở hữu tài sản và đương nhiên vì không phải chủ sở hữu nên người sử dụng loại tài sản đặc biệt này có những hạn chế nhất định.

Kể từ năm 1980, khi hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đến nay quyền của người sử dụng đất không ngừng được phát triển. Từ chỗ người sử dụng đất chỉ có quyền khai thác các công dụng của đất đai, không có quyền mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế… quyền sử dụng đất. Tóm lại, người sử dụng đất không được pháp luật cho phép thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, đến khi có Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 và đặc biệt là khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, thì Nhà nước đã thừa nhận cho người dân có 5 quyền sử dụng đất. Khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, Nhà nước thừa nhận người sử dụng đất có 10 quyền và trong tương lai các hạn chế về quyền của người sử dụng đất sẽ ngày càng ít đi. Quyền năng của người quản lý, sử dụng đất hợp pháp sẽ được bảo đảm ngày càng tốt hơn, thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể và cũng là để quản lý, khai thác đất đai có hiệu quả hơn.

Trong các quyền năng của người sử dụng đất, thì quyền thừa kế có vị trí hết sức đặc biệt. Do tính chất pháp lý đặc thù của loại tài sản này, nên Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định thừa kế quyền sử dụng đất thành một chương riêng, nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 không còn quy định chế độ pháp lý riêng biệt về thừa kế quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi xem xét về thừa kế quyền sử dụng đất thì phải vận dụng cả các quy định của Luật Đất đai để việc giải quyết phù hợp với tính chất đặc biệt của loại tài sản này.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: MANG TRÂU ĐI GIÁM ĐỊNH … GEN!

THANH QUANG

Theo tập quán chăn thả trâu, bò của bà con dân tộc một số tỉnh miền núi không có người trông coi nên dễ xảy ra tình trạng mất trộm hoặc nhầm lẫn. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra việc tranh chấp khiến người trong cuộc phải lao đao theo kiện. Câu chuyện giữa hai gia đình anh Sầm Văn Quàn và anh Hoàng Văn Hình cùng trú tại xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trong vụ tranh chấp trâu là một minh chứng điển hình…

Trâu thuộc về ai?

Ngày 8-2-2005, anh Sầm Văn Quàn ngạc nhiên khi thấy con trâu nhà mình bị mất tích vài tháng bỗng xuất hiện và điềm nhiên ăn cỏ tại khu vực Pá Tao, xã Minh Lương. Theo anh Quàn, đây là con trâu anh mua của ông Ma Văn Thinh (người cùng huyện) từ tháng 4-2003 với những đặc điểm: màu đen, có 5 khoáy, sừng hơi cong, ngọn sừng thẳng đứng, tai trái có vết rách dài 5cm, mông phải có 7 vết sùi, tuổi từ khoảng 6 đến 7.

Dắt con trâu “bị lạc” về nhà nhưng chỉ vài hôm sau, gia đình anh Hoàng Văn Hình đến đòi trâu vì cho rằng trâu của nhà mình nhưng anh Quàn nhất quyết không chịu trả.

Để làm rõ “trắng đen”, anh Hình đã làm đơn kêu cứu lên TAND huyện Văn Bàn. Sau khi thụ lý hồ sơ, TAND huyện Văn Bàn đã đưa vụ án dân sự trên ra xét xử. Tại phiên tòa, anh Quàn vẫn nhất mực bảo vệ ý kiến của mình, cho rằng với những đặc điểm không thể nhầm lẫn thì con trâu – là tài sản của gia đình anh đã mất tích từ trước, nay mới tìm được.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 224/BXD-QLN NGÀY 9 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ CÁCH TÍNH MIỄN GIẢM TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO NGƯỜI MUA KHI BÁN NHÀ Ở THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61

Kính gửi:

Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 14/SXD-QLN&TTBĐS ngày 07/01/2010 của Sở Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế báo cáo việc áp dụng cách tính miễn giảm tiền sử dụng đất khi bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/1999/TT-BXD ngày 26/7/1999 của Bộ Xây dựng. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Thông tư số 05/1999/TT-BXD về hướng dẫn cách tính tiền sử dụng đất được hỗ trợ đối với người có công với cách mạng theo Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 có quy định các mức hỗ trợ tiền sử dụng đất được tính trên 100% tiền sử dụng đất theo bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của Chính phủ. Tuy nhiên, ngày 03/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất, trong đó đã quy định mức miễn, giảm tiền sử dụng đất được tính trên số tiền sử dụng đất phải nộp và mức giảm tối đa không vượt quá số tiền sử dụng đất phải nộp trong hạn mức đất ở (khoản 2 và khoản 5 Điều 11 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP). Vì vậy, hiện nay cách tính miễn, giảm tiền sử dụng đất tại Thông tư số 05/1999/TT-BXD nêu trên không còn được áp dụng.

Ngày 25/7/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg về sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg và Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó cũng quy định các mức hỗ trợ người có công với cách mạng khi mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị định 61/CP được tính trong định mức đất ở và tính trên số tiền sử dụng đất mà người được hỗ trợ phải nộp.

Ví dụ: ông Nguyễn Văn A mua nhà ở một tầng một hộ ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị định 61/CP, diện tích đất gắn liền với nhà ở ông A mua không vượt hạn mức đất ở. Giả sử giá đất ở khi chuyển quyền sử dụng đất gắn liền nhà ở ông A mua là 100 triệu đồng thì số tiền sử dụng đất ông A phải nộp tính như sau:

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 04/2010/TT-NHNN NGÀY 11 THÁNG 02 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC QUY ĐỊNH VIỆC SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, MUA LẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2005;
Căn cứ Luật Đầu tư năm 2005;
Căn cứ Luật Cạnh tranh năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng như sau:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động tại Việt Nam sau:

– Ngân hàng thương mại;

– Công ty tài chính;

– Công ty cho thuê tài chính;

– Tổ chức tín dụng hợp tác.

Continue reading