QUYỀN TƯ PHÁP TRONG CÁC CHÍNH THỂ HIỆN ĐẠI

BÙI NGỌC SƠN – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong khoa học từ trước đến nay, sự phân biệt cụ thể các mô hình chính thể chủ yếu dựa vào quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp mà ít thấy vai trò của quyền tư pháp. Người ta nhận thức rằng, dưới góc độ chính thể, không thấy sự khác nhau giữa tư pháp của hình thức nhà nước này với tư pháp của hình thức nhà nước khác. Điều này được lý giải là: dù nhà nước được tổ chức theo hình thức này hay hình thức khác, thì tư pháp với đặc tính của nó vẫn tồn tại độc lập 1 .

Theo truyền thống, đối tượng tác động của quyền tư pháp là các tranh chấp trong nhân dân và tranh chấp giữa nhân dân với nhà nước. Nhưng cùng với xu hướng phát triển của dân chủ, toà án còn xem xét cả hành vi của các quan chức hành pháp, thậm chí là cả tổng thống trong chính thể cộng hoà tổng thống. Như vậy, tương quan quyền lực trong mô hình chính thể có sự quan hệ giữa tư pháp và hành pháp. Hơn nữa, quyền tư pháp còn xem xét cả hành vi của Quốc hội lập pháp. Cùng với việc mở rộng đối tượng xét xử của toà án đối với các hoạt động của Chính phủ và Quốc hội, quyền tư pháp không còn thuần tuý mang tính chất tố tụng mà thực tế trên phương diện nào đó trở thành một cành quyền lực ngày càng quan trọng, là một yếu tố không thể bỏ qua trong việc xem xét toàn diện mô hình chính thể ở các quốc gia hiện đại.

Như vậy, việc xác định một mô hình chính thể không chỉ dựa vào quan hệ giữa lập pháp và hành pháp mà còn phải dựa vào quan hệ giữa tư pháp với các cành quyền lực đó. Trong mỗi một mô hình chính thể, quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp là khác nhau. Để làm sáng tỏ vấn đề này, dưới đây chúng tôi sẽ phân tích sự khác nhau của quyền tư pháp trong các chính thể hiện đại.

Quyền tư pháp trong chính thể cộng hoà tổng thống

Chính thể cộng hoà tổng thống, mà điển hình ở Mỹ, là một mô hình chính thể áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn. Biểu hiện của nguyên tắc này trong quan hệ lập pháp và hành pháp đã được nói đến nhiều trong các ấn phẩm viết về Hiến pháp. Tuy nhiên, trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp, nó ít được đề cập đến. Sự kìm chế và đối trọng không chỉ được thể hiện trong quan hệ lập pháp và hành pháp mà còn trong quan hệ giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp.

Continue reading

VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

PHÙNG VĂN HÙNG – Trung tâm TTTV&NCKH- Văn phòng Quốc hội

Nền kinh tế nước ta đi được một chặng đường 16 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường (Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2002). Đó là một quãng thời gian khá ngắn ngủi so với sự phát triển của các nền kinh tế thị trường khác trên thế giới với bề dày lịch sử hàng trăm năm. Thế nhưng, chúng ta cũng đã được " nếm đủ vị cay đắng, ngọt bùi " của 16 năm xây dựng nền kinh tế đó. Tuy nhiên có thể nói, người được hưởng lợi nhiều nhất chính là người dân. Người dân đã có cuộc sống dễ chịu hơn với hàng hoá, dịch vụ đa dạng hơn, chất lượng cao hơn, nhưng giá lại rẻ hơn. Nói tóm lại, nền kinh tế thị trường bước đầu đã đem lại sự phát triển cho nền kinh tế của đất nước, góp phần tích luỹ, tái đầu tư cho phát triển.

Vì nền kinh tế thị trường có nhiều ưu thế phải ghi nhận, nên có một số ý kiến cho rằng nó tự điều chỉnh theo quy luật cung cầu, không cần phải có sự can thiệp của Nhà nước và mọi sự can thiệp như vậy chỉ làm giảm hiệu quả của nó. Thậm chí họ cho rằng, " bàn tay vô hình " 1 mà Adam Smith nói tới, có thể giải quyết được tất cả. Thực tế ở các nước tư bản phát triển lại chứng minh rằng, Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tối đa thế mạnh của cơ chế thị trường, đồng thời hạn chế tối đa các mặt tiêu cực của nó. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với đất nước ta, một nước đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, lấy " dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" làm mục tiêu cho giai đoạn cách mạng tới.

Vì vậy, trong khuôn khổ có hạn, bài viết này chỉ phân tích một số vấn đề cụ thể nhằm làm rõ thêm vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Continue reading

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ NHỮNG BÀI TOÁN ĐẶT RA CHO NĂM 2010

THS. TRỊNH THANH HUYỀN

Năm 2009 đang dần khép lại, nhưng dường như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn chưa có điểm dừng, vì thế, những khó khăn kinh tế đối với các nước nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn đó. Ngày 7/12/2009, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke cũng thừa nhận tuy nền kinh tế đầu tầu thế giới không bị rơi vào cuộc suy thoái kép nhưng vẫn còn quá sớm để khẳng định nền kinh tế Mỹ đã phục hồi lâu dài. Khu vực đồng Euro cũng đã có những dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn chưa đủ để Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thay đổi mức lãi suất chủ chốt 1% của mình. Sự chững lại của đất nước “mặt trời mọc” do đồng Yên mạnh và giá tiêu dùng liên tục sụt giảm buộc Nhật Bản phải thông qua gói kích thích kinh tế lên tới 24.400 tỷ yên (khoảng 274 tỷ USD) hôm 8/12/2009 vừa qua.

Đó là với phần còn lại của thế giới, còn với Việt Nam, có thể khẳng định, đà suy giảm đã được ngăn chặn và sự phát triển đã bắt đầu trở lại. Đến thời điểm hiện nay, tới 18/25 chỉ tiêu đặt ra cho năm 2009 đã đạt và vượt; tốc độ tăng GDP của 11 tháng/2009 đạt trên 5% (tốc độ tăng GDP 3 quý đầu năm 2009 lần lượt đạt 3,1%, 4,5% và 5,8%); tăng trưởng tín dụng trên 30%, bội chi ngân sách khoảng 6,9%, an sinh xã hội được đảm bảo. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 11 tháng mới chỉ ở mức 5,07%. Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng với tổng giá trị vốn hóa thị trường tính đến 30/11/2009 lên tới 669.000 tỷ đồng, tương đương với 55% GDP năm 2008, tăng gần gấp 3 lần so với mức 225.934 tỷ đồng cuối năm 2008. Chỉ số Vn-Index đã tăng từ 235,5 điểm (tháng 2/2009) lên 570 điểm vào tháng 8/2009, và đạt đỉnh vào phiên ngày 23/10/2009 với 633,21 điểm.

Song, xem xét một cách toàn diện thì kinh tế – tài chính Việt Nam vẫn còn dấu hiệu bất ổn. Tuy TTCK đã khởi sắc, song vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mà điển hình là tình trạng thăng giáng quá thất thường trong những phiên đầu tháng 12 khiến các mốc kháng cự liên tục bị phá vỡ (ngày 11/12/2009, Vn-Index đã xuống dưới mức 450 điểm). Diễn biến giá vàng và ngoại tệ làm “đứng tim” không ít nhà đầu tư với những cuộc “nhảy múa” ngoài sức tưởng tượng.

Continue reading

RÀ SOÁT PHÁP LUẬT TẠI TIỂU BANG NORDHEIN WASTFALEN VÀ KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN HÓA Ở VIỆT NAM

TS. KLAUS SCHONENBROICHER – Cục kiểm tra quy phạm liên ngành, Bộ Nội vụ, Tiểu bang Nordrhein- Westfalen CHLB Đức 

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Khoa Luật, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1. Sự cần thiết và những vấn đề cơ bản về rà soát pháp luật

Trong khuôn khổ hoạt động lập pháp liên bang, từ năm 1954 đến 1968, CHLB Đức đã tiến hành một đợt tổng rà soát pháp luật. Sau đợt tổng rà soát này, pháp luật liên bang đã được xác định lại trên cơ sở các văn bản đã được rà soát bao gồm các văn bản cập nhật và có hiệu lực2. Hệ thống pháp luật CHLB Đức vào thời điểm bắt đầu tiến hành đợt tổng rà soát cũng có nhiều điểm tương đồng với hiện trạng pháp luật Việt Nam hiện nay.

Một vài năm trước đây, Tiểu bang Nordrhein-Westfalen (NRW) cũng tiến hành một đợt tổng rà soát pháp luật. Trong đợt tổng rà soát đó, toàn bộ pháp luật tiểu bang đã được kiểm tra, tập hợp thành năm “gói” pháp luật lớn. Các văn bản này sau khi được rà soát đã được xử lý thông qua các điều khoản bãi bỏ hoặc các điều khoản quy định về nghĩa vụ báo cáo sau một thời gian thực hiện. Mục tiêu của các nhà lập pháp lúc đó không chỉ nhằm xây dựng được một hệ thống pháp luật liên bang mang tính cập nhật và đầy đủ, đồng thời loại bỏ các quy định đã hết hiệu lực hoặc lạc hậu mà còn nhằm tập hợp và duy trì tính cập nhật thường xuyên của các đạo luật và văn bản dưới luật, đảm bảo các văn bản này luôn trong tình trạng có hiệu lực và phù hợp với thực tiễn. Điều này sẽ có tác dụng giảm mạnh quan liêu hành chính trong hoạt động lập pháp3.

Từ kết quả hai đợt tổng rà soát pháp luật của CHLB Đức và của Tiểu bang NRW, chúng tôi cho rằng, trong công tác rà soát pháp luật ở Việt Nam cần lưu ý đến một số vấn đề cụ thể sau:

Continue reading

CÁC ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI THEO BỘ LUẬT THƯƠNG MẠI THỐNG NHẤT CỦA HOA KỲ

ĐỖ MINH TUẤN| Hanoi BizLaw

Các doanh nghiệp Việt Nam khi giao kết hợp đồng xuất khẩu hoặc nhập khẩu với Hoa Kỳ Canada cần lưu ý rằng điều kiện thương mại áp dụng bởi các thương nhân Bắc Mỹ (bao gồm Mỹ và Canada, thậm chí của Mexico) đều thích áp dụng các điều kiện thương mại theo tập quán của Bắc Mỹ. Văn bản qui phạm pháp luật thể hiện rõ nét các điều kiện thương mại này là Bộ Luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ. Các điều kiện thương mại của Bắc Mỹ khác nhiều so với các điều kiện thương mại được qui định trong Incoterms 2000 và Incoterms 1990. Trong Bộ Luật Thương mại thống nhất có năm điều kiện thương mại cơ bản là F.O.B, F.A.S, C.I.F, C.&.F, và Ex-Ship.

Điều kiện F.O.B Bắc Mỹ có hai loại là F.O.B nơi bốc xếp và F.O.B nơi đến. Nếu áp dụng F.O.B nơi bốc xếp (the place of shipment) thì người bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển và chịu mọi chi phí và rủi ro cho đến khi hàng được giao cho người vận chuyển tại cảng bốc xếp. Còn theo F.O.B nơi đến (the place of destination) thì người bán phải chịu rủi ro cho đến khi hàng được giao cho bên bán tại nơi đến. Đây là một điểm khác biệt so với FOB trong Incoterms 2000, theo FOB – Incoterms 2000 thì người bán sẽ được giải phóng trách nhiệm kể từ thời điểm hàng vượt qua lan can tàu tại cảng bốc xếp. Do vậy nếu áp dụng F.O.B Bắc Mỹ cần lưu ý ghi rõ là F.O.B nơi bốc xếp hay F.O.B nơi đến.

Nếu điều kiện F.A.S (Free alongside) được áp dụng thì người bán có nghĩa vụ giao hàng dọc mạn tàu tại cảng chỉ định và chịu mọi phí tổn và rủi ro cho đến khi hàng được giao dọc mạn tàu tại cảng chỉ định.

Cùng với F.O.B các thương gia Bắc Mỹ rất ưa chuộng C.I.F. Điều kiện C.I.F có nghĩa là bên bán sẽ chịu phí bảo hiểm vận chuyển hàng hóa và cước phí vận tải. Về bản chất thì C.I.F Bắc Mỹ cũng tương tự với CIF của Incoterms 2000.

Continue reading