TẢN VĂN VỀ TẾT NGUYÊN ĐÁN

image ĐỖ HOÀNG LINH

Lễ tết là một bộ phận đời sống văn hóa tinh thần quan trọng của văn hóa truyền thống Việt Nam. Lễ Tết thường tập trung vào thời điểm đầu năm, phù hợp với thời tiết và thời vụ vì thế nó ăn sâu vào ý thức dân tộc. Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghi thức lễ tết Việt Nam đều xuất xứ từ Trung Hoa, nhưng thực chất thì phong cách, tâm hồn và truyền thống đều thể hiện rõ bản sắc Việt Nam.

Ngày lễ tết quan trọng nhất chính là Tết Nguyên đán. Tên gọi của ngày lễ cổ truyền này vốn là cách nói tắt của hai chữ Hán lễ tiết. Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm, còn Tết là từ tiết mà ra, nên cụm từ này nghĩa là: bắt đầu năm mới. Thật khó xác định chính xác xem người Việt ta ăn tết từ khi nào, nhưng chắc hẳn do ảnh hưởng của quá trình du nhập văn hóa phương Bắc. Còn sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Ngọ năm thứ 2 (135 trước Công nguyên), Hoài Nam Vương An dâng thư rằng: đất Việt là đất ở ngoài, là dân cao tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ nước mũ mang đai mà trị được. Từ thời tam đại thịnh trị, đất Hồ, đất Việt không theo lịch Trung Quốc…”.
Dân gian vẫn có câu đói quanh năm no ba ngày Tết chắc tại tâm lý no dồn đói góp tích cóp chuẩn bị tất cả tháng trời cho dịp Tết chỉ diễn ra trong ba ngày quan trọng nhất là 30 -1 – 2. Công việc lo Tết bắt đầu thực sự gấp rút từ rằm tháng Chạp âm lịch. Các gia đình đều dọn dẹp, lau chùi, trang hoàng nhà cửa và mua sắm đồ Tết. Ngày 23 tháng Chạp có một nghi lễ quan trọng đầu tiên là tiễ ông Công ông Táo (ta còn gọi là vua bếp, Đông thần). Các gia đình khá giả bày cỗ linh đình, thậm chí còn dâng cả mật ông, bánh nếp để mong Táo quân ngọt giọng đọc báo tâu điều hay lẽ phải với Ngọc Hoàng; nhà nghèo thì cũng cố sắm cho ông Táo mâm lễ gồm mũ, áo, hia, vàng mã và con cá chép sống để trong thạp nước bày lên bàn thờ. Ai cũng tin rằng ông Táo giữ ngọn lửa bếp trong mỗi nhà nên rất quan trọng đối với vận thịnh suy của gia chủ. Sau khi thắp hương cúng xong thì đốt vàng mã và đem cá ra sông phóng sinh. Không khí Tết dồn dập đến rất nhanh, người ta quét dọn, lau rửa bàn thờ, ảnh thờ, nấu nước ngũ vị hương vẩy từ nhà ra ngoài sân để tẩy uế rồi mổ lợn, gói bánh chưng, làm gà, làm ô-mai, mứt tết, tắm giửa tất niên.

Continue reading

GIẢI QUYÊT TRƯỜNG HỢP THAY ĐỔI ĐỊA VỊ TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

TS. LÊ THU HÀ – Học viện Tư pháp

1. Quy định của pháp luật

Một trong những quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) là vấn đề thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Điều 219 quy định:

“1. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.

2. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn”.

1.1. Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố

Theo Khoản 1 Điều 175 BLTTDS, trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có… Cùng với việc đó, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn (Khoản 1 Điều 176). Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.

Như vậy, việc phản tố của bị đơn phải được tiến hành theo các quy định về thủ tục từ trước khi mở phiên tòa. Và Khoản 1, Điều 219 BLTTDS được hiểu đúng là áp dụng cho trường hợp bị đơn đã có yêu cầu phản tố và đã thực hiện xong những quy định về quyền phản tố từ trước khi mở phiên tòa theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa, Khoản 1 Điều 219 không áp dụng cho trường hợp tại phiên tòa mà có yêu cầu phản tố của bị đơn.

Continue reading

LỊCH SỬ VÀ QUI TRÌNH pháp điển hóa ở Hoa Kỳ

THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật hành chính – Hình sự, Bộ Tư pháp 

1. Quan niệm về pháp điển hoá ở một số nước

Ý tưởng pháp điển hóa có từ lâu đời ở châu Âu. Nhiều đế vương La Mã đã có ý tưởng đưa ra những bộ pháp điển (như Hoàng đế Justinian, năm 525 sau Công nguyên). Lúc này, việc tập hợp mang tính chất hệ thống hóa, nghĩa là tập hợp vào một cuốn sách toàn bộ các văn bản theo trình tự thời gian, từ văn bản được ban hành sớm nhất rồi đến các văn bản được ban hành gần nhất.

Pháp điển hóa thực chất là sắp xếp lại các quy định pháp luật hiện hành. Đây là quan niệm chung của nhiều nước như Pháp, Hoa Kỳ… nhưng cách thức tiến hành có phần khác nhau. Người ta thường khó phân biệt giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa, vì về hình thức, chúng đều là sự tập hợp văn bản pháp luật theo chủ đề.

Nếu như pháp điển hóa được hiểu theo nghĩa là các quy định pháp luật được tổ chức trong một văn bản pháp luật trọn vẹn, toàn diện, có hệ thống về một chủ đề xác định, thì không phải tất cả những nước sử dụng hệ thống luật thành văn đều đã làm được. Vẫn có những đạo luật đơn lẻ được ban hành để giải quyết những vấn đề cụ thể mà không được pháp điển hoá. Những đạo luật này vẫn song song tồn tại với những bộ luật thành văn.

2. Lịch sử pháp điển hóa ở Hoa Kỳ

Người ta có thể đặt những câu hỏi như: không hiểu luật hình sự của Hoa Kỳ là luật thành văn hay là luật chưa thành văn. Hoa Kỳ có 50 bộ luật hình sự của 50 tiểu bang, đồng thời có bộ luật hình sự của liên bang; nhiều tiểu bang theo hệ thống luật dân sự (tức viết thành văn) để cho nhân dân và các luật sư dễ dàng tham khảo. Đa số các tiểu bang có bộ luật hình sự viết thành văn. Câu cuối cùng của các bộ luật hình sự tiểu bang viết là: “Không phải tất cả các tội phạm đều được quy định trong bộ luật hình sự có giá trị về mặt pháp lý, mà tất cả các tội phạm khác nữa không viết thành văn cũng được áp dụng”.

Continue reading

LỊCH SỬ VÀ QUI TRÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA Ở HOA KỲ

THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật hành chính – hình sự, Bộ Tư pháp

1. Quan niệm về pháp điển hoá ở một số nước

Ý tưởng pháp điển hóa có từ lâu đời ở châu Âu. Nhiều đế vương La Mã đã có ý tưởng đưa ra những bộ pháp điển (như Hoàng đế Justinian, năm 525 sau Công nguyên). Lúc này, việc tập hợp mang tính chất hệ thống hóa, nghĩa là tập hợp vào một cuốn sách toàn bộ các văn bản theo trình tự thời gian, từ văn bản được ban hành sớm nhất rồi đến các văn bản được ban hành gần nhất.

Pháp điển hóa thực chất là sắp xếp lại các quy định pháp luật hiện hành. Đây là quan niệm chung của nhiều nước như Pháp, Hoa Kỳ… nhưng cách thức tiến hành có phần khác nhau. Người ta thường khó phân biệt giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa, vì về hình thức, chúng đều là sự tập hợp văn bản pháp luật theo chủ đề.

Nếu như pháp điển hóa được hiểu theo nghĩa là các quy định pháp luật được tổ chức trong một văn bản pháp luật trọn vẹn, toàn diện, có hệ thống về một chủ đề xác định, thì không phải tất cả những nước sử dụng hệ thống luật thành văn đều đã làm được. Vẫn có những đạo luật đơn lẻ được ban hành để giải quyết những vấn đề cụ thể mà không được pháp điển hoá. Những đạo luật này vẫn song song tồn tại với những bộ luật thành văn.

2. Lịch sử pháp điển hóa ở Hoa Kỳ

Người ta có thể đặt những câu hỏi như: không hiểu luật hình sự của Hoa Kỳ là luật thành văn hay là luật chưa thành văn. Hoa Kỳ có 50 bộ luật hình sự của 50 tiểu bang, đồng thời có bộ luật hình sự của liên bang; nhiều tiểu bang theo hệ thống luật dân sự (tức viết thành văn) để cho nhân dân và các luật sư dễ dàng tham khảo. Đa số các tiểu bang có bộ luật hình sự viết thành văn. Câu cuối cùng của các bộ luật hình sự tiểu bang viết là: “Không phải tất cả các tội phạm đều được quy định trong bộ luật hình sự có giá trị về mặt pháp lý, mà tất cả các tội phạm khác nữa không viết thành văn cũng được áp dụng”.

Continue reading