TAI HỌA TỪ LÒNG NGHEN TỴ

NGUYỄN VĂN TRỌNG

Tính ghen tỵ đã được biết đến từ lâu như một thói xấu mang tính phổ quát của con người. Văn chương của nhân loại đưa ra biết bao điển hình sinh động của thói xấu ấy dẫn đến những tội ác làm kinh động lòng người. J.S. Mill nhận xét rằng tính ghen tỵ ở phương Đông là ghê gớm nhất, một người có đứa con kháu khỉnh dễ thương cũng có thể là lý do để thành đối tượng bị hàng xóm ghen ghét.

Tính ghen tỵ tuy có thể có xuất xứ từ bản năng con người, nhưng biểu hiện xã hội của nó có mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa của cộng đồng. Một cộng đồng có nhiều người có tâm thế tích cực với khát vọng được làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác thì cơ may xuất hiện người tài trong cộng đồng ấy là rất cao, tính ghen tỵ trong cộng đồng ấy cũng rất thấp. Ngược lại, một cộng đồng mà đam mê cai trị người khác mạnh hơn nhiều so với ham muốn có độc lập cá nhân để làm những công việc sáng tạo, thì đó chính là một cộng đồng săn tìm địa vị theo cách gọi của J.S. Mill.

Một cá nhân trung bình trong cộng đồng này sẽ ưu tiên lựa chọn cơ hội, dù có xa vời và khó xảy ra đến đâu đi nữa, được chia phần đôi chút về quyền lực để áp đặt lên đồng bào của mình, hơn là lựa chọn sự tự do để được làm công việc mình yêu thích. Ở một cộng đồng như thế chỉ có sự bình đẳng là được quan tâm chứ không phải sự tự do. Trong cộng đồng săn tìm địa vị, tính ghen tỵ thường thể hiện ra ở mức độ cao.

Trong tiến trình lịch sử của mọi dân tộc đều diễn ra sự phân tầng xã hội với kẻ giàu và người nghèo, kẻ nắm quyền uy và người bị cai trị. Xung đột xã hội luôn luôn xảy ra. Các bậc hiền triết của nhân loại thuộc mọi thời đại đều bận tâm tìm kiếm một hình thức chính thể tối ưu để giảm thiểu thấp nhất các xung đột xã hội mà vẫn tạo cơ hội cho người tài xuất hiện đặng thúc đẩy xã hội phát triển.

Nhiều học thuyết khác nhau xuất hiện với các biện giải vô cùng phức tạp. Học thuyết nào càng gây chú ý nhiều thì càng có nhiều cách biện giải khác nhau được đưa ra. Rất khó để nắm bắt được thực chất của các cách biện giải khác nhau ấy và chẳng có mấy người dám nói là nắm được vấn đề này.

Continue reading

BÀN VỀ “QUYỀN NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ” QUI ĐỊNH TẠI ĐIỀU 243 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN VĂN DŨNG – Học Viện Tư Pháp

Chế định “đại diện” được quy định tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết trong Bộ luật dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo những quy định này, trong quan hệ dân sự và tố tụng dân sự có “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo ủy quyền”- được gọi chung là người đại diện hoặc người đại diện hợp pháp. Quyền và nghĩa vụ của người “đại diện theo pháp luật” và “đại diện theo ủy quyền” không phải trong mọi trường hợp đều như nhau và giống nhau. Khi đặt trong tổng thể chung, có những quy định pháp luật gây nhầm lẫn hoặc gây tranh luận về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng. Quy định: “người đại diện của đương sự” tại Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự là một quy định như vậy.

Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.” Theo quy định này, có 3 đối tượng được quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm bao gồm, Đương sự; Người đại diện của đương sự; Cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án. Với hai đối tượng: đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo là chính xác, đúng quy định pháp luật và không cần bàn cãi. Bài viết này bàn về quy định người đại diện của đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án…

1. Những quy định của pháp luật về đại diện và về ủy quyền

a. Quy định pháp luật về đại diện.

Điều 139 Chương VII Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“ Điều 139. Đại diện.

1. Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

2…..

3. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.”.

Theo quy định này, người đại diện luôn nhân danh (người khác) và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Continue reading

HÒA GIẢI TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI CƠ SỞ – TỪ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐẾN THỰC TIỄN ÁP DỤNG

THS. VŨ THỊ THU HIỀN

Xuất phát từ bản chất của quan hệ lao động quan hệ thoả thuận, bình đẳng. Khi một tranh chấp lao động phát sinh, trước hết các bên phải tự thương lượng trực tiếp với nhau tại nơi phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp hai bên không tự thương lượng được hoặc một bên từ chối thương lượng thì một hoặc hai bên có quyền đưa vụ tranh chấp ra hòa giải tại cơ sở. Chỉ khi hòa giải tại cơ sở không thành (hoặc sự việc không được chủ thể có thẩm quyền hòa giải tiến hành hòa giải trong thời hạn quy định) thì các bên tranh chấp mới có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết, trừ một số tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ luật lao động (BLLĐ).

Thẩm quyền hòa giải các tranh chấp lao động tại cơ sở thuộc về Hội đồng hoà giải lao động cơ sở (Hội đồng hòa giải) hoặc Hoà giải viên lao động cấp huyện (Hòa giải viên). Điều đó tuỳ thuộc quan hệ pháp luật có tranh chấp và việc ở doanh nghiệp có tổ chức công đoàn cơ sở hay không.

Hội đồng hòa giải được thành lập trong những doanh nghiệp có công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời gồm số đại diện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử dụng lao động (khoản 1 Điều 163 BLLĐ). Hội đồng hòa giải có nhiệm vụ “giải quyết tất cả các vụ tranh chấp lao động tập thể và tranh chấp lao động cá nhân (kể cả các tranh chấp về sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bồi thường thiệt hại khi đương sự yêu cầu) xảy ra tại doanh nghiệp” (điểm 1 mục III Thông tư 10/LĐTBXH – TT ngày 25/3/1997 của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động của Hội đồng hòa giải cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan lao động quận, huyện, thành phố, thị xã, thị trấn thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).

Hòa giải viên tiến hành việc hoà giải đối với các tranh chấp lao động cá nhân xảy ra ở nơi chưa thành lập Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và chi phí dạy nghề (khoản 1 Điều 165 BLLĐ). Việc quy định Hòa giải viên có thẩm quyền hoà giải những tranh chấp lao động cá nhân ở nơi chưa thành lập Hội đồng hòa giải đảm bảo cho mọi tranh chấp lao động xảy ra tại doanh nghiệp đều được hoà giải nếu các bên có yêu cầu.

Continue reading

TRUNG MUA, TRƯNG DỤNG: KHÁI NIỆM VÀ ĐIỀU KIỆN

PGS.TS. PHAN TRUNG LÝ – Phó chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội

Kỳ họp thứ hai (tháng 11/2007) Quốc hội khoá XII đã thảo luận cho ý kiến về dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (Tác giả viết bài này trước thời điểm Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 được ban hành – Civillawinfor). Nhiều vấn đề thuộc nội dung của luật này đã được cơ quan soạn thảo trình Quốc hội. Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện dự thảo trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp tới. Luật Trưng mua, trưng dụng là văn bản pháp luật rất quan trọng.

Những quy định của luật này điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền tài sản của tổ chức và cá nhân. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến khái niệm trưng mua, trưng dụng và điều kiện trưng mua, trưng dụng cũng như việc xử lý đối với các quy định hiện hành liên quan đến vấn đề này.

1. Khái niệm trưng mua, trưng dụng

1.1 Khái niệm trưng mua, trưng dụng đã được quy định từ rất sớm trong các văn bản pháp luật nước ta. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định: “trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam, các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền: trưng dụng bất động sản; trưng thu hoặc trưng dụng động sản”[1].

Các Hiến pháp nước ta ở các thời kỳ đều quy định trưng mua, trưng dụng là một biện pháp cấp thiết để xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Continue reading

ĐẠO LUẬT THIẾU CHẾ TÀI – BÀN VỀ MỘT THÔNG LỆ XÂY DỰNG LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG -  Viện Khoa học pháp lý,  Bộ Tư pháp

1. Nhận diện một thông lệ

Thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta, trong những năm qua, công tác xây dựng pháp luật nói chung và ban hành các đạo luật nói riêng được đặc biệt tăng cường. Nếu như trước năm 1986, trong mỗi khoá Quốc hội chỉ một vài đạo luật được ban hành, thì kể từ khi đất nước tiến hành đường lối đổi mới, số lượng luật, bộ luật được Quốc hội thông qua tăng lên đáng kể. Chẳng hạn, chỉ tính riêng Quốc hội khoá X (nhiệm kỳ 1997-2002), Quốc hội đã ban hành được gần 40 luật, bộ luật. Trong khoá Quốc hội đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành được hơn 40 pháp lệnh. Quốc hội khoá XI (nhiệm kỳ 2002-2007) đã ban hành được hơn 80 luật, bộ luật (gấp đôi số lượng đạo luật được Quốc hội khoá X ban hành). Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá XI cũng ban hành được hơn 30 pháp lệnh.

Nếu rà soát kỹ các đạo luật hoặc pháp lệnh được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành trong thời gian qua, có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm cơ bản là số lượng các đạo luật có quy định các biện pháp chế tài đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định pháp luật thường chỉ được khu biệt vào một số đạo luật hoặc pháp lệnh[1]. Cụ thể:

Chế tài về dân sự (buộc bồi thường thiệt hại, buộc chấm dứt thực hiện hành vi nhất định hoặc buộc phải thực hiện những hành vi nhất định, phạt vi phạm nghĩa vụ dân sự v.v..) được tập trung quy định trong Bộ luật Dân sự[2]. Riêng chế tài dân sự đối với các hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được quy định trong Luật Thương mại[3].

Chế tài lao động (hoặc chế tài kỷ luật) được quy định tập trung trong Bộ luật Lao động năm 1994[4] với các hình thức như cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, buộc thôi việc v.v.. Riêng chế tài lao động áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước còn được quy định trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức.

Continue reading