THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

TRẦN CÔNG THỊNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Cưỡng chế kê biên tài sản (KBTS) nói riêng, thi hành án dân sự (THADS) nói chung là một trong những hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó, thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Hiệu quả của việc cưỡng chế KBTS là cơ sở, tiền đề cho sự thành công và hiệu quả của một vụ thi hành án về tài sản khi đương sự không tự nguyện thi hành. Song qua nghiên cứu về vấn đề này chúng tôi thấy rằng trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS để thi hành án gặp rất nhiều vướng mắc, nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế như: cơ chế quản lý, hoạt động THADS còn chồng chéo; sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức trong việc cưỡng chế còn chưa tốt; hay các nguyên nhân xuất phát trực tiếp từ các quy định của pháp luật về KBTS còn chưa chặt chẽ, rõ ràng hoặc còn có thiếu sót.

Qua nghiên cứu, phân tích trên chúng tôi thấy rằng: cần đổi mới cơ chế quản lý hoạt động THADS; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong thi hành án đặc biệt là trong cưỡng chế KBTS… Về mặt pháp luật, nên hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án nói chung và các quy định của pháp luật về cưỡng chế KBTS nói riêng như xây dựng và ban hành Bộ luật THADS, nghiên cứu triển khai đề án Thừa phát lại.

Ngoài ra, chúng ta phải tăng cường năng lực, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ chấp hành viên (CHV); tích cực tuyên truyền phổ biến pháp luật về thi hành án để các đương sự tự nguyện thỏa thuận thi hành và cơ quan thi hành án có thể tranh thủ được sự giúp đỡ, phối hợp của cá nhân, tổ chức hữu quan trong suốt quá trình thi hành án. Chỉ như vậy mới tạo được điều kiện thuận lợi cho KBTS và thi hành án sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG CHO VAY THẾ CHẤP DƯỚI CHUẨN Ở MỸ: BÀI HỌC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

PHẠM TOÀN THIỆN – Phòng 1217, Toà nhà Crystal, Số 2000 phố South Eads, Arlington, Virginia 22202, Hoa Kỳ

Tóm tắt. Hầu như không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra vào giữa năm 2007. Cuộc khủng hoảng này có tác động mạnh đến cả hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế thực. Các cơ quan điều tiết tài chính của Mỹ, từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Ủy ban Chứng khoán (SEC) cho tới Bộ Tài chính đều đã phải vào cuộc nhằm giải quyết khủng hoảng. Nguồn gốc ban đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ này là sự chứng khoán hoá các khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn.

Thnht, cơ chế cho vay đã bị đơn giản hoá, dựa hoàn toàn vào những đánh giá của các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm, dẫn đến nhiều khoản vay không đủ chuẩn.

Thứ hai, cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ chuẩn và không đủ chuẩn, gây ra cả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán. Kiến nghị của bài viết này là cần xem xét lại chức năng của chứng khoán hoá với tư cách là một công cụ tài chính, tránh việc đầu tư chủ yếu dựa vào đánh giá của các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm, tìm ra phương thức định giá tài sản trong điều kiện thiếu thanh khoản, tăng tính minh bạch về rủi ro ngân hàng và suy ngẫm về mô hình kinh doanh mới.

Bài viết sử dụng khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn trong hệ thống tài chính toàn cầu như một ví dụ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong các tổ chức tài chính. Cũng như Oxy, quản trị rủi ro chỉ được quan tâm khi thiếu nó. Thông thường, khi quản trị rủi ro hoạt động, chúng ta xem nhẹ nó, song khi nó ngừng hoạt động thì hệ thống “chuyển động” chậm lại và dừng hẳn…

Continue reading

QUYỀN LỢI THƯƠNG MẠI VÀ ĐẠO ĐỨC KHOA HỌC

GS.TS. NGUYỄN VĂN TUẤN

Thương mại hóa giáo dục không chỉ đơn thuần là một quá trình liên quan đến việc tổ chức và điều hành trường đại học, mà đôi khi còn mang tính biểu tượng. Trước đây, ở các đại học Úc và Anh, hiệu trưởng được gọi là “Vice Chancellor”, một chức danh xuất phát từ thời trung cổ ở Anh. Nhưng khi thương mại hóa xâm lấn đến đại học, người ta bắt đầu gắn thêm một chức danh khác: “President” (chủ tịch), bên cạnh Vice Chancellor.

Ði xa hơn biểu tượng một bước là quan niệm. Có người dựa trên nguyên lí kinh tế để lí giải rằng giáo dục là phương tiện để đạt được mục đích. Vì là phương tyện, nên giáo dục có thể là một dịch vụ, và do đó có kẻ bán và người mua. Ở nước ngoài, có thời người ta còn đề nghị gọi sinh viên là “customer” (khách hàng) và thầy cô trong đại học là “service provider” (người cung cấp dịch vụ). Thời đại nhiễu nhương đến nỗi có người xem giáo sư chỉ là người cung cấp dịch vụ! Có giáo sư (hình như là từ trường MIT) mỉa mai nói rằng, những kinh tế gia hình như họ sử dụng trí thông minh không đúng chỗ hay là tế bào trí tuệ của họ có vấn đề rối loạn chromosome.

Các trường đại học phương Tây thường thực hiện cuộc thăm dò ý kiến của sinh viên và giáo sư. Kết quả thăm dò cho thấy sinh viên nhất định không chịu gọi là “khách hàng” và giáo sư lại càng không chịu khi gọi họ là người cung cấp dịch vụ. Thế là mấy cụm từ “khách hàng” và “người cung cấp dịch vụ” bị loại bỏ khỏi ngữ vựng giáo dục đại học.

Giáo dục là một lĩnh vực rất đặc thù trong xã hội, một lĩnh vực rất khác với thương mại và các cơ sở công quyền. Ðại học là những trung tâm khoa học và văn hóa của một quốc gia, là nơi để khám phá khoa học, quảng bá văn hóa, và phản biện xã hội. Vai trò của người thầy hay cô không phải là người bán hàng ở siêu thị, hay là người làm hài lòng khách hàng; trong giáo dục đại học, vai trò của thầy/cô là thách thức và kích thích suy nghĩ của sinh viên, cung cấp những định hướng về nghiên cứu. Do đó, thước đo về thành công là sự trưởng thành về tri thức, chứ không phải là sự hài lòng của khách hàng.

Continue reading

Truyền thống pháp điển hóa QUA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH LỘC

Hiện nay, khi Chương trình xây dựng pháp luật của mỗi nhiệm kỳ Quốc hội đã là con số gồm 3 chữ số, vấn đề bảo đảm tính đồng bộ giữa số lượng và chất lượng văn bản luật được ban hành phải được đặt ra nghiêm túc. Một trong những hướng nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, nâng cao hiệu quả của từng văn bản luật được ban hành là tăng số lượng các bộ luật có tính chuyên ngành về từng lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước đưa các bộ luật này trở thành hình thức văn bản chủ yếu của hệ thống pháp luật nước nhà. Với tinh thần đó, điều quan trọng là phải thấy được quá trình ra đời, phát triển, trở thành truyền thống của hoạt động pháp điển hóa pháp luật trong lịch sử xã hội Việt Nam.

1. Hình thư đời Lý – Bộ luật pháp điển hóa đầu tiên của Việt Nam

1.1. Xã hội Việt Nam trong suốt một giai đoạn dài hơn mười thế kỷ đã rơi vào nạn Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Hán đến Đường lần lượt chiếm đoạt, nô dịch đất nước và con người Việt Nam. Năm 938, khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam mới bắt đầu thời kỳ độc lập lâu dài.

Ngô, Đinh, Lê là ba triều đại độc lập, tự chủ đầu tiên, nhưng chỉ tồn tại được trong thời gian rất ngắn: nhà Ngô 5 năm (939-944); nhà Đinh 12 năm (968-980); còn nhà Tiền Lê là 19 năm (981-1009). Tuy về công việc lập pháp chưa làm được gì nhiều, nhưng chắc chắn trong việc điều hành, quản lý xã hội, các triều đại này cũng đã dùng đến pháp luật, nhưng đó chủ yếu chỉ là những quy định có tính nhất thời, tình thế.

1.2. Hình thư đời Lý – Bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, đã mở ra thời kỳ trở thành truyền thống pháp điển hóa pháp luật Việt Nam.

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý (1009-1225). “Sang đời Lý, nhất là trong khoảng thế kỷ XI, công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập”[1]. Chính quyền trung ương tập quyền được củng cố; kinh tế phát triển, địa vị của nước Đại Việt so với các quốc gia láng giềng được nâng cao; hoạt động lập pháp của triều Lý bắt đầu được đẩy mạnh.

Continue reading

TRUYỀN THỐNG PHÁP ĐIỂN HÓA QUA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH LỘC

Hiện nay, khi Chương trình xây dựng pháp luật của mỗi nhiệm kỳ Quốc hội đã là con số gồm 3 chữ số, vấn đề bảo đảm tính đồng bộ giữa số lượng và chất lượng văn bản luật được ban hành phải được đặt ra nghiêm túc. Một trong những hướng nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, nâng cao hiệu quả của từng văn bản luật được ban hành là tăng số lượng các bộ luật có tính chuyên ngành về từng lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước đưa các bộ luật này trở thành hình thức văn bản chủ yếu của hệ thống pháp luật nước nhà. Với tinh thần đó, điều quan trọng là phải thấy được quá trình ra đời, phát triển, trở thành truyền thống của hoạt động pháp điển hóa pháp luật trong lịch sử xã hội Việt Nam.

1. Hình thư đời Lý – Bộ luật pháp điển hóa đầu tiên của Việt Nam

1.1. Xã hội Việt Nam trong suốt một giai đoạn dài hơn mười thế kỷ đã rơi vào nạn Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Hán đến Đường lần lượt chiếm đoạt, nô dịch đất nước và con người Việt Nam. Năm 938, khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam mới bắt đầu thời kỳ độc lập lâu dài.

Ngô, Đinh, Lê là ba triều đại độc lập, tự chủ đầu tiên, nhưng chỉ tồn tại được trong thời gian rất ngắn: nhà Ngô 5 năm (939-944); nhà Đinh 12 năm (968-980); còn nhà Tiền Lê là 19 năm (981-1009). Tuy về công việc lập pháp chưa làm được gì nhiều, nhưng chắc chắn trong việc điều hành, quản lý xã hội, các triều đại này cũng đã dùng đến pháp luật, nhưng đó chủ yếu chỉ là những quy định có tính nhất thời, tình thế.

1.2. Hình thư đời Lý – Bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, đã mở ra thời kỳ trở thành truyền thống pháp điển hóa pháp luật Việt Nam.

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý (1009-1225). “Sang đời Lý, nhất là trong khoảng thế kỷ XI, công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập”[1]. Chính quyền trung ương tập quyền được củng cố; kinh tế phát triển, địa vị của nước Đại Việt so với các quốc gia láng giềng được nâng cao; hoạt động lập pháp của triều Lý bắt đầu được đẩy mạnh.

Continue reading