CÔNG VĂN SỐ 124/BXD-KHCN NGÀY 29 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ MỞ CỬA SỔ SANG ĐẤT LIỀN KỀ

Kính gửi:

Sở Xây dựng Cần Thơ

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 192/SXD – QLXD ngày 13/3/2010 của Sở xây dựng Cần Thơ về việc trổ cửa sổ, cửa đi đối với hộ liền kề. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Về quan hệ với công trình bên cạnh và các yêu cầu kỹ thuật đối với công trình xây dựng được quy định tại điều 2.8.12 và điều 2.8.13 của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01: 2008/BXD.

Để đảm bảo các điều kiện thông thoáng và vi khí hậu trong nhà ở nên các yêu cầu hạn chế về mở cửa sổ, của đi không được quy định trong Quy chuẩn này. Tuy nhiên việc mở cửa sổ, cửa đi phải có giải pháp phù hợp sao cho tránh tia nhìn trực tiếp vào bên trong nhà bên cạnh và ảnh hưởng đến sinh hoạt riêng tư của hộ liền kề.

Trên đây là ý kiến trả lời của Bộ Xây dựng.

TL. BỘ TRƯỞNG
KT.VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC CN&MT
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Trần Hữu Hà

TRÍCH DẪN điều 2.8.12 và điều 2.8.13 của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01: 2008/BXD

2.8. 12. Quan hệ với các công trình bên cạnh:

Công trình không được vi phạm ranh giới:

– Không bộ phận nào của ngôi nhà kể cả thiết bị, đường ống, phần ngầm dưới đất (móng, đường ống), được vượt quá ranh giới với lô đất bên cạnh;

– Không được xả nước mưa, nước thải các loại (kể cả nước ngưng tụ của máy lạnh), khí bụi, khí thải sang nhà bên cạnh.

2.8.13. Các yêu cầu kỹ thuật khác đối với công trình xây dựng:

– Miệng xả ống khói, ống thông hơi không được hướng ra đường phố.

– Máy điều hòa nhiệt độ không khí nếu đặt ở mặt tiền, sát chỉ giới đường đỏ phải ở độ cao trên 2,7m và không được xả nước ngưng trực tiếp lên mặt hè, đường phố.

– Biển quảng cáo đặt ở mặt tiền ngôi nhà, không được sử dụng các vật liệu có độ phản quang lớn hơn 70%.

– Ở mặt tiền các ngôi nhà dọc các đường phố không được bố trí sân phơi quần áo.

– Hàng rào phải có hình thức kiến trúc thoáng, mỹ quan và thống nhất theo quy định của từng khu vực, trừ những trường hợp có nhu cầu bảo vệ, ngăn cách với đường phố (cơ quan cần bảo vệ, trường học, trạm biến thế điện…).

CIVILLAWINFOR

Có thể tải toàn văn Qui chuẩn số 01. 2008 TẠI ĐÂY

VỀ VIỆC HỌC VÀ DẠY NGOẠI NGỮ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGỮ

PHẠM THU NGUYỆT & TRỊNH THÚY HOA

Trong quá trình học đại học, cùng với các kiến thức về chuyên môn, ngoại ngữ cũng rất cần được trang bị. Trình độ chuyên môn tốt, vốn ngoại ngữ khá sẽ là tiền đề cho những người đã tốt nghiệp đại học hoàn thành tốt nhiệm vụ khi ra công tác. Qua điều tra ở một số trường đại học, tác giả đưa ra một số đánh giá và kiến nghị mà theo chúng tôi đây là những vấn đề cần được quan tâm.

Trong bối cảnh hiện nay, ngoại ngữ đã trở thành công cụ không thể thiếu để giao lưu, phát triển kinh tế – xã hội. Để sinh viên các trường đại học sau khi tốt nghiệp phát huy được vốn ngoại ngữ đã học được trong trường, có nhiều vấn đề chúng ta cần phải quan tâm. Bằng biện pháp thăm dò thông qua phiếu điều tra đối với sinh viên của một số trường đại học không chuyên ngữ ở Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra một vài đánh giá và kiến nghị.

Về số giờ lên lớp của sinh viên

Ngoại ngữ trong các trường đại học không chuyên ngữ được quy định là môn học bắt buộc. Trước năm 2000, số giờ áp dụng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là 450 tiết học, trong đó, sinh viên được học 400 tiết ngoại ngữ cơ bản, 50 tiết ngoại ngữ chuyên ngành. Từ năm 2000-2003, số giờ học giảm xuống còn 350 tiết. Nhưng theo quy chế hiện nay của Bộ GD&ĐT, số giờ học ngoại ngữ ở các trường đại học không chuyên ngữ chỉ có 150 tiết (tức là 10 đơn vị học trình) dành cho kiến thức chung; một số ít trường cho phép học thêm từ 3 đến 5 đơn vị học trình cho ngoại ngữ chuyên ngành. Môn học này được bố trí trong một năm học (năm thứ nhất hoặc năm thứ hai), kết thúc chương trình, học sinh không học môn này nữa. Tuy vậy, vẫn có một số trường tổ chức một số lớp nâng cao, nhưng chủ yếu là áp dụng cho tiếng Anh. Với thời lượng 150 tiết, các bộ môn ngoại ngữ bắt buộc phải điều chỉnh và xây dựng chương trình giảng dạy của mình sao cho phù hợp. Do vậy, mục tiêu đặt ra chỉ là biết đọc và biết viết những câu đơn giản sau khi hết chương trình.

Ngoại ngữ đã được quy định là môn học bắt buộc, tuy nhiên trong tình hình hiện nay, đa số sinh viên của một số địa phương khi tốt nghiệp phổ thông trung học có trình độ ngoại ngữ còn rất yếu. Khi được hỏi, 61% số sinh viên cho rằng, nếu học ít hơn 350 tiết thì không đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu của nơi thu nhận vào làm việc. Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn nhận thức được vai trò của việc học tập môn này và càng quan trọng hơn với những sinh viên không hề được học ngoại ngữ ở chương trình phổ thông trung học.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: GIẢ MẠO “HÌNH THỨC” HAY GIẢ MẠO “NỘI DUNG”

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

Vụ việc

Ông NK (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), thành lập cơ sở sản xuất nước mắm. Do sinh sau đẻ muộn, lại không có tên tuổi nên cơ sở ít có khách hàng. Thấy mọi người thích các nhãn hiệu phổ biến như Tám Phú, Bốn Phương, Phú Quốc – Thanh Châu…, ông đã thu mua vỏ chai cũ của các cơ sở này về làm sạch rồi bơm nước mắm của mình vào để đem bán. Được một thời gian, ông mua chai mới, in nhãn hàng mới có các dấu hiệu, hình thức hệt như sản phẩm của các cơ sở trên để làm thành các chai nước mắm thành phẩm loại 1 lít và 1/2 lít.

Công an phát hiện ra các hành vi trên. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất lượng nước mắm do cơ sở của ông K sản xuất. Kết quả giám định ghi nhận: “Sản phẩm không có lạc khuẩn, giới hạn phát hiện nhỏ hơn 0,03 ml, nồng độ đạm ghi trên nhãn mác đúng với độ đạm được xác định ở nước mắm trong chai. Tức là nước mắm của cơ sở ông K hoàn toàn không gây hại đến sức khỏe của người tiêu dùng và đảm bảo như tiêu chuẩn cơ sở đã công bố. Từ lúc bắt đầu thực hiện cho đến khi bị phát hiện, cơ sở của ông NK đã sản xuất khoảng 5.000 lít nước mắm, thu lợi nhuận khoảng 3 triệu đồng.

Tháng 2.2008, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã ra quyết định truy tố ông NK về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Tháng 3.2008, Tòa án nhân dân huyện mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử bị cáo NK về tội danh này. Xét thấy hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn, chất lượng nước mắm do cơ sở của bị cáo sản xuất tương đương với chất lượng nước mắm của các cơ sở mà bị cáo đã làm giả nên Tòa tuyên phạt bị cáo K 2 năm tù . Ông NK đã kháng cáo.

(Nguồn: Báo Pháp luật online – thành phố Hồ Chí Minh, ngày 9.5.2008)

Lời bình

1. Hành vi của ông NK là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm (giả về nội dung hàng hoá) quy định tại khoản 1 Điều 157 hay là hành vi xâm phạm quyền, sản xuất buôn bán hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (giả về hình thức hàng hoá) quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự?

Continue reading

CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

MICHAEL WATTS

Nếu các thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả, tại sao lại để cho chính phủ nhúng tay vào hoạt động của họ? Tại sao họ không áp dụng một chính sách gọi là laissez-faire (chính sách để mặc tư nhân tự kinh doanh – thị trường tự do) và cho phép các thị trường tư nhân hoạt động không chịu bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước? Có một vài lý do mà các nhà kinh tế và các nhà quan sát xã hội khác đã xác định có thể được minh họa với một vài ví dụ dưới đây. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, vai trò của chính phủ không phải là thay thế thị trường, mà là cải thiện các chức năng của nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, bất cứ quyết định nào nhằm quy định hoặc can thiệp vào hoạt động của các lực lượng thị trường (cung và cầu) đều phải được cân nhắc cẩn thận giữa cái hại do các quy định đó đưa ra với lợi ích mà các can thiệp đó đem lại.

Quốc phòng và hàng hóa công cộng

Quốc phòng là một ví dụ về vai trò không thể loại bỏ được của chính phủ. Tại sao? Bởi vì việc phòng thủ cho một quốc gia là một dạng hàng hóa hoàn toàn khác biệt so với cam, máy vi tính hay nhà ở: con người không thể thanh toán cho từng đơn vị hàng hóa mà họ sử dụng mà phải mua một tổng thể cho toàn bộ quốc gia. Cung cấp dịch vụ quốc phòng cho một cá nhân không có nghĩa là những người khác ít được bảo vệ hơn, bởi vì trên thực tế tất cả mọi người đều tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng này cùng nhau. Trên thực tế thì dịch vụ quốc phòng được cung cấp cho tất cả dân chúng trong một quốc gia kể cả những người không muốn dịch vụ này, bởi vì không có một cách làm hiệu quả nào khác. Chỉ có các quốc gia chứ không phải là các làng xã hay các cá nhân có thể có đủ nguồn lực để sản xuất máy bay chiến đấu phản lực.

Loại hình hàng hóa này gọi là hàng hóa công cộng, bởi vì không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán dịch vụ quốc phòng cho các công dân của một quốc gia mà vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh. Nó chỉ đơn giản là không thể bán dịch vụ quốc phòng cho những người cần và không bảo vệ những người từ chối thanh toán dịch vụ đó. Và nếu những người này vẫn được bảo vệ mà không phải trả tiền thì tại sao họ phải chọn cách thanh toán? Điều này được coi là vấn đề "kẻ ăn không", và đó là lý do chính giải thích vì sao chính phủ phải điều hành quốc phòng và dùng thuế để chi cho quốc phòng.

Continue reading

TÌM HIỂU CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

LS. VŨ HƯƠNG THẢO

Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu. Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định chung. Trong bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) cũng đã có một mục quy định về Hợp đồng bảo hiểm và coi đây là một loại hợp đồng thông dụng. Tuy nhiên, trong Luật KDBH và Bộ luật dân sự có những quy định về hợp đồng bảo hiểm là chưa thống nhất và còn một số bất cập.

Cụ thể:

1.Chế định Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH có những quan điểm đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo hiểm hơn so với Bộ luật dân sự.

Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Định nghĩa này có độ chênh so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Qua hai định nghĩa này có thể thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm, Bộ luật dân sự không quy định về người thụ hưởng mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm.

Đi sâu tìm hiểu có thể thấy từ quan điểm khác nhau về đối tượng bảo hiểm dẫn đến định nghĩa khác nhau, và các quy định cụ thể về trả tiền bảo hiểm cũng khác nhau. Điều 578 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau về bảo hiểm tính mạng: "Trong trường hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết, thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm".

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM

TS. NGUYỄN VĂN THÀNH – Cục quản lý – Giám sát bảo hiểm – Bộ tài chính

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi thực hiện công tác quản lý bảo hiểm chặt chẽ, việc định phí bảo hiểm cũng như các yếu tố thị trường khác được quản lý thận trọng, do đó khả năng phá sản của công ty bảo hiểm là khá nhỏ. Như vậy đặt ra vấn đề là có cần thiết phải xây dựng cơ chế đặc thù bảo vệ người tham gia bảo hiểm (NTGBH) tại những nước đang phát triển như Việt Nam hay không?

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đang có những sự thay đổi rộng khắp trên thế giới, tạo ra nhiều thách thức đối với khách hàng, công ty bảo hiểm và cơ quan quản lý bảo hiểm các nước. Công ty bảo hiểm thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một cao của người NTGBH, đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Một mặt, các công ty bảo hiểm tăng cường hiệu quả kinh doanh thông qua việc tái cấu trúc hoạt động và tập trung vào những sản phẩm bảo hiểm mũi nhọn. Mặt khác, các công ty này cũng chịu những rủi ro về tài chính, nhiều khi tạo sự bất ổn về tâm lý đối với khách hàng và cơ quan quản lý bảo hiểm.

NTGBH là chủ nợ của công ty bảo hiểm. Một chủ nợ thông thường cho vay sau khi đã kiểm tra độ tin cậy của người vay và chịu mọi trách nhiệm về quyết định cho vay. Trong khi đó, NTGBH lại phải gánh chịu những thông tin không đối xứng như không có khả năng kiểm tra độ tin cậy về tài chính của công ty bảo hiểm cũng như gặp khó khăn để có thể hiểu rõ được nội dung của một hợp đồng bảo hiểm. Xác định bảo hiểm là một sản phẩm cung cấp quyền lợi về tài chính trong tương lai và gắn liền với lợi ích của người dân, chính phủ các nước đều tiến hành giám sát chặt chẽ khả năng tài chính của công ty bảo hiểm, nhằm khắc phục tình trạng đề cập ở trên.

Trong thị trường cạnh tranh, việc một công ty bảo hiểm phá sản là không thể tránh khỏi. Vì vậy, mỗi chính phủ đều phải xác định liệu họ có thể hỗ trợ NTGBH đến mức độ nào khi một công ty bảo hiểm bị phá sản.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TS. NGUYỄN NGỌC BẢO

Khủng hoảng tài chính bùng nổ tháng 9/2008 từ nước Mỹ, nguyên nhân sâu xa là sự tích tụ các mâu thuẫn và mất cân đối nội tại của nền kinh tế Mỹ trong quá trình phát triển. Khủng hoảng tài chính đã lan nhanh và tác động làm suy thoái kinh tế thế giới. Chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế chung tay giải cứu thị trường tài chính, thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế mà chính sách tài khoá đóng vai trò là cơ bản, chính sách tiền tệ hỗ trợ.

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta trong năm 2009. Tuy nhiên, việc thực hiện kịp thời các giải pháp kinh tế, nền kinh tế nước ta đã vượt qua khủng hoảng, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao (5,32%), kiểm soát lạm phát ở mức thấp (6,52%), các cân đối kinh tế lớn về cơ bản được giữ vững, hệ thống tài chính ngân hàng duy trì và tiếp tục phát triển. Kết quả này có sự đóng góp tích cực của việc thực thi chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng, thận trọng. Trong năm 2010 và những năm tiếp theo – thời kỳ hậu suy giảm kinh tế, kinh tế nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước; việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp chính sách kinh tế có ý nghĩa quan trọng và cần thiết.

1. Vấn đề tăng trưởng kinh tế theo mô hình tổng cung – tổng cầu

1.1. Theo mô hình tổng cung – tổng cầu, thì chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nếu sử dụng trong dài hạn thì không làm tăng trưởng kinh tế mà tác động làm tăng lạm phát: (Hình 1)

Hình 1: Mô hình tổng cung, tổng cầu

clip_image002

Trong đó:

Continue reading

CẦN TÔN TRỌNG NGHỊ QUYẾT 71/2006/NQ-QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11 VỀ PHÊ CHUẨN VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã thoả hiệp nhiều vấn đề với các bên đàm phán. Trong đó, đoạn 502 và 503, Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Báo cáo của Ban công tác) quy định: các liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ và các liên doanh đã thành lập trước ngày Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực có quyền thoả thuận trong điều lệ liên doanh tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%.

Để thực thi cam kết này, ngày 29/11/2006, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11  (Nghị quyết 71) phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO, theo đó các cam kết WTO được áp dụng trực tiếp. Liên quan đến Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71 (Phần Phụ lục) quy định: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:

-Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông là 65% (Điều 52 và 104). Điều này mâu thuẫn với cam kết WTO của Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế". Theo điều khoản trên, những quy định tại Nghị quyết 71 đã phải được thực hiện kể từ khi Nghị quyết này có hiệu lực. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn để thực hiện những quy định nêu trên của Nghị quyết 71.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 09/2010/TT-NHNN NGÀY 26 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động ngân hàng thương mại;
Theo đề nghị của Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng,

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần (gọi tắt là ngân hàng).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Ngân hàng quy định tại Điều 1 Thông tư này.

2. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cấp Giấy phép.

Điều 3. Thẩm quyền cấp Giấy phép

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định cấp Giấy phép theo các quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan.

Continue reading

BÁO CÁO ÁN, DUYỆT ÁN: LỢI BẤT CẬP HẠI

THÁI PHẠM

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng là Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hoàn toàn không quy định việc báo cáo án, duyệt án. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử thì việc báo cáo án, duyệt án trước khi xét xử đã trở thành một thông lệ của các Tòa án địa phương.

Hiện nay, rất nhiều Tòa án (nhất là Tòa án cấp huyện), việc báo cáo án và duyệt án trước khi xét xử là công việc phải tiến hành đối với tất cả vụ án. Điều đó cho thấy, việc báo cáo án, duyệt án đã được các Tòa án mặc nhiên coi như một thủ tục bắt buộc trong khi pháp luật tố tụng không quy định thủ tục này. Thông thường hàng tháng, sau khi có lịch xét xử thì Tòa án tổ chức các buổi họp thường gọi là họp đường lối(có khi mất một vài ngày, tùy thuộc số lượng vụ án chuẩn bị xét xử) để các Thẩm phán báo cáo án và lãnh đạo Tòa án duyệt án. Thành phần, gồm lãnh đạo Tòa án và các Thẩm phán, có nơi còn có sự tham gia của các Thư ký Tòa án. Về trình tự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa báo cáo nội dung vụ án và đề xuất hướng giải quyết, sau đó tập thể Thẩm phán và lãnh đạo Tòa án tiến hành thảo luận, nếu không thống nhất được quan điểm về hướng giải quyết theo đề xuất của Thẩm phán thì hầu như phải theo quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án. Với hướng giải quyết vụ án đã được duyệt thì Thẩm phán không thể nào làm khác. Thực tế đã có nhiều thẩm phán “vượt rào” xử khác so với đường lối chỉ đạo khi duyệt án nên bị lãnh đạo phê phán.

Vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật tố tụng không quy định việc báo cáo án, duyệt án nhưng thực tế hầu hết các Tòa án lại thực hiện “thủ tục bắt buộc” này đối với tất cả các vụ án? Phải chăng pháp luật tố tụng không phù hợp, chưa theo kịp  thực tiễn tố tụng? Cần loại trừ nguyên nhân này, vì nếu đây là một thủ tục phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn thì tại sao lãnh đạo Tòa án các cấp đều không thừa nhận thực trạng này? Vậy thủ tục này mặc nhiên tồn tại là có hai nguyên nhân.

Continue reading

CẦM SỚM CHẤM DỨT KHOÁN TRẮNG, LÀM THAY TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THÁI PHẠM

Hoạt động tố tụng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, quyền tự do, tài sản, danh dự, nhân phẩm, sinh mệnh chính trị của các cá nhân; quyền về tài sản, danh dự, uy tín của các cơ quan, tổ chức mà còn góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ công lý, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Xuất phát từ tầm quan trọng đó mà Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân cũng như Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đã quy định cụ thể các điều kiện về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, thời gian và năng lực công tác để được bổ nhiệm, bầu (hội thẩm) vào các chức danh tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng quy định rất cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, từng chức danh tiến hành tố tụng. Mỗi cơ quan, mỗi chức danh tố tụng chỉ được phép thực hiện các hoạt động tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình mà pháp luật quy định. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ quan trọng của từng hoạt động tố tụng mà pháp luật quy định giao quyền và nghĩa vụ cho chức danh tố tụng nào thực hiện. Nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tố tụng luôn gắn liền với mỗi cá nhân theo một chức danh tố tụng nhất định, không có quy định nào cho phép ủy quyền lại hoặc khoán trắng cho người khác làm thay. Tuy nhiên trên thực tế, tại nhiều địa phương việc khoán trắng, làm thaytrong hoạt động tố tụng lại xảy ra khá phổ biến.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) thì việc lấy lời khai của đương sự và việc hòa giải là hai hoạt động tố tụng công khai trước đương sự, thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của thẩm phán. Nhưng hiện nay, tại nhiều tòa án thì hai hoạt động tố tụng này lại được các thư ký tòa án nghiễm nhiên thực hiện thay cho thẩm phán. Những hoạt động tố tụng công khai trước đương sự nhưng vẫn làm thay được như vậy, thì đối với các hoạt động tố tụng khác, không có mặt đương sự sẽ được làm thay phổ biến hơn. Thực tế tại nhiều tòa án địa phương, thư ký tòa án không chỉ làm thay thẩm phán một vài hoạt động tố tụng mà còn được thẩm phán khoán trắng trong cả quá trình giải quyết vụ án (trừ việc xét xử tại phiên tòa):

Continue reading

PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI VÀ MỤC ĐÍCH KÍCH CẦU

TS. PHẠM SĨ LIÊM – Viện nghiên cứu đô thị và hạ tầng

Bộ xây dựng đang chủ trì thực hiện đề án phát triển nhà ở xã hội. Đây là hy vọng mới cho những người có thu nhập thấp, đồng thời là trách nhiệm lớn của nhiều cơ quan, doanh nghiệp.

Thế nào là nhà ở xã hội?

Đối tượng phục vụ của chính sách Nhà ở xã hội là những người thu nhập thấp, tuy có thu nhập ổn định nhưng sau khi trang trải các nhu cầu cuộc sống thì chỉ dành dụm được chút ít, khó tích lũy đủ mua nhà hoặc thuê nhà hợp vệ sinh. Theo Bộ Xây dựng thì khả năng tích lũy tối đa của công chức để chi cho nhà ở chỉ khoảng 11,5% tổng thu nhập, một tỷ lệ quá thấp. Chính vì vậy mà Điều 53 Luật Nhà ở quy định đối tượng được thuê nhà ở xã hội là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, với điều kiện chưa sở hữu nhà ở hay thuê nhà ở của nhà nước; hoặc có nhà ở của mình nhưng diện tích bình quân dưới 5m2. Trước mắt, đến năm 2015, Bộ Xây dựng đề nghị tập trung ưu tiên các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công nhân độc thân tại các khu công nghiệp và sinh viên, học sinh.

Nhà ở xã hội bao gồm: Nhà ở cho thuê do Nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư; Nhà ở cho thuê mua cũng do Nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư; Nhà ở giá thấp (không quá 7 triệu đồng/m2) do các thành phần kinh tế đầu tư để bán trả tiền ngay hoặc trả dần cho các đối tượng ưu tiên và các đối tượng khác do UBND cấp tỉnh quy định.

Cơ chế tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các loại nhà ở nói trên bao gồm: Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất trong dự án lên bằng 1,5 lần so với quy chuẩn nhà nước; Thuế giá trị gia tăng bằng không, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm (miễn 50% trong 9 năm tiếp theo, miễn 90% trong thời gian còn lại), miễn thuế sử dụng đất 3 năm kể từ khi giao đất; Được chính quyền cho vay vốn ưu đãi hoặc bù lãi suất; Được hưởng tỷ lệ lãi suất định mức bằng 10% tổng mức đầu tư dự án; Một số trợ giúp khác, chẳng hạn được chỉ định thầu.

Continue reading

SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀNG VÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

HỒ VIẾT TIẾN – Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam, nói đến đầu tư là người ta thường nghĩ đến vàng, đô-la, nhà đất và chứng khoán. Đầu tư đô-la thực chất chỉ là vì lo sợ trước yếu tố lạm phát của đồng tiền Việt Nam, nên hiện nay, khi lạm phát giảm đáng kể, đầu tư vào đô-la rõ ràng là kém hiệu quả. Bên cạnh đó, chưa có cơ quan nào thống kê được biến động chính xác giá nhà đất. Chỉ có vàng và chứng khoán là có thể so sánh được. Mặt khác, thời gian vừa qua chứng kiến những biến động đáng kể của thị trường chứng khoán, đồng thời gần đây giá vàng biến động chưa từng thấy trong vòng 10 năm nay. Chính vì thế, nhiều nhà đầu tư bắt đầu tính toán so sánh giữa sở hữu vàng và đầu tư cổ phiếu. Bài viết này so sánh lợi nhuận và rủi ro của 2 loại hình đầu tư đó.

Trong bài này, chúng tôi phân tích so sánh hiệu quả đầu tư vàng và đầu tư cổ phiếu. Giá vàng lấy từ trang web của Tổng cục Thống kê và Niêm giám Thống kê các năm 2000 và 2001, giá cổ phiếu căn cứ vào chỉ số VN-Index, có nguồn từ các trang web của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. HCM và các công ty chứng khoán. Số liệu lấy theo tháng (ngày cuối tháng) và tính từ 31/7/2000 đến 30/04/2007. Tổng cộng có 82 tháng. Kết quả như sau :

1. Đầu tư cổ phiếu lời hơn nhưng có điều kiện

Đồ thị 1 mô tả mức tăng giá của vàng và cổ phiếu (không tính cổ tức) trong 6 năm 9 tháng. Tính trung bình, sau gần 7 năm, vàng tăng được 160,1%, tương đương với 15,2%/năm. Như vậy, rõ ràng, vàng đem lại lợi nhuận cao hơn cả lãi suất tiết kiệm cũng như trái phiếu. Trong khi đó, giá chứng khoán tăng 809,8%, tương đương với mức tăng 38,7%/năm. Như vậy, về dài hạn, đầu tư cổ phiếu mang lại lợi nhuận gấp hơn 2 lần đầu tư vàng.

Đồ thị 1 : Mức tăng giá cổ phiếu và vàng giai đoạn 7/2000 – 4/2007

Continue reading

AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ THƯƠNG MẠI: KẺ THẮNG, NGƯỜI THUA TRONG THẾ GIỚI KHÔNG HÀI HOÀ

JOHN S. WILSON VÀ TSUNCHIRO OTSUKI – Ngân hàng Thế giới

An toàn thực phẩm hiện là vấn đề nóng trong buôn bán các sản phẩm nông nghiệp. Các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm được xây dựng như thế nào để hạn chế những ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển là vấn đề luôn được quan tâm, nghiên cứu. Các chuyên gia đã xem đây là một cuộc chiến mà kẻ thắng và người thua đều đến từ “một thế giới không hài hòa”.

Bài viết này đề cập đến những tác động đối với việc xuất khẩu nông sản của các nước (đặc biệt là các nước đang phát triển) khi Uỷ ban châu Âu (EC) quy định tiêu chuẩn Aflatoxin chặt chẽ hơn tiêu chuẩn Codex (được WTO thừa nhận là tiêu chuẩn quốc tế).

Một đòi hỏi khách quan là cần có sự hiểu biết một cách chính xác hơn về các quy định an toàn thực phẩm ảnh hưởng thế nào đến thương mại và ở phạm vi rộng hơn, trong việc đối phó với các thách thức nhằm tuân thủ Hiệp định về áp dụng biện pháp kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS) của WTO. Hiệp định SPS đưa ra các hướng dẫn mà theo đó, các tiêu chuẩn sản phẩm nông nghiệp phải xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và không có sự phân biệt đối xử hay cản trở thương mại một cách tuỳ tiện. Các nguyên tắc của WTO cho phép các nước thành viên đưa ra các tiêu chuẩn quốc gia ở bất cứ mức nào mà họ cho là phù hợp, mặc dù các nước đều được khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hiện có. Các nguyên tắc của WTO cho rằng, hài hoà và tương đương là phương pháp được ưu tiên để đảm bảo không phân biệt đối xử. Hệ thống các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm không đồng bộ là trái với cả hai nguyên tắc trên của WTO và kém hiệu quả kinh tế, gây chi phí giao dịch cao cho nhà xuất khẩu và người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù số liệu trong bài viết này còn hạn chế, song cũng cho thấy là phần lớn các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi hệ thống tiêu chuẩn chưa đồng bộ này, theo đó các doanh nghiệp của các nước này phải đối mặt với các tiêu chuẩn khác nhau tại các thị trường xuất khẩu đa dạng.

Continue reading

Bài học về thương mại và môi trường NHÌN TỪ MỘT VỤ KIỆN TRONG WTO

VĂN PHÒNG TBT VIỆT NAM (tổng hợp)

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ rất thú vị về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Đó là vụ kiện tôm – rùa biển do Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra chống lại Hoa Kỳ. Kết luận của vụ kiện là bài học quý cho tất cả các nước thành viên WTO trong hoạt động xuất/nhập khẩu liên quan đến lĩnh vực thương mại và môi trường.

Mục tiêu là bảo vệ động vật quý hiếm hay là sự phân biệt đối xử?

Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển.

Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này, trừ khi Tổng thống Hoa Kỳ chứng nhận mỗi năm trước Thượng nghị viện là việc đánh bắt tôm tại nước liên quan thoả mãn các quy định về bảo vệ rùa biển. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Dân sự Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong hai năm 1991 và 1993, một số quy định được đưa ra nhằm thi hành Điều 609 nêu trên. Theo các quy định này, Điều 609 chỉ được áp dụng cho các nước vùng Caribê và Tây Atlantic. Tháng 4.1996, các quy định này đã được áp dụng cho tất cả các loài tôm được đánh bắt trên toàn thế giới.

Continue reading

BÀI HỌC VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG NHÌN TỪ MỘT VỤ KIỆN TRONG WTO

VĂN PHÒNG TBT VIỆT NAM (tổng hợp)

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ rất thú vị về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Đó là vụ kiện tôm – rùa biển do Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra chống lại Hoa Kỳ. Kết luận của vụ kiện là bài học quý cho tất cả các nước thành viên WTO trong hoạt động xuất/nhập khẩu liên quan đến lĩnh vực thương mại và môi trường.

Mục tiêu là bảo vệ động vật quý hiếm hay là sự phân biệt đối xử?

Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển.

Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này, trừ khi Tổng thống Hoa Kỳ chứng nhận mỗi năm trước Thượng nghị viện là việc đánh bắt tôm tại nước liên quan thoả mãn các quy định về bảo vệ rùa biển. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Dân sự Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong hai năm 1991 và 1993, một số quy định được đưa ra nhằm thi hành Điều 609 nêu trên. Theo các quy định này, Điều 609 chỉ được áp dụng cho các nước vùng Caribê và Tây Atlantic. Tháng 4.1996, các quy định này đã được áp dụng cho tất cả các loài tôm được đánh bắt trên toàn thế giới.

Continue reading

HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ: RỐI KHI CHIA DI SẢN

HỒNG TÚ

Để giải quyết tranh chấp di sản sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, TAND Tối cao hướng dẫn các tòa thụ lý yêu cầu phân chia theo dạng chia tài sản chung… Thực tế áp dụng vẫn phát sinh vướng mắc. Nhiều chuyên gia cho rằng nên bỏ hẳn hướng dẫn này vì vô hiệu hóa thời hiệu khởi kiện.

Theo quy định, thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, tức sau thời hạn này, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện và có tranh chấp thì tòa cũng không xem xét.

Một bên không thừa nhận, tòa bó tay

Vì nhiều lý do, không ít vụ tranh chấp di sản thừa kế chỉ phát sinh sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện. Vì thế, ngày 10-8-2004, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết 02 (hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình). Theo đó, khi hết thời hiệu khởi kiện thừa kế mà các đồng thừa kế có yêu cầu nhờ tòa chia giúp khối di sản thì tòa vẫn thụ lý, giải quyết nếu các đồng thừa kế có văn bản cam kết di sản là tài sản chung chưa chia, không có tranh chấp về hàng thừa kế và nhờ tòa phân chia giúp.

Thực tiễn đã có không ít trường hợp được giải quyết êm xuôi nhờ Nghị quyết 02. Nhưng ngược lại, hiện cũng đang có rất nhiều vụ việc bị ách tắc chỉ vì một nguyên nhân đơn giản: Một bên đương sự (thông thường là người quản lý, chiếm hữu di sản) không chịu thừa nhận đó là tài sản chung và không yêu cầu tòa phân chia giúp.

Chẳng hạn như trường hợp của anh Đ. Cha mẹ anh có tất cả tám người con. Hai cụ mất trước năm 1985, không để lại di chúc, chỉ để lại một căn nhà trên đường Lê Lai, quận Gò Vấp (TP.HCM). Sau đó, người anh cả đại diện các đồng thừa kế quản lý, sử dụng căn nhà. Rồi ông này tự tiến hành khai nhận di sản với tư cách đại diện thừa kế duy nhất để chiếm trọn 600 triệu đồng tiền đền bù giải tỏa nhà.

Continue reading

VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA BỘ TƯ PHÁP LIÊN BANG THỤY SỸ TRONG VIỆC THAM GIA KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ HỢP TÁC PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP

THS. ĐẶNG HOÀNG OANH – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tham gia ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về hợp tác pháp luật và tư pháp là một trong các chức năng, nhiệm vụ phổ biến của Bộ Tư pháp hầu hết các quốc gia. Bài viết giới thiệu tóm tắt các chức năng của Bộ Tư pháp Liên bang Thuỵ Sỹ trong lĩnh vực nêu trên, hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc nghiên cứu, tăng cường chức năng của Bộ Tư pháp Việt Nam trong công tác hợp tác pháp luật, tư pháp nói chung và công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp nói riêng.

Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang Thuỵ Sỹ (Federal Department of Justice and Police- FDJP) có rất nhiều chức năng khác nhau. Bộ xử lý các vấn đề chính trị-xã hội, như cùng chung sống hoà bình giữa công dân Thuỵ Sỹ và công dân nước ngoài, cư trú chính trị, an ninh trong nước và phòng chống tội phạm. Đối với FDJP thì các vấn đề về hôn nhân và quốc tịch cũng quan trọng như các vấn đề về quản trị công ty, giám sát hoạt động cờ bạc hay soạn thảo các luật và văn kiện về tương trợ tư pháp quốc tế và hợp tác cảnh sát.

Bộ có bốn văn phòng Liên bang:Văn phòng Tư pháp Liên bang, Văn phòng Cảnh sát Liên bang, Văn phòng di cư Liên bang và Văn phòng đo lường Liên bang.

1. Văn phòng Tư pháp Liên bang (Federal Office of Justice – FOJ)

Văn phòng Tư pháp Liên bang là cơ quan của Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang, chịu trách nhiệm về các vấn đề lập pháp liên quan đến luật hiến pháp và hành chính, luật tư và luật hình sự. Đây là cơ quan cố vấn cho các cơ quan khác trong Chính phủ Thuỵ Sỹ về mọi vấn đề lập pháp và soạn thảo ý kiến tư vấn. Với tư cách là cơ quan giám sát, Văn phòng Tư pháp Liên bang giám sát đăng ký thương mại, đăng ký hộ tịch và đăng ký đất đai, cũng như việc thủ đắc bất động sản của những người cư trú ở bên ngoài Thuỵ Sỹ.

Ở tầm quốc tế, FOJ đại diện cho Thuỵ Sỹ trước Toà án Nhân quyền châu Âu và trước nhiều tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, FOJ là cơ quan trung ương trong các vụ việc liên quan đến bắt cóc trẻ em quốc tế và hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền quốc gia và quốc tế trong những vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp và dẫn độ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

GS.TSKH. LƯƠNG XUÂN QUỲ & THS NGUYỄN ANH TUẤN – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Song cũng đặt ra những vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Ở bài viết này, các tác giả đề cập đến một số vấn đề mới nảy sinh gần đây cần giải quyết nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam.

Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và cũng đặt ra một số thách thức cần giải quyết: Chất lượng tăng trưởng chưa cao, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, các nguồn lực chưa được huy động và sử dụng hiệu quả, môi trường tự nhiên còn bị huỷ hoại và tình trạng ô nhiễm xảy ra nhiều nơi, các yếu tố thị trường chưa được hình thành và vận hành thông suốt, khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, người giàu và người nghèo có chiều hướng gia tăng… Các vấn đề trên đã được đề cập dưới nhiều giác độ khác nhau cũng như được phân tích khá sâu sắc trong Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích một số vấn đề mới phát sinh trong thời gian gần đây.

Một là, với việc gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một chủ thể mới trong luật chơi toàn cầu phức tạp với các tác động đa chiều, do đó, việc xác định cơ sở để ổn định và phát triển trong bối cảnh biến động liên tục của kinh tế toàn cầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nền kinh tế Việt Nam có nhiều cơ hội để đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng và bị tổn thương trước những biến động của nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế của các nước thành viên. Nước ta gia nhập WTO muộn hơn so với các quốc gia khác và với trình độ phát triển của nền kinh tế thấp hơn. Vì vậy, sự chủ động thâm nhập vào nền kinh tế thế giới cũng như đón nhận các dòng vốn, hàng hóa và tri thức mới từ ngoài vào của nước ta cần dựa trên 2 nền tảng: Cầu nội địa mở rộng đủ lớn và hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được đảm bảo. Trong đó, cầu nội địa mở rộng được xây dựng dựa trên:

Continue reading