PHÁP LUẬT TRIỆT TIÊU PHÁP LUẬT

THS. NGUYỄN BÁ CHIẾN – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia

I. Đặt vấn đề

Pháp luật triệt tiêu pháp luật là hiện tượng quy định pháp luật này phủ định, thậm chí làm mất hiệu lực quy định pháp luật khác (chúng ta loại trừ trường hợp quy định (hoặc văn bản) pháp luật lạc hậu, không còn phù hợp được thay thế bởi quy định (hoặc văn bản) pháp luật khác, vì đây là trường hợp bình thường và rất cần thiết nhằm đáp ứng sự phát triển khách quan của các quan hệ xã hội).

Pháp luật triệt tiêu pháp luật” là hiện tượng không bình thường. Nhưng hiện tượng đó vẫn diễn ra, thậm chí còn khá phổ biến hiện nay. Hiện tượng này ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò của pháp luật với tư cách là công cụ để nhà nước quản lý xã hội, cũng như ảnh hưởng đến niềm tin của các chủ thể đối với pháp luật.

Như vậy, vai trò của pháp luật không chỉ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như: pháp luật không phù hợp với thực tiễn khách quan của các quan hệ xã hội; năng lực thực hiện pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền hạn chế; sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức… mà còn bị ảnh hưởng không nhỏ bởi hiện tượng chính bản thân pháp luật triệt tiêu pháp luật. Đây là hiện tượng cần được nghiên cứu để tìm hiểu về những nguyên nhân, hậu quả và đặc biệt là xác định những giải pháp để hạn chế, khắc phục hiện tượng “pháp luật triệt tiêu pháp luật”.

II. Những biểu hiện và nguyên nhân của hiện tượng pháp luật triệt tiêu pháp luật

1. Những biểu hiện

Trong thực tiễn, hiện tượng pháp luật triệt tiêu pháp luật khá phổ biến và càng xuống đến những văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn thì tình trạng này có biểu hiện càng phổ biến hơn. Những biểu hiện của tình trạng pháp luật triệt tiêu pháp luật rất phong phú, nhưng có thể khái quát một số biểu hiện cơ bản của hiện tượng này như sau:

Continue reading

CÔNG ƯỚC XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ VÀ DỰ ÁN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA VIỆT NAM

TS. DƯƠNG THANH MAI – Bộ Tư pháp

Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1979 và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 9/1981, sau khi được 20 quốc gia phê chuẩn. Trong 25 năm qua, CEDAW đã thực sự trở thành một công cụ pháp luật quốc tế hữu hiệu trong việc thúc đẩy xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, bình đẳng nam nữ, thực thi quyền phụ nữ trên phạm vi rộng lớn của 180 nước, lãnh thổ là thành viên của Công ước. 

Chính phủ Việt Nam ký tham gia Công ước vào tháng 7/1980 và tháng 11/1981, Hội đồng Nhà nước phê chuẩn Công ước. Từ đó, nhà nước ta đã làm rất nhiều việc để thực hiện trách nhiệm của một quốc gia thành viên CEDAW, đặc biệt là việc thiết lập sự bảo vệ bằng pháp luật các quyền của phụ nữ trên cơ sở không phân biệt đối xử và bình đẳng nam nữ. Việc Dự án Luật bình đẳng giới được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội khoá XI là một minh chứng về quyết tâm chính trị của Đảng và nhà nước ta trong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ, xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người nói chung, quyền bình đẳng nam nữ nói riêng, nhằm phát huy mọi tiềm năng nguồn nhân lực nam, nữ thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật bình đẳng giới năm 2006 chưa được ban hành – Civillawinfor). Để góp phần hoàn thiện Dự án Luật bình đẳng giới trước khi trình Quốc hội cho ý kiến, chúng tôi xin bàn luận về một số quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật bình đẳng giới và cách thể hiện các quan điểm đó trong Dự án luật nhìn từ góc độ thực thi CEDAW tại Việt Nam.   

1. Các nguyên tắc của CEDAW và quan điểm “nội luật hoá các quy định phù hợp trong các Công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là CEDAW”

Điều 2, a của CEDAW quy định các quốc gia thành viên cần “đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp quốc gia hoặc các văn bản pháp lý thích hợp khác nếu chưa đưa vào và bảo đảm việc thực hiện các nguyên tắc này trong thực tế bằng pháp luật và các biện pháp thích hợp khác”. Thực hiện nguyên tắc “Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên” (Điều 3 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế), kể từ ngày Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của CEDAW, hệ thống pháp luật Việt Nam đã không ngừng được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện theo hướng thể hiện ngày một đầy đủ, toàn diện hơn các nội dung của CEDAW trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Continue reading

NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI của hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2004 – 2009

PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN Viện Nhà nước và Pháp luật

Giai đoạn 2004 – 2009 là những năm trước và sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, thời gian sau hơn 10 năm Việt Nam là thành viên ASEAN và đặc biệt, sau gần một phần tư thế kỷ nước ta bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể khẳng định rằng, giai đoạn 2004 – 2009 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường hội nhập và hợp tác quốc tế.

1. Những thành tựu chung, cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2004-2009

Những phát triển mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn này thể hiện ở những nét lớn cơ bản sau đây:

Thứ nhất là có những phát triển mới rất quan trọng trong nhận thức lý luận về nhà nước và pháp luật nói chung, về hệ thống pháp luật nói riêng.

Quan điểm, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, là sự thể hiện quá trình đổi mới tư duy, gắn liền với quá trình hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước và xuất phát từ những tiền đề kinh tế, chính trị – xã hội và những ảnh hưởng, tác động của xu thế hội nhập kinh tế – quốc tế. Quan điểm đó là cơ sở cho hoạch định chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật với những mục tiêu rất cụ thể, được xác định rõ ràng: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và hoàn thiện pháp luật, phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Nhận thức lý luận về Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bước phát triển vận dụng sáng tạo những nguyên lý phổ biến, những giá trị chung của nhân loại về Nhà nước pháp quyền với những đặc trưng cơ bản sau đây:

Continue reading

NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004 – 2009

PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN – Viện Nhà nước và pháp luật

Giai đoạn 2004 – 2009 là những năm trước và sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, thời gian sau hơn 10 năm Việt Nam là thành viên ASEAN và đặc biệt, sau gần một phần tư thế kỷ nước ta bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể khẳng định rằng, giai đoạn 2004 – 2009 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường hội nhập và hợp tác quốc tế.

1. Những thành tựu chung, cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2004-2009

Những phát triển mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn này thể hiện ở những nét lớn cơ bản sau đây:

Thứ nhất là có những phát triển mới rất quan trọng trong nhận thức lý luận về nhà nước và pháp luật nói chung, về hệ thống pháp luật nói riêng.

Quan điểm, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, là sự thể hiện quá trình đổi mới tư duy, gắn liền với quá trình hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước và xuất phát từ những tiền đề kinh tế, chính trị – xã hội và những ảnh hưởng, tác động của xu thế hội nhập kinh tế – quốc tế. Quan điểm đó là cơ sở cho hoạch định chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật với những mục tiêu rất cụ thể, được xác định rõ ràng: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và hoàn thiện pháp luật, phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Nhận thức lý luận về Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bước phát triển vận dụng sáng tạo những nguyên lý phổ biến, những giá trị chung của nhân loại về Nhà nước pháp quyền với những đặc trưng cơ bản sau đây:

Continue reading

NHẬT BẢN: ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH LÀ NGHĨA VỤ!

CẨM VÂN

Nhật Bản là một trong số ít những quốc gia có lịch sử lập pháp hơn 100 năm trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch (ĐKHT). Trong bối cảnh Bộ Tư pháp Việt Nam đang đề xuất xây dựng Luật Hộ tịch, việc học hỏi kinh nghiệm của nước Nhật và của các nước khác đã có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về hộ tịch là việc làm cần thiết.

Ngày càng “hiện đại”

Cách đây 138 năm, Nhật Bản đã ban hành đạo luật đầu tiên về ĐKHT. Luật năm 1871 quy định 2 việc đăng ký sau sẽ căn cứ vào gia phả: mỗi hộ gia đình, bao gồm một nhóm người có quan hệ họ hàng thân thích từ ông bà tổ tiên, sẽ là một tập hợp trong hồ sơ ĐKHT; các sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng hộ tịch của cá nhân trong cuộc đời họ sẽ được đăng ký theo thời gian. Riêng sự kiện về tình trạng kết hôn, nhận con nuôi sẽ được thể hiện qua thông báo về ĐKHT.

Cùng với việc sửa đổi các quy định về gia đình và thừa kế trong Luật Dân sự, năm 1947, Luật ĐKHT mới và Pháp lệnh “Các quy định thi hành Luật ĐKHT” (đều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1948) đã ra đời. Luật mới nhấn mạnh, việc ĐKHT là được đối với cặp vợ chồng và con cái – những người có cùng một họ nhưng việc ĐKHT của 3 thế hệ thì bị cấm. Luật sửa đổi một phần của Luật Đăng ký cư trú và Luật ĐKHT năm 1994 cho phép, việc ĐKHT được thực hiện trên hệ thống xử lý thông tin của máy tính. Từ năm này, việc ĐKHT chính thức được lưu trữ và xử lý bằng đĩa từ.

Theo quy định hiện hành, Luật ĐKHT có hiệu lực trên toàn nước Nhật, bao gồm cả vùng nước và các tàu mang quốc tịch Nhật. Luật ĐKHT của Nhật Bản áp dụng cho cả người Nhật và người mang quốc tịch nước ngoài sống tại Nhật Bản. Việc thông báo các sự kiện khai sinh và khai tử xảy ra trong nước đối với cả người Nhật lẫn người nước ngoài là nghĩa vụ. Hơn nữa, người mang quốc tịch nước ngoài cũng có thể có mối quan hệ hộ tịch trong tờ thông báo, như kết hôn, nhận con nuôi.

Continue reading

LUẬT SƯ NỘI BỘ – MỘT NGHỀ TRIỂN VỌNG

XUÂN HỢP

Nếu hiểu rõ, nắm bắt kịp thời và tỉnh táo trong các vấn đề liên quan luật kinh tế, thương mại, dân sự, sở hữu trí tuệ…, doanh nghiệp sẽ không chỉ tránh được những tình huống xấu bất ngờ mà có thêm lợi thế cạnh tranh. Hiểu được như thế, nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm và xây dựng cho mình một hoặc nhiều cố vấn pháp luật. Một số doanh nghiệp xây dựng cả một phòng luật sư nội bộ (phòng pháp chế) để giải quyết mọi các vấn đề  liên quan văn bản, hợp đồng, luật, cố vấn tranh tụng, dự báo và xử lí khủng hoảng.

“Luật sư nội bộ” – từ gốc tiếng Anh là “In House Counsel”. Khái niệm này còn có thể hiểu là “luật sư riêng”, “luật sư công ty”, “luật sư gia đình”, “cố vấn pháp luật”… Theo định nghĩa của Association of Corporate Counsel, luật sư công ty là nhân viên được tuyển dụng vào công ty để làm công việc luật sư. Theo luật một số bang của Mỹ, luật sư công ty bị hạn chế một số nghiệp vụ, trong đó có việc tranh tụng trước toà với tư cách đại diện công ty mình. Theo Luật luật sư của Việt Nam (có hiệu lực từ năm 2007), luật sư chỉ được hành nghề trên các hình thức Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH. Do đó luật sư nội bộ tại Việt Nam phần lớn mới ở dạng tư vấn pháp luật, xử lí hợp đồng…

Trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ, các doanh nghiệp lớn đều có luật sư riêng. Những luật sư này có vị trí cao trong công ty và thường ở dạng cố vấn cao cấp cho chủ doanh nghiệp. Trong những nền kinh tế phát triển cao, luật sư là một nghề sáng giá. Nhiều chính khách vốn hoặc đồng thời là luật sư (như Đimitơrôp, Phiđen Caxtrô, Milôsêvích, Bin Clintơn, Nguyễn Hữu Thọ…). Những luật sư nội bộ cũng được hình tượng hóa qua các tiểu thuyết nổi tiếng thế giới (như Jenifer Packer trong “Thiên thần nổi giận” của Shedney Sheldon, Tom Haghen trong “Bố Già” của Mario Puzo…) Trong những cuốn sách đó, các luật sư nội bộ đều ở vị trí cao chỉ sau ông chủ và là nhân vật cực kỳ quan trọng đối với công ty, gia đình và cả đối thủ của họ.

Để làm tốt vai trò này, ngoài việc am hiểu rộng pháp luật dân sự, thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, luật sư nội bộ phải có nhiều yếu tố khác:

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: SOI LỖI XỬ ÁN DÂN SỰ?

THANH TÙNG

Thực trạng án dân sự bị hủy, sửa hằng năm vẫn diễn ra. Mới đây, khi tổng kết ngành TAND TP.HCM, lãnh đạo Tòa Dân sự TAND TP đã tập trung mổ xẻ nguyên nhân và gợi ý một số biện pháp hạn chế tình trạng này. Thực tế cho thấy lượng án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy, sửa do có tình tiết mới rất ít mà chủ yếu tập trung vào thủ tục tố tụng dù có khi chỉ là những lỗi rất nhỏ, lặt vặt.

Vi phạm tố tụng không đáng

Tòa Dân sự TAND TP đã liệt kê ra hàng chục lỗi, trong đó nổi cộm là chuyện triệu tập thiếu người tham gia tố tụng do tòa xác minh chưa đầy đủ; xử vắng mặt đương sự không hợp lệ… Việc hoãn phiên tòa quá 30 ngày, hoãn tuyên án quá năm ngày làm việc cũng khiến bản án sơ thẩm lọt vào diện vi phạm tố tụng.

Cạnh đó, nhiều bản án xử lại nhưng hội đồng xét xử khác so với quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoặc lật bản án ra thì thấy thiếu chữ ký của hội thẩm nhân dân… Ngoài ra còn hiện tượng khi ban hành quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ xử sơ thẩm, thẩm phán cũng không làm đúng quy định…

Đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ

Lỗi chủ quan và non tay thẩm phán chủ yếu tập trung vào các vụ án liên quan đến tranh chấp nhà đất.

Theo lãnh đạo Tòa Dân sự TAND TP, có khi chưa thu thập đủ chứng cứ chứng minh quyền sở hữu tài sản, chưa biết tài sản còn hin hữu hay đã chuyển thành tiền, thẩm phán vẫn vội vàng ra quyết định. Có trường hợp thẩm phán ở TAND một huyện không phân biệt được yêu cầu phản tố, phản bác của bị đơn để tạm thu án phí, không giải quyết yêu cầu phản tố cho đương sự. Ở TAND TP đã có trường hợp giải quyết một vụ đòi nhà cho ở nhờ nhưng khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị tranh chấp độc lập với nguyên đơn thì thẩm phán lại tách ra làm hai vụ khác nhau khiến bản án bị hủy.

Continue reading

CHẠY VỐN, TRỐN NỢ – SỢ LÃI, HÃI TIỀN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch HĐTV Công ty Luật BASICO

Các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp bao gồm:
– Vốn chủ sở hữu của chủ doanh nghiệp, người góp vốn (vốn điều lệ, vốn từ các quỹ và lợi nhuận để lại);
– Vốn vay ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển;
– Vốn vay thương mại gồm mua trả chậm của nhà cung ứng, bán hàng trong và ngoài nước và chiếm dụng vốn của người khác;
– Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc nhận tiền ký quỹ, đặt cọc, trả trước;
– Vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác, trong đó có bạn bè, người nhà thân quen và CBNV trong doanh nghiệp;
– Vốn huy động từ các nguồn khác.

Câu hỏi đầu tiên trong kinh doanh được đưa ra thật tự nhiên, đơn giản với nghĩa là “tiền đâu”? Có rất nhiều nguồn vốn phục vụ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp bình thường, thật khó để “xoay” vốn trong thời kỳ lạm phát, kinh tế suy thoái.

Vốn chủ sở hữu, không cứu được ai

Vốn chủ sở hữu dường như không bao giờ đủ để kinh doanh. Có 100 triệu đồng vốn, người ta sẽ muốn kinh doanh với 1 tỷ. Khi có đến 10 tỷ đồng, người ta lại muốn mở rộng kinh doanh lên 100 tỷ. Phần vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản. Đặc biệt trong thời kỳ khó tìm vốn, cái khó đầu tiên chính là không tăng được vốn chủ sở hữu, không bán được trái phiếu. Cổ phần, cổ phiếu hiện hữu đã khó chuyển nhượng, thì cũng rất ít khả năng được góp tăng thêm.

Kinh doanh mà không vay vốn, cũng đồng dạng với kiểu cá nhân đầu tư tiền gửi vào ngân hàng lấy lãi. Vay vốn nhiều đâu phải là không tốt. Số tiền vay cũng là một trong những yếu tố thể hiện sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp. Nước Mỹ là một nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia vay nợ nhiều nhất. Các ngân hàng là những chủ nợ lớn nhất đồng thời cũng là những con nợ lớn nhất. Phần lớn doanh nghiệp trông chờ vào vốn vay.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC: NÉ BỒI THƯỜNG OAN?

VĂN ĐOÀN

Sau bốn lần xét xử không chứng minh được bị cáo phạm tội, VKS đình chỉ điều tra với lý do… chung chung, mập mờ.

Cuối tháng 1-2010, VKSND thị xã La Gi (Bình Thuận) đã ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với ông Huỳnh Văn Sang về tội hiếp dâm. Dù thoát vòng lao lý nhưng ông Sang vẫn không tâm phục quyết định này vì lý do đình chỉ rất chung chung. Ông đã làm đơn khiếu nại yêu cầu cơ quan tố tụng xác định mình thật sự bị oan.

Sơ thẩm kết án, phúc thẩm hủy

Theo hồ sơ, chiều 3-6-2007, ông Sang ngồi nhậu cùng cha của cô D. (bị câm điếc bẩm sinh). Sau khi uống được vài ly rượu, ông Sang ra ngoài gặp cô D. rồi rủ cô lên chòi rẫy cách đó gần 100 m. Đến nơi, ông đòi “quan hệ” nhưng cô D. quyết liệt từ chối. Dù vậy, ông Sang vẫn cố tình “quan hệ” cho bằng được. May mắn là cha của cô D. đã kịp đến bắt quả tang…

Cuối năm 2007, TAND thị xã La Gi xử sơ thẩm đã phạt ông Sang ba năm tù về tội hiếp dâm. Ông Sang kháng cáo kêu oan. Vài tháng sau, xử phúc thẩm, TAND tỉnh Bình Thuận nhận định lời khai của ông Sang và của phía nạn nhân tại cơ quan điều tra có nhiều mâu thuẫn nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ. Lúc thì cha nạn nhân khai đã bắt quả tang ông Sang hiếp dâm con gái mình, lúc lại khai đứng từ xa thấy loáng thoáng bóng người giống ông Sang. Ở phiên sơ thẩm, ông Sang một mực kêu oan, cho biết đã bị đánh đập, ép cung nhưng cấp sơ thẩm bỏ qua… Cuối cùng, tòa phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Continue reading