VƯỚNG MẮC TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ

NGUYỄN PHƯƠNG MINH – Vietcombank

Trong thời gian gần đây, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ta đã đẩy mạnh việc cung ứng các sản phẩm ngân hàng bán lẻ trong đó có nghiệp vụ cho vay mua nhà trả góp. Đối tượng khách hàng nhắm đến của nghiệp vụ này thường là các cặp vợ chồng trẻ, hoặc các gia đình có mức thu nhập trung bình chưa đủ khả năng mua nhà.

Tuy nhiên, đối với bất kỳ NHTM nào thì điều kiện tiên quyết khi cung cấp sản phẩm này là người mua nhà phải thế chấp ngôi nhà sẽ mua cho ngân hàng cho đến khi nợ vay được thanh toán đầy đủ. Vấn đề đặt ra ở đây, là vào thời điểm ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng, người mua chưa có quyền sở hữu đối với căn nhà đó.

Câu chuyện sẽ rất đơn giản nếu chúng ta áp dụng điều 320 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

Theo hướng dẫn tại điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”.

Căn cứ theo các quy định này ngân hàng và bên vay (bên mua nhà) có thể tiến hành ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Với việc ký kết hợp đồng này các quyền lợi của ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp đã được bảo đảm.
Tại điều 8 Nghị định 163 quy định: “Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý”.

Continue reading

Một số ý kiến về đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân luật Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Continue reading

XU THẾ TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG M&A TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TS. THÂN THỊ THU THỦY

Theo qui định của Nghị định 14/2007/NĐ-CP thời hạn tăng vốn pháp định của công ty chứng khoán lên 300 tỷ đồng là ngày 31/12/2008, nhưng hiện nay có rất nhiều công ty chứmg khoán phải đứng trước sự lựa chọn tăng vốn hay giảm nghiệp vụ kinh doanh. Một lần nữa, bài toán sáp nhập và mua bán công ty chứng khoán đã trở thành một vấn đề quan tâm của mọi thành viên tham gia thị trường.

1. Hoạt động sáp nhập và mua bán M&A

M&A là một hoạt động không xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới .Xuất hiện ở VN từ những năm 2000, hiện nay hoạt động này đang có xu hướng phát triển mạnh, nhất là trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng. Sáp nhập là việc một hay nhiều công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình cho một công ty khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Bên bị sáp nhập gọi là công ty mục tiêu. Mua lại là việc một công ty mua lại hay thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tài sản của công ty khác. Hợp nhất là hình thức hai hay nhiều công ty sẽ chuyển toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình , quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành nên một công ty mới và kết thúc sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.

Trong thực tế ít xảy ra sáp nhập hay hợp nhất mà thường là mua lại, bởi vì sáp nhập và hợp nhất đòi hỏi sự hợp tác rất cao giữa các bên tham gia, trong đó cả hai bên phải cùng nhìn thấy được triển vọng của thương vụ và đặc biệt những cuộc hợp nhất luôn đỏi hỏi sự tương đồng và cân bằng về năng lực quản lý, năng lực tài chính … để cùng chia sẻ trên tinh thần hợp tác cao nhất.

Theo Andrew J.Sherman và Milledge A.Hart thì có nhiều lý do để làm cho xu hướng M&A ngày càng phát triển :

-M&A là cách thức hiệu quả để xâm nhập vào một thị trường mới. Và M&A cũng là phương cách hiệu quả để tiếp cận, mở rộng hoạt động và thị trường ra quốc tế

-M&A là cách để sở hữu những tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp khác.

-Việc thu hút vốn sau M&A có triển vọng hơn và nhất là có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ.

Continue reading

NHÌN NHẬN ĐÚNG VAI TRÒ CỦA FDI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN MINH NGỌC

Những tác động tiêu cực của vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không phải là thuộc tính riêng, và chúng thường là hệ quả của các chính sách và chất lượng quản lý kinh tế. Đây là điều các nhà hoạch định chính sách cần chú ý khi hoạch định một chính sách tổng thể về FDI ở Việt Nam.

Con số vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện qua từng tháng, quý và năm luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của nhiều người. Rất thường xuyên, những con số này được coi đồng nghĩa với thước đo thành công của chính sách phát triển kinh tế cũng như môi trường kinh doanh của Việt Nam. Bởi vậy, việc duy trì và không ngừng làm cho những con số này tăng lên là điều đặc biệt quan trọng đối với các cấp chính quyền, và cũng vì vậy mà người ta có xu hướng chạy đua, châm trước, và đưa ra quá nhiều ưu đãi để kéo nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền của vào Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng. FDI thường được nhìn nhận như một liều thuốc đại bổ cho nền kinh tế thiếu dinh dưỡng và không mấy ai mảy may nghĩ đến mặt trái của tấm huy chương FDI.

Bởi vậy, dường như chỉ mới gần đây những tác động tiêu cực của FDI mới được bộc lộ rõ nét và mới được công luận chú ý và bắt đầu có cái nhìn mang tính phê phán hơn so với cái nhìn mầu hồng mang nặng tính thực dụng trước đây. Mặt trái của tấm huy chương FDI thường được liệt kê dưới những tác động tiêu cực như gây ô nhiễm môi trường, thôn tính thị trường trong nước, hoặc có những hành vi thao túng giá cả. Một số ít thì chỉ ra rằng FDI vào các ngành dịch vụ nhiều một cách tương đối thì làm tăng thêm thâm hụt cán cân mậu dịch (tức là nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu). Thậm chí có người còn quy kết FDI làm tăng tính bất ổn định xã hội với nhiều vụ đình công v.v…

Continue reading

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI VIẾT ĐIỀU LỆ CHO CÔNG TY

LG. TRẦN MINH SƠN – Bộ Tư pháp

Luật Doanh nghiệp của Việt Nam không định nghĩa bản điều lệ là gì mà chỉ liệt kê các nội dung chính nó phải có (Điều 22 Luật Doanh nghiệp năm 2005)[1]. Luật công ty mẫu của Mỹ cũng không định nghĩa Bản điều lệ là gì. Còn từ điển về luật của Mỹ thì giải nghĩa đó là những điều khoản hành chính do một tổ chức lập nên để quy định công việc quản trị bên trong và giao dịch với bên ngoài của tổ chức ấy.

Nói một cách dễ hiểu thì Bản điều lệ là bản thỏa thuận giữa những người sáng lập công ty với các cổ đông và giữa các cổ đông với nhau cùng được soạn căn cứ trên những khuôn mẫu chung của luật pháp (luật doanh nghiệp, luật thuế, luật lao động, luật tài chính, kế toán…) để ấn định cách tạo lập, hoạt động và giải thể của một doanh nghiệp.

Trên ý nghĩa đó cho thấy, bản điều lệ giống như một bản hợp đồng có “tính chất quy định”. Tuy nhiên, vì công ty là “tổ chức do luật pháp đặt ra” nên khác với các bản hợp đồng thông thường, bản điều lệ có thể trưng ra được cho những người thứ ba và buộc họ phải chấp nhận “tính chất đối kháng” khi giao dịch với công ty. Ví dụ, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng…

Do “tính chất đối kháng” của bản điều lệ nên các ngân hàng và những người muốn mua, đầu tư công ty xem bản điều lệ rất kỹ; thậm chí cả các văn bản mà đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị ban hành theo các quy định của bản điều lệ để biết công ty được làm gì nhằm ràng buộc nó vào hành vi mà nó muốn thực hiện với họ (vay tiền, hay bán Công ty, kêu gọi đầu tư…).

Continue reading