ĐÀN BÀ CÁ TÍNH THÌ ĐA TRUÂN VÌ SAO?

triple-personality-laviniu-m-draghici KHÁNH VÂN

Tại sao đàn bà khó tính lại khó tìm thấy hạnh phúc? Chẳng phải hạnh phúc như tấm chăn hẹp và chẳng ai giằng kéo với mình, nhưng tự mình cứ đem cuộc sống của mình với chính mình ra đong đếm. Tôi không thấy hình ảnh bà mình, mẹ mình trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc. Tôi tìm thấy sự an phận và lặng lẽ đâu đó trong quá khứ ngày hôm qua.Nhưng còn hôm nay thì sao?

Một ngày trời u ám, chị Hai tôi về nhà với những vết bầm trên má, không ai nói ra nhưng ai cũng biết anh rể lại đi chơi với bồ và về đánh chị. Tôi biết chỉ cần vài lời xin lỗi, nói ngọt, rồi chị tôi lại hí hửng như một đứa trẻ được quà. Nhưng với đứa em kế tôi, chồng chỉ cần để lại dấu tích là vết son trên áo và một vài tin nhắn ngọt ngào của cô bạn đồng nghiệp, nó đã lặng lẽ đặt đơn ly hôn lên bàn, và nhất quyết không thay đổi quyết định. Mọi người xúm lại khuyên can, em tôi chỉ nói: “ Em cảm thấy bị tổn thương”. Dùng đúng từ, rất chính xác, và quyết định rất nhanh. Tôi không nghĩ là em tôi hạnh phúc.

Phụ nữ cá tính thường bị nhận xét là mạnh mẽ, và đôi khi bất cần đàn ông, trong khi đàn ông coi mạnh mẽ thế, nhưng rất cần phụ nữ. Cái tôi của người đàn ông khiến họ mong muốn phụ nữ ấy lệ thuộc vào mình.

Nhưng “sự lệ thuộc” đối với phụ nữ cá tính là một cụm từ mà họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để vượt qua nó. Có một anh bạn nói với tôi rằng “tại sao em cứ phải lo chuyện mua nhà, mua xe, thế người đàn ông của em dùng để làm gì? Tại sao không tạo cho họ cơ hội làm người đàn ông đích thực? Để lo lắng cho người họ yêu?” Cuộc đời này đôi khi là một vòng xoay, đàn ông cần một người phụ nữ thông minh và cá tính để hòa nhập chứ không hòa tan, để sẻ chia, để cùng gánh vác chuyện gia đình khi cần, nhưng người phụ nữ cũng đủ khờ dại để nép bên vai họ. Cũng là anh bạn trên còn nói với tôi rằng, đã là phụ nữ hiện đại thì khi chồng đi công tác, phải khéo léo sắp vào vali mấy chiếc condom. Nhưng tôi biết, rất nhiều phụ nữ hiện đại không bao giờ chia sẻ tình yêu, sẵn sàng chia tay và thậm chí nuôi con một mình, chẳng cần cấp dưỡng.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

LS. VŨ HƯƠNG THẢO

Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu. Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định chung. Trong bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) cũng đã có một mục quy định về Hợp đồng bảo hiểm và coi đây là một loại hợp đồng thông dụng. Tuy nhiên, trong Luật KDBH và Bộ luật dân sự có những quy định về hợp đồng bảo hiểm là chưa thống nhất và còn một số bất cập.

Cụ thể:

1. Chế định Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH có những quan điểm đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo hiểm hơn so với Bộ luật dân sự.

Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Định nghĩa này có độ chênh so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Qua hai định nghĩa này có thể thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm, Bộ luật dân sự không quy định về người thụ hưởng mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm.

Đi sâu tìm hiểu có thể thấy từ quan điểm khác nhau về đối tượng bảo hiểm dẫn đến định nghĩa khác nhau, và các quy định cụ thể về trả tiền bảo hiểm cũng khác nhau. Điều 578 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau về bảo hiểm tính mạng: "Trong trường hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết, thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm". Tuy nhiên, Điều 38 Luật KDBH lại quy định, người thụ hưởng là người được bên mua bảo hiểm chỉ định nhận tiền bảo hiểm trong bảo hiểm con người và người thụ hưởng có thể không phải là người được bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy theo Luật dân sự 2005, nếu bên được bảo hiểm chết thì tiền bảo hiểm phải trả cho người thừa kế của họ, còn trong Luật kinh doanh bảo hiểm thì lại trả cho người thụ hưởng mà người thụ hưởng thì có thể là người thừa kế, một trong các người thừa kế hoặc không phải là người thừa kế. Từ mâu thuẫn như vậy, chắc chắn không tránh khỏi những tranh chấp trong thực tế.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG KINH DOANH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỊNH – Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Thị trường bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã có bước phát triển nhanh chóng và đột phá để từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, trước cơn bão khủng hoảng tài chính hiện nay lại đặt ra những thách thức mới cần phải vượt qua để tiếp tục phát triển. Vậy giải pháp nào cho vấn đề này? Đây cũng chính là nội dung mà chúng tôi muốn đề cập trong bài báo.

Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam

Tính đến cuối năm 2008, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có 22 DNBH phi nhân thọ, 9 DNBH nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 9 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động. Trên thị trường hiện có hơn 100 loại sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, khoảng 60 sản phẩm BHNT đang được chào bán. Nếu như năm 2003, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt mức 10.390 tỷ đồng thì đến năm 2008, con số này ước đạt 19.600 tỷ đồng (gấp 1,87 lần so với năm 2003). Cùng  với sự tăng trưởng cao và liên tục qua các năm về doanh thu phí bảo hiểm, doanh thu từ hoạt  động đầu tư của các DNBH cũng tăng lên tương ứng. Năm 2003, doanh thu từ hoạt động đầu tư của các DNBH mới chỉ đạt 1.046 tỷ đồng, đến năm 2008 ước đạt 6.014 tỷ đồng. Ngoài ra, hoạt động tái bảo hiểm cũng có những chuyển biến rõ nét. Cơ cấu phí nhận tái bảo hiểm từ thị trường nước ngoài đang có xu hướng tăng lên và cơ cấu phí nhượng tái bảo hiểm ra nước ngoài lại có xu hướng giảm đi.

Những kết quả đạt được của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua phải kể đến là:

– Đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Điều này được thể hiện ở bảng sau:

– Do số lượng DNBH tham gia thị trường ngày càng tăng, đã làm cho thị trường luôn có sự cạnh tranh sôi động. Điều này đã buộc các DNBH phải tìm ra các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Những giải pháp mà các DNBH thường áp dụng là nâng cao năng lực tài chính, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến công nghệ quản lý, chú trọng phát triển thương hiệu… Quá trình này diễn ra liên tục, vì vậy đã làm cho thị trường càng sôi động hơn và năng lực cạnh tranh của từng DNBH cũng được cải thiện đáng kể.

Continue reading

CHÍNH SÁCH CHO LAO ĐỘNG NỮ: LUẬT CÓ CŨNG NHƯ KHÔNG?

ĐINH TỊNH

Hơn lúc nào hết, chăm lo đời sống và thu nhập cho người lao động đang là vấn đề hết sức quan tâm của các cấp các ngành. Đặc biệt, khi bối cảnh lạm phát khiến giá cả tăng cao, thu nhập thấp và tình trạng đối xử không công bằng giới khiến lao động nữ phải chịu nhiều thiệt thòi.

Thống kê mới nhất của Ban nữ công – Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, cho thấy: tại các doanh nghiệp số lao động nữ được hưởng chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức rất ít; một số chế độ thai sản như nghỉ 60 phút cho con bú, 30 phút vệ sinh kinh nguyệt bị vi phạm.

Ngoài ra, hiện nay phần lớn các cơ sở sử dụng lao động nữ khoán lương theo sản phẩm nên việc lao động nữ nghỉ việc cho con bú đều không được thể hiện trong tiền lương. Mặc dù theo pháp luật, lẽ ra lao động nữ phải được hưởng.

Luật chưa đi vào cuộc sống

Chị L.T công nhân phân xưởng giầy da C.T đang có con nhỏ 7 tháng tuổi tâm sự: “Trước đến nay, tôi chưa bao giờ biết về những điều khoản trong chính sách dành cho các lao động nữ. Giờ tôi mới biết chúng tôi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút để cho con bú. Riêng bản thân tôi, chỉ tranh thủ giờ nghỉ trưa về nhà cho con bú rồi lại đi làm buổi chiều”.

Đề cập về chính sách đối với lao động nữ, ông Trần Hữu Trọng – Phó trưởng phòng Lao động, Vụ Lao động – Tiền lương (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, theo ý kiến của các sở lao động – thương binh và xã hội, các doanh nghiệp sử dụng lao động nữ và lao động nữ chiếm đa số thì việc nghỉ 30 phút trong thời gian kinh nguyệt sẽ làm ảnh hưởng lớn tới dây chuyền sản xuất kinh doanh của mình.

Continue reading

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THÁCH THỨC TOÀN CẦU HÓA

THS. HUỲNH VĂN SINH

Gia đình là một khái niệm mà các nhà xã hội học rất khó định nghĩa, tuy bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính toàn diện cho gia đình là rất khó. Tuy nhiên ta có thể định nghĩa nó trong một hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn ở những nước Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội, thì ngược lại ở các nước Châu Âu gia đình chỉ được xem như là một nhóm xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội thuộc một trong năm thiết chế cơ bản là: Nhà nước, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, gia đình.

Trong lịch sử, gia đình với quan hệ hôn nhân hình thành sau khi chế độ thị tộc tan rã do sự tác động của lực lượng sản xuất và các yếu tố xã hội khác. Từ đó đến nay, lịch sử xã hội loài người cả phương Đông lẫn phương Tây đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm, sự chuyển đổi của một vương triều, sự chuyển đổi hoặc giao thoa giữa các nền văn minh. Nhưng gia đình vẫn tồn tại và liên tục phát triển, nó khẳng định được giá trị bất biến như là một nền tảng xã hội, cơ sở tiệm tiến của xã hội qua mọi thời đại. Điều này, giúp chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn bản chất, chức năng của gia đình, nhằm phát huy giá trị của nó trong điều kiện hiện nay.

Khác với phương Tây, kết cấu gia đình Việt Nam là một thành phần rộng lớn bao gồm những người cùng huyết thống như cha mẹ, ông bà, thuộc hàng trên; con cái, cháu chắt thuộc hàng dưới; gia đình theo chế độ phụ hệ, người đàn ông đóng vai trò chủ đạo, có trách nhiệm chính trong việc gìn giữ trật tự, nề nếp gia phong. Có một khoảng thời gian dài, nó được coi là môi trường thu nhỏ nhằm vào mục đích giáo dục con cái từ lúc lọt lòng đến khi trưởng thành.

Chính điều đó có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục và hình thành nhân cách cho mỗi thành viên trong gia đình. Để tìm hiểu các quy luật, chuẩn mực giá trị của gia đình Việt Nam bị tác động như thế nào trước xu thế “toàn cầu hóa” hiện nay, ta cần làm rõ nội hàm của cụm từ này bao quát như thế nào? Mức độ ảnh hưởng của chúng ra sao đối với mọi mặt đời sống xã hội? Chẳng những trên lĩnh vực kinh tế mà còn tác động mạnh đến mọi khía cạnh khác, từ văn hóa, chính trị,… thông qua lăng kính vĩ mô thì đây nó đã xâm nhập vào thế giới vi mô là “gia đình” bằng cách: thông qua hàng hoá trao đổi, phương tiện thông tin đại chúng như mạng Internet, radio, tivi,… nhan nhản hằng ngày trước mắt chúng ta, nó đã thâm nhập, len lõi vào mọi góc ngách, trong đó có tế bào gia đình. Từ đây nó đã làm siêu vẹo phần nào hình ảnh gia đình phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, làm cho sự cố kết chặt chẽ cộng đồng trong mô hình làng, xã cổ truyền trong thời gian qua bị rạn nứt mạnh mẽ. Đây chính là lý do mà tác giả tiếp cận, nghiên cứu tìm hiểu: Bản chất sự vận động của toàn cầu hoá tác động đến đời sống gia đình như thế nào? Nó đã làm biến tướng mô hình cấu trúc gia đình ra sao? Mức độ phụ thuộc giữa các yếu tố trong một gia đình hiện đại và gia đình truyền thống Việt Nam tới đâu?

Continue reading

ĐẶC TRƯNG MÔ HÌNH KINH TẾ TỰ DO MỚI CỦA MỸ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. CAO MINH NGHĨA & THS. NGUYỄN THỊ HOÀNG MỸ

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dẫn đến việc mô hình kinh tế tư bản tự do bị lên án mạnh mẽ tại Mỹ và khắp nơi trên thế giới, kể cả những người từng ủng hộ mạnh mẽ nhất. Chuyên gia kinh tế Francis Fykuyama giảng dạy tại đại học John Hopkins, xem đây là “sự sụp đổ của mô hình kinh tế Mỹ” và “sự cáo chung của các học thuyết Reagan và Thatcher” (theo: Asiaweek, 13/10/2008).

Một số nhà phân tích và dư luận Mỹ đang nói đến việc Mỹ quay trở lại học thuyết Keynes và mô hình kinh tế “tân chính sách” dưới thời Tổng thống F.D.Roosvelt thời kỳ 1933-1939, hoặc theo mô hình dân chủ xã hội giống như các nước Đức, Pháp hoặc tìm mô hình khác với tên gọi mới như “chủ nghĩa tư bản có kiểm soát”, hay “chủ nghĩa tư bản có phòng vệ”, hay “chủ nghĩa tư bản sáng tạo”. Theo George Soros “… đặc điểm nổi bật của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay là nó không xuất phát từ cú sốc bên ngoài nào đó…. Chính hệ thống hiện thời tự thân nó tạo ra cuộc khủng hoảng này”.

Tờ nhật báo Pháp Le Monde, đã trích dẫn quan điểm của nhà trí thức, triết gia người Slovania Slavoj Zizek, một người thường xuyên thuyết trình tại các đại học Mỹ về cuộc khủng hoảng hiện nay “chủ nghĩa tư bản cần được xét lại một cách triệt để” vì “người ta từng lên án sự can thiệp của Nhà nước, xem đó là trở ngại cho sự vận hành của một nền kinh tế thị trường, trừ phi sự can thiệp đó là để phục vụ cho hệ thống tư bản”.

1. Đặc trưng của mô hình:

Chỉ tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, trên nền tảng của cùng một phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thế giới đã trải qua 3 giai đoạn: chủ nghĩa tự do cổ điển trước đại khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1929-1933, chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai; chủ nghĩa tư bản "nhân dân" của học thuyết Keynes từ năm 1950 đến 1975 và chủ nghĩa tự do mới từ cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 cho đến nay. Tương ứng với ba hình thái đó là ba hình thức Nhà nước: Nhà nước mạnh; Nhà nước phúc lợi can thiệp và Nhà nước tối thiểu thu hẹp cả chức năng kinh tế lẫn chức năng xã hội.

Continue reading

Một số vấn đề lý luận chung VỀ PHÁP ĐIỂN HÓA

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO & NGUYỄN TUẤN ANH

1. Khái niệm pháp điển hóa trong hệ thống pháp luật

Hiện nay, ở nước ta và trên thế giới cũng còn có các quan niệm khác nhau và các hình thức tiến hành pháp điển hoá khác nhau. Nhưng nhìn chung về cơ bản có thể chia thành hai hình thức pháp điển hoá chính, đó là:

-Pháp điển hóa về mặt nội dung

-Pháp điển hóa về mặt hình thức

Pháp điển hóa về mặt nội dung (hay có người còn gọi theo các cách gọi khác như : pháp điển hóa lập pháp, pháp điển hóa truyền thống, pháp điển hóa có tạo ra quy phạm mới v.v….) là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở hệ rà soát, thống hoá, tập hợp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào văn bản đó với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng các Bộ luật của nước ta như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự; Bộ luật lao động…. được thực hiện theo hình thức pháp điển này. Cách thức pháp điển này giống như hoạt động lập pháp thông thường.

Pháp điển hóa hình thức (còn được gọi là pháp điển hóa không làm thay đổi nội dung văn bản) là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật tại nhiều văn bản khác nhau thành các bộ luật theo từng chủ đề, với bố cục logic, phù hợp, có thể kèm theo những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau. Về nguyên tắc, quá trình sửa đổi, điều chỉnh trong quá trình pháp điển hóa chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách pháp luật mới và các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng một cách tối đa. Ở nhiều nước, kết quả cuối cùng của quá trình pháp điển theo hình thức này (các bộ pháp điển) được cơ quan có thẩm quyền thông qua theo hình thức tương tự như xem xét, thông qua một văn bản pháp luật.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP ĐIỂN HÓA

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO & NGUYỄN TUẤN ANH

1. Khái niệm pháp điển hóa trong hệ thống pháp luật

Hiện nay, ở nước ta và trên thế giới cũng còn có các quan niệm khác nhau và các hình thức tiến hành pháp điển hoá khác nhau. Nhưng nhìn chung về cơ bản có thể chia thành hai hình thức pháp điển hoá chính, đó là:

-Pháp điển hóa về mặt nội dung

-Pháp điển hóa về mặt hình thức

Pháp điển hóa về mặt nội dung (hay có người còn gọi theo các cách gọi khác như : pháp điển hóa lập pháp, pháp điển hóa truyền thống, pháp điển hóa có tạo ra quy phạm mới v.v….) là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở hệ rà soát, thống hoá, tập hợp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào văn bản đó với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng các Bộ luật của nước ta như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự; Bộ luật lao động…. được thực hiện theo hình thức pháp điển này. Cách thức pháp điển này giống như hoạt động lập pháp thông thường.

Pháp điển hóa hình thức (còn được gọi là pháp điển hóa không làm thay đổi nội dung văn bản) là cách thức tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật tại nhiều văn bản khác nhau thành các bộ luật theo từng chủ đề, với bố cục logic, phù hợp, có thể kèm theo những sửa đổi, điều chỉnh cần thiết nhằm làm cho các quy định này phù hợp với nhau. Về nguyên tắc, quá trình sửa đổi, điều chỉnh trong quá trình pháp điển hóa chỉ nhằm mục đích tạo nên sự hài hòa giữa các quy định, đảm bảo trật tự của bộ pháp điển mà không nhằm tới mục đích tạo ra những chính sách pháp luật mới và các quy định pháp luật đang có hiệu lực được tôn trọng một cách tối đa. Ở nhiều nước, kết quả cuối cùng của quá trình pháp điển theo hình thức này (các bộ pháp điển) được cơ quan có thẩm quyền thông qua theo hình thức tương tự như xem xét, thông qua một văn bản pháp luật.

Continue reading

SIÊU LÝ ĐÀN BÀ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỮ GIỚI

image TS. TRẦN HUYỀN SÂM – Đại học Huế

Lịch sử của nữ giới là một lịch sử câm lặng và giông bão. Tính từ thời điểm mà nhà Nữ huyền học người Italia – Catherine de Sienne ở thế kỷ XIV, đã lên tiếng đòi nhân quyền cho nữ giới, bằng cách viết 381 bức thư gửi các nhân vật quyền lực nhất trong Giáo hội, đến thời điểm 1960, với phong trào giải phóng nữ giới ở phương Tây, đó là một hành trình dài để gắn vấn đề nữ quyền với nhân quyền.

Một khi mà nữ quyền là nhân quyền, thì luận điểm tôi vừa nêu, không cần phải tường minh gì thêm. Ở bài viết này, tôi sẽ đề cập đến một số phiếm luận của các triết gia về phụ nữ và những “siêu lý” đàn bà – nhìn từ góc độ nữ giới.

Những triết gia phiếm luận về phụ nữ: Đàn bà, thiên thần hay ác quỷ?

Femme – đàn bà, hay là phụ nữ, được Henri Bénac – nhà lý luận người Pháp định nghĩa như là một sự bí ẩn và phức tạp, có tính hai mặt. Phụ nữ, phải chăng: “Nàng là thiên thần, hay nàng vừa là ác quỷ?”(1). Nàng sáng tạo ra thế giới và cũng là nguyên cớ hủy diệt thế giới. Nàng thống ngự cuộc hành trình nhân loại bằng một vũ khí đáng yêu và cực kỳ nguy hại: TÌNH YÊU và CHIẾN TRANH. Từ thời tiền Adam và hậu Adam cho đến nay, phụ nữ luôn được/bị nhìn nhận như vậy:

Đàn bà có thể cao hơn cả quyền lực, trí tuệ và sức mạnh; nhưng đàn bà cũng có thể bị xem là sự tầm thường nhất trong mọi sự tầm thường.

Phụ nữ, vì vậy đã trở thành một chủ đề bàn luận khá sôi nổi trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật, triết học và mỹ học. Những triết gia lớn vào loại bậc nhất thế giới, họ thường lấy phụ nữ, như một luận đề tường minh cho lý thuyết của mình. Và không ít những công trình trở nên bất hủ, nhờ vào việc “triết luận về đàn bà”. Có thể kể đến: Nhật ký của Augustin, Siêu hình tình yêu, siêu hình sự chếtcủa Athur Schopenhauer, Siêu lý tình yêu của V.Soloviev, Bên kia thiện ác của Nietzsche, Giới nữ của Simone de Beauvoir…

Continue reading