MỘT SỐ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT – Viện Nhà nước và Pháp luật

Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời đã khẳng định vị trí “luật gốc” của Bộ luật trong một hệ thống pháp luật dân sự thống nhất. Cùng với Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Thương mại, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh chứng khoán, và nhiều đạo luật khác được ban hành, sau đó, đã thể hiện tính thống nhất của hệ thống luật tư (luật dân sự) ở Việt Nam. Các đạo luật này đã kịp thời quán triệt và cụ thể hoá các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về bảo vệ, tôn trọng quyền sở hữu và tự do hợp đồng, góp phần thúc đẩy việc xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các quy định trong Bộ luật dân sự 2005 nói chung, chế định sở hữu tài sản và hợp đồng đã có tính khái quát cao hơn. Đặc biệt đã ghi nhận một cách đầy đủ các quyền con người về dân sự.

Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, nhiều vấn đề mới nảy sinh và những bất cập của Bộ luật dân sự cần phải nhanh chóng khắc phục để Bộ luật dân sự có thể đảm đương vai trò là luật gốc.

Nguyên nhân của những vướng mắc và bất cập thể hiện trong Bộ luật là:

– Chưa có quan điểm rõ ràng về vai trò, vị trí và giá trị “gốc” của Bộ luật dân sự trong hệ thống pháp luật “tư”; vấn đề về giá trị phổ quát của Bộ luật dân sự trong hệ thống pháp luật không được nhận thức đúng trong lập pháp và thực thi pháp luật, tạo không ít mâu thuẫn trong hệ thống văn bản hiện hành và thực tiễn pháp lý.

– Nhiều vấn đề học thuật cơ bản không được làm rõ trong Bộ luật, nhiều khái niệm cơ bản hoặc là thiếu chính xác, hoặc là không được định nghĩa, trong khi, việc giải thích pháp luật ở Việt Nam còn chưa hiện hữu và các tài liệu khoa học không được coi là “tài liệu tham khảo” trong áp dụng pháp luật.

– Bộ luật dân sự chưa có liều lượng “cân đối” khi điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội của đời sống dân sự. Có vấn đề được ghi nhận và quy phạm hóa khá chi tiết và cụ thể và có tính hệ thống song lại có những vấn đề được ghi nhận theo tinh thần ngược lại.

– Chưa tạo tiền đề rõ ràng để sử dụng án lệ theo tinh thần Nghị quyết 49.

Continue reading

SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: VƯỚNG HIẾN PHÁP

ĐỨC MINH

Theo chương trình của Quốc hội, lần sửa đổi này tập trung vào phần liên quan đến quyền sở hữu tài sản, hợp đồng. Theo các chuyên gia, hiện các quy định về sở hữu trong BLDS đã bộc lộ nhiều hạn chế.

Phân loại chưa hợp lý

Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, Bộ luật Dân sự hiện hành quy định sáu hình thức sở hữu, gồm: sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp; sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp. Nhóm nghiên cứu sửa đổi BLDS cho rằng sự phân chia này chưa hợp lý, vì các hình thức sở hữu khác nhau ở cách thức thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu chứ không phải ở chức năng, nhiệm vụ, tính chất của các loại hình tổ chức (pháp nhân).

Bên cạnh đó, việc xác định các hình thức sở hữu dựa trên sự liệt kê các loại hình tổ chức cũng không thể đầy đủ. Cùng với sự phát triển của xã hội thì nhiều loại hình tổ chức khác cũng sẽ xuất hiện. “Nếu BLDS cứ phải chạy theo chúng để sửa đổi cho phù hợp thì không bảo đảm sự ổn định cần thiết của một bộ luật” – nhóm nghiên cứu chỉ rõ.

Băn khoăn quyền sử dụng đất

Về tên gọi, trong khi Hiến pháp, Luật Đất đai quy định hình thức sở hữu toàn dân đối với đất đai thì BLDS 2005 lại quy định về hình thức sở hữu nhà nước đối với đất đai.

Theo các chuyên gia của nhóm soạn thảo, quan điểm, chủ trương lớn của Đảng và nhà nước về sở hữu đất đai về cơ bản là phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội của đất nước hiện nay. Tuy nhiên, “các cơ chế, chính sách cụ thể lại chưa phù hợp, dẫn đến vấn đề đất đai không những trở thành vấn đề kinh tế lớn mà còn làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp”.

Continue reading

SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HỢP ĐỒNG

PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ – Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

1. Mối quan hệ giữa chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự hiện hành với chế định hợp đồng trong Luật Thương mại và các luật chuyên ngành

1.1 Quan niệm chung về hợp đồng

Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Dù được hình thành trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những điểm chung sau đây:

– Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng. Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 18/2010/NĐ-CP NGÀY 5 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về chế độ, nội dung, chương trình, tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức.

2. Nghị định này áp dụng đối với công chức quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức và công chức cấp xã quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Điều 2. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức

1. Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

2. Góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 16/2010/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án.

Điều 2. Xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Nhà nước chỉ bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại được quy định trong phạm vi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có đủ các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;

b) Thiệt hại xảy ra trong điều kiện vì người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn;

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 06/2010/TTLT-BTP-BTNMT NGÀY 1 THÁNG 3 NĂM 2010 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2005 CỦA BỘ TƯ PHÁP VÀ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HƯỚNG DẪN VIỆC ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP, BẢO LÃNH BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT VÀ THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2006 CỦA BỘ TƯ PHÁP VÀ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2005 CỦA BỘ TƯ PHÁP VÀ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HƯỚNG DẪN VIỆC ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP, BẢO LÃNH BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư, xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Căn cứ Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

Continue reading

CHUYỂN ĐỔI SANG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC

TS. PHẠM THỊ LY – Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu Văn hóa Giáo dục Quốc tế- Viện NCGD

Tổng quan

Trong giáo dục đại học, và nhiều ngành nghề khác, Trung Quốc đang vượt lên trông thấy. Họ đang có dự án mở rộng các trường đại học ở một quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử. Trong những năm 1980, chỉ có 2-3% học sinh đi học đại học. Năm 2003, con số này lên tới 17%. Bước ngoặt là năm 1999, khi số sinh viên tăng gần một nửa. Ở cấp tiến sĩ tốc độ mở rộng còn nhanh hơn so với đại học: từ năm 1999 tới 2003, số tiến sĩ tăng gấp 12 lần con số năm 1982-1989. Chưa hết: số nghiên cứu sinh tiến sĩ tăng từ 14.500 năm 1998 tới 48.700 năm 2003.

Người Trung Quốc đang quyết tâm tạo ra những trường đại học đẳng cấp quốc tế để cạnh tranh với những trường tốt nhất trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc đang đầu tư lớn vào những trường được lựa chọn, như Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Phúc Tân (Fudan), trả lương cao hơn, tài trợ nghiên cứu nhiều hơn. Các tỉnh cũng đang làm như vậy. Tất cả những gì nằm sau sự biến đổi to lớn này chính là chuyển giao công nghệ. Trung Quốc đang cố gắng tạo lập lại khuôn mẫu của những trường đại học phương Tây tốt nhất ở chính nước họ, nhằm cạnh tranh trong những lĩnh vực công nghiệp hàng đầu. Họ đã dự trữ được nhiều tiến sĩ nước ngoài: trong nhiều bộ môn ở Đại học Bắc Kinh, một phần ba giảng viên có bằng tiến sĩ từ Hoa Kỳ. Họ đang liên doanh với các đại học nước ngoài cũng hệt như các công ty Trung Quốc đang liên doanh với công ty nước ngoài.
Sự phát triển mạnh mẽ của các đại học Trung Quốc và những kết quả mà họ đạt được, cũng như những khó khăn mà họ đang trải qua rất đáng để cho những nước châu Á vốn có điều kiện kinh tế, xã hội, và văn hóa gần gũi với Trung Quốc phải chú ý. Một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm, là việc chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ.

Continue reading