ĐẠO LÝ CÔNG CHỨC

right-way-wrong-way1 NGÔ MINH

Muốn quản lý xã hội nhất thiết phải có luật và quản lý theo luật. Nhưng luật pháp thì mỗi chính thể khác nhau lại có hệ thống luật pháp khác nhau. Cuộc sống phát sinh hàng ngày. Nhiều điều luật năm trước đúng, năm sau không còn phù hợp nữa, v.v… Cho nên, ngoài luật, ông cha ta còn phải dựa vào đạo lý để phân xử phải trái. Trên thực tế, đã xuất hiện rất nhiều hiện tượng các công chức Nhà nước gọi là làm theo pháp luật, nhưng thực chất là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để ức hiếp dân, trấn lột dân… rất thiếu đạo lý, gây nên sự phẫn nộ, bất bình trong nhân dân. Cho nên, ngoài xây dựng một nền pháp trị, chúng ta phải xây dựng một nền tảng “đạo lý công chức” thật căn bản.

Vậy đạo lý là gì?  Đạo lý là cách thức phải theo trong sự xử thế đối với người, lấy lẽ phải và điều hay làm mục đích. Nói tóm tắt, đạo lý là lẽ phải, đạo đức. Đạo lý yêu cầu là thật – giả, trắng – đen, phải – trái phải rõ ràng, phân minh. Có nghĩa đạo lý là cái trường tồn hơn luật, rộng hơn luật, do cộng đồng dân tộc hàng ngàn năm đúc kết và truyền từ đời này sang đời khác, không phụ thuộc một thể chế chính trị nào. Những người già ở làng bản không được học luật, thuộc luật, nhưng trước một vụ việc trong làng, họ phán xử rất đúng. Vì họ cứ theo đạo lý cha ông  mà phán xét… Đạo lý vừa là luật, vừa là lẽ phải, điều hay, đạo đức. Vậy “Đạo lý công chức” là gì? Trước khi bàn đến nội dung này, xin kể vài việc làm trái với đạo lý của bộ máy công quyền đối với công dân trong nhiều năm qua.

Có lần tôi vào bưu điện, thấy cụ già ở quầy lĩnh tiền đang vò đầu bứt tai vì không nhớ ra ai đã gửi tiền cho mình, nên cô nhân viên bưu điện quyết không cho cụ nhận. Câu hỏi: “Ai gửi tiền cho bác”, cô nhận viên đều hỏi tất cả những người vào lĩnh tiền theo phiếu mời. Cô cho biết đó là quy định của trên, cô phải tuân thủ. Đúng rồi. Dưới phải nghe lệnh trên. Nhưng quy định của trên đó rất thiếu đạo lý, vì nó vi phạm quyền của người dân. Ai cũng phản đối mà ngành bưu điện không chịu sửa. Phiếu mời đúng tên, địa chỉ, có chứng minh nhân dân, thì tôi lĩnh. Không việc gì anh phải văn vẹo “ai gửi”. Vì cá nhân có quyền bảo mật riêng của mình. Hơn nữa, có người gửi tiền, lĩnh tiền mới có nghề bưu điện cho các anh kiếm sống. Còn Nhà nước sợ những kẻ lợi dụng việc gửi tiền để “rửa tiền”, hay tài trợ cho những kẻ xấu, thì phải bí mật điều tra riêng.  y mới là sự hành xử có đạo lý ở đời.

Continue reading

KHÔNG THỂ LẬP MỘT CÔNG TY CỔ PHẦN NẰM NGOÀI LUẬT DOANH NGHIỆP

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Sự kiện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị thành lập một Công ty cổ phần Mua – bán điện (EPTC) đã làm sôi động dư luận trong những ngày qua. Các nhà nghiên cứu, giới luật sư, luật gia và cả Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã lên tiếng. Vậy EPTC là gì? Nó được sinh ra nhằm những mục đích gì? Phía sau nó là những bài toán gì?

Thực trạng thị trường điện

Để trả lời những câu hỏi trên, chúng ta cần có đôi điều nhận định về thực trạng của thị trường điện Việt Nam hiện nay. Không cần tranh cãi nhiều cũng hoàn toàn có thể kết luận rằng, thị trường điện Việt Nam hiện nay là thị trường độc quyền. Cao hơn nữa, đó là thị trường độc quyền tuyệt đối. Bởi lẽ, thiếu điện phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng đã, đang và sẽ còn là thách thức lớn đối với nhà nước ta. Toàn bộ hệ thống từ sản xuất, truyền tải, phân phối đến bán điện đang nằm trong tay EVN – một doanh nghiệp Nhà nước. Như vậy, về phía cung, EVN là độc quyền. Về phía người tiêu dùng, kể cả tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt, cũng không thể mua điện ở một địa chỉ nào khác là EVN. Tất nhiên, để thắp sáng, người dân cũng có thể sử dụng đèn dầu hỏa thay cho điện. Song, đến hôm nay, khi khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão mà lại khuyến khích người dân dùng đèn dầu hỏa thay cho điện thì cũng đồng nghĩa với việc “kéo Việt Nam quay về thời kỳ đồ đá”. Vì vậy, với việc bán điện, EVN cũng độc quyền tuyệt đối. Sự độc quyền tuyệt đối của EVN từ sản xuất đến tiêu thụ điện đã gây ra biết bao đau khổ cho cả người sản xuất (các nhà máy điện độc lập ngoài EVN) và người tiêu dùng – các nhà máy, công trường và hơn 80 triệu dân Việt Nam. Cho nên, xóa bỏ sự độc quyền này là đòi hỏi cấp bách của sự phát triển và bảo đảm sự minh bạch, công bằng trong đời sống xã hội.

Continue reading

LUẬT KHUNG: SỐNG VỚI NÓ RA SAO?

NGUYỄN LÂM

Còn nhớ mấy tháng đầu năm 2005 xung quanh chuyện “sổ đỏ, sổ hồng”, bao nhiêu rắc rối đã nảy sinh từ một quy định trong Luật Đất đai, theo đó, trong khi chờ Luật Đăng ký bất động sản, tài sản trên đất chỉ được “ghi nhận”. Từ một chữ chung chung “ghi nhận” này mà người dân phải mệt mỏi, các Bộ phải “cãi nhau”, thị trường bất động sản đóng băng, thiệt hại khá đáng kể. Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp tương tự của “luật khung”. Bởi vậy, nói về các đạo luật hiện nay, các đại biểu Quốc hội, chuyên gia, báo chí đều than phiền về tình trạng quy định chung chung, nguyên tắc, giống như một bản tuyên ngôn hơn văn bản luật, vướng về mặt kỹ thuật lập pháp cũng như về nội dung.

Vậy phải làm thế nào? Có phải mọi tội lỗi đều do luật khung? Nếu không phải, tức là luật khung vẫn cần thiết (Xem Hộp 2). Lúc đó, một câu hỏi khác được đặt ra: phải soạn thảo, ban hành luật khung như thế nào để khắc phục những bất cập mà nó có thể gây ra, hay nói cách khác, sử dụng luật khung như thế nào? Trước khi bàn về những chuyện kỹ thuật cụ thể để khắc phục luật chung chung như ngôn ngữ soạn thảo luật, cấu trúc, nội dung một dự luật, chúng ta thử lùi xa hơn một chút. Tức là hãy bắt đầu từ những quan niệm có tính chủ thuyết, đó là: lý thuyết lập pháp, quan niệm về pháp luật thế nào cho đúng để sử dụng luật khung cho đúng, ví dụ như luật của ai, các nguồn của pháp luật gồm những gì, giải thích luật như thế nào; quan niệm về lập pháp…

Lý thuyết lập pháp

Trước hết, một lý thuyết lập pháp sáng sủa dẫn đường có thể tránh tình trạng ban hành luật có tính chất chung chung, mông lung. Lý thuyết đó khá là rộng lớn, nhưng liên quan đến luật khung có câu hỏi quan trọng: luật điều chỉnh cái gì? Các vấn đề đang tồn tại trong xã hội là rất nhiều, một đạo luật dù đồ sộ đến đâu cũng không thể giải quyết hết được. Nếu đặt tham vọng giải quyết một lúc nhiều vấn đề thì có thể chúng ta sẽ có trong tay một văn bản pháp luật đẹp đẽ, nhưng rồi cuối cùng không để làm gì, và một trong những hậu quả là cuộc sống chỉ nhận được những tuyên ngôn chung chung về chính sách, mà không có được những giải pháp lập pháp cụ thể được thể hiện trong đạo luật. Chỉ vì ý nghĩ phải ôm cho hết cuộc sống nên nhà làm luật có nguy cơ sa vào hai phương án sau đây:

Continue reading

BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ: NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TỪ THỰC TIỄN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Để huy động triệt để nguồn vốn đang nhàn rỗi trong nhân dân tham gia thị trường, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên góp vốn, các cổ đông chỉ góp vốn với một tỷ lệ nhỏ ( gọi chung là các cổ đông thiểu số). Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định của Luật Doanh nghiệp trong thực tế đã và đang gặp một số vướng mắc lớn cần được nghiên cứu, tháo gỡ.

Quy định của Luật

Về việc thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như sau:
“3. Quyết định của đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định;
b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định”.
Khoản 2 Điều 52, cũng có quy định tương tự đối với việc thông qua các quyết định của hội đồng thành viên của công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên.

Những vướng mắc từ thực tiễn…

Trước hết, quy định nêu trên của Luật Doanh nghiệp là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông thiểu số. Song, do quá nhấn mạnh đến việc bảo vệ các cổ đông thiểu số nên không ít trường hợp gây những khó khăn không đáng có cho việc quản trị công ty. Các cụm từ: “ít nhất 65%”, “ít nhất 75%” và “tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định” là nguyên nhân gây khó khăn cho việc quản trị các công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và các công ty cổ phần. Xin nêu một ví dụ điển hình như sau:

Continue reading

VỀ LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH, HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG, HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN

TS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM – Trưởng văn phòng luật sư Quang Trung

Nhu cầu bồi thường thiệt hại cho các công dân, các tổ chức là nghĩa vụ, trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, thể hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan nhà nước và mọi công dân. Trước đây do sự bức xúc của xã hội công dân trước những hậu quả thiệt hại cho công dân và xã hội xuất phát từ những hành xử, việc làm của một số cán bộ, công chức vô tình hay cố ý gây ra, trong tình hình còn thiếu các văn bản luật pháp qui định, nhà nước Việt Nam đã có sáng kiến đáp ứng giải quyết có tính chất tình thế, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bằng hai văn bản:

 Nghị định số 47/CP ngày 03/05/1997 của chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra cùng một số văn bản hướng dẫn thi hành và nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ Ban thường vụ quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Việc ưu tiên ban hành sớm các văn bản pháp luật trên, do quan tâm trước hết về việc bồi thường các oan sai trên lĩnh vực tố tụng hình sự là hoàn toàn đúng đắn và thể hiện tính cấp bách, vì sự oan sai này sẽ đưa đến những hậu quả hết sức nghiêm trọng vì xâm phạm đến nhân thân, danh dự và cả tính mạng con người. Và trong thời gian qua, kết hợp hai văn bản trên với các qui định của Luật Hình sự, Luật Dân sự và cả Luật khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thẩm quyền nhà nước (trong đó có cả cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân) đã bước đầu giải quyết được khá nhiều vụ bồi thường thiệt hại về oan sai trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cũng như một số thiệt hại trên lĩnh vực dân sự, quản lý hành chính về đất đai, thậm chí tiến xa hơn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với số cán bộ, công chức có hành vi gây thiệt hại lớn, thiệt hại nghiêm trọng cho công dân, cho đơn vị tổ chức và doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Nhưng hiện nay, đã đến lúc cần có yêu cầu luật hoá cao hơn về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trên nhiều lĩnh vực không chỉ có tố tụng hình sự mà cả tố tụng dân sự, quản lý hành chính nhà nước, hoạt động thi hành án.

Continue reading