CÔNG VĂN SỐ 124/BXD-KHCN NGÀY 29 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ MỞ CỬA SỔ SANG ĐẤT LIỀN KỀ

Kính gửi:

Sở Xây dựng Cần Thơ

Bộ Xây dựng nhận được công văn số 192/SXD – QLXD ngày 13/3/2010 của Sở xây dựng Cần Thơ về việc trổ cửa sổ, cửa đi đối với hộ liền kề. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Về quan hệ với công trình bên cạnh và các yêu cầu kỹ thuật đối với công trình xây dựng được quy định tại điều 2.8.12 và điều 2.8.13 của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01: 2008/BXD.

Để đảm bảo các điều kiện thông thoáng và vi khí hậu trong nhà ở nên các yêu cầu hạn chế về mở cửa sổ, của đi không được quy định trong Quy chuẩn này. Tuy nhiên việc mở cửa sổ, cửa đi phải có giải pháp phù hợp sao cho tránh tia nhìn trực tiếp vào bên trong nhà bên cạnh và ảnh hưởng đến sinh hoạt riêng tư của hộ liền kề.

Trên đây là ý kiến trả lời của Bộ Xây dựng.

TL. BỘ TRƯỞNG
KT.VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC CN&MT
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Trần Hữu Hà

TRÍCH DẪN điều 2.8.12 và điều 2.8.13 của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01: 2008/BXD

2.8. 12. Quan hệ với các công trình bên cạnh:

Công trình không được vi phạm ranh giới:

– Không bộ phận nào của ngôi nhà kể cả thiết bị, đường ống, phần ngầm dưới đất (móng, đường ống), được vượt quá ranh giới với lô đất bên cạnh;

– Không được xả nước mưa, nước thải các loại (kể cả nước ngưng tụ của máy lạnh), khí bụi, khí thải sang nhà bên cạnh.

2.8.13. Các yêu cầu kỹ thuật khác đối với công trình xây dựng:

– Miệng xả ống khói, ống thông hơi không được hướng ra đường phố.

– Máy điều hòa nhiệt độ không khí nếu đặt ở mặt tiền, sát chỉ giới đường đỏ phải ở độ cao trên 2,7m và không được xả nước ngưng trực tiếp lên mặt hè, đường phố.

– Biển quảng cáo đặt ở mặt tiền ngôi nhà, không được sử dụng các vật liệu có độ phản quang lớn hơn 70%.

– Ở mặt tiền các ngôi nhà dọc các đường phố không được bố trí sân phơi quần áo.

– Hàng rào phải có hình thức kiến trúc thoáng, mỹ quan và thống nhất theo quy định của từng khu vực, trừ những trường hợp có nhu cầu bảo vệ, ngăn cách với đường phố (cơ quan cần bảo vệ, trường học, trạm biến thế điện…).

CIVILLAWINFOR

Có thể tải toàn văn Qui chuẩn số 01. 2008 TẠI ĐÂY

VỀ VIỆC HỌC VÀ DẠY NGOẠI NGỮ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGỮ

PHẠM THU NGUYỆT & TRỊNH THÚY HOA

Trong quá trình học đại học, cùng với các kiến thức về chuyên môn, ngoại ngữ cũng rất cần được trang bị. Trình độ chuyên môn tốt, vốn ngoại ngữ khá sẽ là tiền đề cho những người đã tốt nghiệp đại học hoàn thành tốt nhiệm vụ khi ra công tác. Qua điều tra ở một số trường đại học, tác giả đưa ra một số đánh giá và kiến nghị mà theo chúng tôi đây là những vấn đề cần được quan tâm.

Trong bối cảnh hiện nay, ngoại ngữ đã trở thành công cụ không thể thiếu để giao lưu, phát triển kinh tế – xã hội. Để sinh viên các trường đại học sau khi tốt nghiệp phát huy được vốn ngoại ngữ đã học được trong trường, có nhiều vấn đề chúng ta cần phải quan tâm. Bằng biện pháp thăm dò thông qua phiếu điều tra đối với sinh viên của một số trường đại học không chuyên ngữ ở Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra một vài đánh giá và kiến nghị.

Về số giờ lên lớp của sinh viên

Ngoại ngữ trong các trường đại học không chuyên ngữ được quy định là môn học bắt buộc. Trước năm 2000, số giờ áp dụng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là 450 tiết học, trong đó, sinh viên được học 400 tiết ngoại ngữ cơ bản, 50 tiết ngoại ngữ chuyên ngành. Từ năm 2000-2003, số giờ học giảm xuống còn 350 tiết. Nhưng theo quy chế hiện nay của Bộ GD&ĐT, số giờ học ngoại ngữ ở các trường đại học không chuyên ngữ chỉ có 150 tiết (tức là 10 đơn vị học trình) dành cho kiến thức chung; một số ít trường cho phép học thêm từ 3 đến 5 đơn vị học trình cho ngoại ngữ chuyên ngành. Môn học này được bố trí trong một năm học (năm thứ nhất hoặc năm thứ hai), kết thúc chương trình, học sinh không học môn này nữa. Tuy vậy, vẫn có một số trường tổ chức một số lớp nâng cao, nhưng chủ yếu là áp dụng cho tiếng Anh. Với thời lượng 150 tiết, các bộ môn ngoại ngữ bắt buộc phải điều chỉnh và xây dựng chương trình giảng dạy của mình sao cho phù hợp. Do vậy, mục tiêu đặt ra chỉ là biết đọc và biết viết những câu đơn giản sau khi hết chương trình.

Ngoại ngữ đã được quy định là môn học bắt buộc, tuy nhiên trong tình hình hiện nay, đa số sinh viên của một số địa phương khi tốt nghiệp phổ thông trung học có trình độ ngoại ngữ còn rất yếu. Khi được hỏi, 61% số sinh viên cho rằng, nếu học ít hơn 350 tiết thì không đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu của nơi thu nhận vào làm việc. Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn nhận thức được vai trò của việc học tập môn này và càng quan trọng hơn với những sinh viên không hề được học ngoại ngữ ở chương trình phổ thông trung học.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: GIẢ MẠO “HÌNH THỨC” HAY GIẢ MẠO “NỘI DUNG”

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

Vụ việc

Ông NK (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), thành lập cơ sở sản xuất nước mắm. Do sinh sau đẻ muộn, lại không có tên tuổi nên cơ sở ít có khách hàng. Thấy mọi người thích các nhãn hiệu phổ biến như Tám Phú, Bốn Phương, Phú Quốc – Thanh Châu…, ông đã thu mua vỏ chai cũ của các cơ sở này về làm sạch rồi bơm nước mắm của mình vào để đem bán. Được một thời gian, ông mua chai mới, in nhãn hàng mới có các dấu hiệu, hình thức hệt như sản phẩm của các cơ sở trên để làm thành các chai nước mắm thành phẩm loại 1 lít và 1/2 lít.

Công an phát hiện ra các hành vi trên. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất lượng nước mắm do cơ sở của ông K sản xuất. Kết quả giám định ghi nhận: “Sản phẩm không có lạc khuẩn, giới hạn phát hiện nhỏ hơn 0,03 ml, nồng độ đạm ghi trên nhãn mác đúng với độ đạm được xác định ở nước mắm trong chai. Tức là nước mắm của cơ sở ông K hoàn toàn không gây hại đến sức khỏe của người tiêu dùng và đảm bảo như tiêu chuẩn cơ sở đã công bố. Từ lúc bắt đầu thực hiện cho đến khi bị phát hiện, cơ sở của ông NK đã sản xuất khoảng 5.000 lít nước mắm, thu lợi nhuận khoảng 3 triệu đồng.

Tháng 2.2008, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã ra quyết định truy tố ông NK về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Tháng 3.2008, Tòa án nhân dân huyện mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử bị cáo NK về tội danh này. Xét thấy hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn, chất lượng nước mắm do cơ sở của bị cáo sản xuất tương đương với chất lượng nước mắm của các cơ sở mà bị cáo đã làm giả nên Tòa tuyên phạt bị cáo K 2 năm tù . Ông NK đã kháng cáo.

(Nguồn: Báo Pháp luật online – thành phố Hồ Chí Minh, ngày 9.5.2008)

Lời bình

1. Hành vi của ông NK là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm (giả về nội dung hàng hoá) quy định tại khoản 1 Điều 157 hay là hành vi xâm phạm quyền, sản xuất buôn bán hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (giả về hình thức hàng hoá) quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự?

Continue reading

CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

MICHAEL WATTS

Nếu các thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả, tại sao lại để cho chính phủ nhúng tay vào hoạt động của họ? Tại sao họ không áp dụng một chính sách gọi là laissez-faire (chính sách để mặc tư nhân tự kinh doanh – thị trường tự do) và cho phép các thị trường tư nhân hoạt động không chịu bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước? Có một vài lý do mà các nhà kinh tế và các nhà quan sát xã hội khác đã xác định có thể được minh họa với một vài ví dụ dưới đây. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, vai trò của chính phủ không phải là thay thế thị trường, mà là cải thiện các chức năng của nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, bất cứ quyết định nào nhằm quy định hoặc can thiệp vào hoạt động của các lực lượng thị trường (cung và cầu) đều phải được cân nhắc cẩn thận giữa cái hại do các quy định đó đưa ra với lợi ích mà các can thiệp đó đem lại.

Quốc phòng và hàng hóa công cộng

Quốc phòng là một ví dụ về vai trò không thể loại bỏ được của chính phủ. Tại sao? Bởi vì việc phòng thủ cho một quốc gia là một dạng hàng hóa hoàn toàn khác biệt so với cam, máy vi tính hay nhà ở: con người không thể thanh toán cho từng đơn vị hàng hóa mà họ sử dụng mà phải mua một tổng thể cho toàn bộ quốc gia. Cung cấp dịch vụ quốc phòng cho một cá nhân không có nghĩa là những người khác ít được bảo vệ hơn, bởi vì trên thực tế tất cả mọi người đều tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng này cùng nhau. Trên thực tế thì dịch vụ quốc phòng được cung cấp cho tất cả dân chúng trong một quốc gia kể cả những người không muốn dịch vụ này, bởi vì không có một cách làm hiệu quả nào khác. Chỉ có các quốc gia chứ không phải là các làng xã hay các cá nhân có thể có đủ nguồn lực để sản xuất máy bay chiến đấu phản lực.

Loại hình hàng hóa này gọi là hàng hóa công cộng, bởi vì không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán dịch vụ quốc phòng cho các công dân của một quốc gia mà vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh. Nó chỉ đơn giản là không thể bán dịch vụ quốc phòng cho những người cần và không bảo vệ những người từ chối thanh toán dịch vụ đó. Và nếu những người này vẫn được bảo vệ mà không phải trả tiền thì tại sao họ phải chọn cách thanh toán? Điều này được coi là vấn đề "kẻ ăn không", và đó là lý do chính giải thích vì sao chính phủ phải điều hành quốc phòng và dùng thuế để chi cho quốc phòng.

Continue reading