TÌM HIỂU CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

LS. VŨ HƯƠNG THẢO

Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu. Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định chung. Trong bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) cũng đã có một mục quy định về Hợp đồng bảo hiểm và coi đây là một loại hợp đồng thông dụng. Tuy nhiên, trong Luật KDBH và Bộ luật dân sự có những quy định về hợp đồng bảo hiểm là chưa thống nhất và còn một số bất cập.

Cụ thể:

1.Chế định Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH có những quan điểm đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo hiểm hơn so với Bộ luật dân sự.

Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Định nghĩa này có độ chênh so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm". Qua hai định nghĩa này có thể thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm, Bộ luật dân sự không quy định về người thụ hưởng mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm.

Đi sâu tìm hiểu có thể thấy từ quan điểm khác nhau về đối tượng bảo hiểm dẫn đến định nghĩa khác nhau, và các quy định cụ thể về trả tiền bảo hiểm cũng khác nhau. Điều 578 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau về bảo hiểm tính mạng: "Trong trường hợp bảo hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết, thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm".

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM

TS. NGUYỄN VĂN THÀNH – Cục quản lý – Giám sát bảo hiểm – Bộ tài chính

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi thực hiện công tác quản lý bảo hiểm chặt chẽ, việc định phí bảo hiểm cũng như các yếu tố thị trường khác được quản lý thận trọng, do đó khả năng phá sản của công ty bảo hiểm là khá nhỏ. Như vậy đặt ra vấn đề là có cần thiết phải xây dựng cơ chế đặc thù bảo vệ người tham gia bảo hiểm (NTGBH) tại những nước đang phát triển như Việt Nam hay không?

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đang có những sự thay đổi rộng khắp trên thế giới, tạo ra nhiều thách thức đối với khách hàng, công ty bảo hiểm và cơ quan quản lý bảo hiểm các nước. Công ty bảo hiểm thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một cao của người NTGBH, đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Một mặt, các công ty bảo hiểm tăng cường hiệu quả kinh doanh thông qua việc tái cấu trúc hoạt động và tập trung vào những sản phẩm bảo hiểm mũi nhọn. Mặt khác, các công ty này cũng chịu những rủi ro về tài chính, nhiều khi tạo sự bất ổn về tâm lý đối với khách hàng và cơ quan quản lý bảo hiểm.

NTGBH là chủ nợ của công ty bảo hiểm. Một chủ nợ thông thường cho vay sau khi đã kiểm tra độ tin cậy của người vay và chịu mọi trách nhiệm về quyết định cho vay. Trong khi đó, NTGBH lại phải gánh chịu những thông tin không đối xứng như không có khả năng kiểm tra độ tin cậy về tài chính của công ty bảo hiểm cũng như gặp khó khăn để có thể hiểu rõ được nội dung của một hợp đồng bảo hiểm. Xác định bảo hiểm là một sản phẩm cung cấp quyền lợi về tài chính trong tương lai và gắn liền với lợi ích của người dân, chính phủ các nước đều tiến hành giám sát chặt chẽ khả năng tài chính của công ty bảo hiểm, nhằm khắc phục tình trạng đề cập ở trên.

Trong thị trường cạnh tranh, việc một công ty bảo hiểm phá sản là không thể tránh khỏi. Vì vậy, mỗi chính phủ đều phải xác định liệu họ có thể hỗ trợ NTGBH đến mức độ nào khi một công ty bảo hiểm bị phá sản.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TS. NGUYỄN NGỌC BẢO

Khủng hoảng tài chính bùng nổ tháng 9/2008 từ nước Mỹ, nguyên nhân sâu xa là sự tích tụ các mâu thuẫn và mất cân đối nội tại của nền kinh tế Mỹ trong quá trình phát triển. Khủng hoảng tài chính đã lan nhanh và tác động làm suy thoái kinh tế thế giới. Chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế chung tay giải cứu thị trường tài chính, thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế mà chính sách tài khoá đóng vai trò là cơ bản, chính sách tiền tệ hỗ trợ.

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta trong năm 2009. Tuy nhiên, việc thực hiện kịp thời các giải pháp kinh tế, nền kinh tế nước ta đã vượt qua khủng hoảng, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao (5,32%), kiểm soát lạm phát ở mức thấp (6,52%), các cân đối kinh tế lớn về cơ bản được giữ vững, hệ thống tài chính ngân hàng duy trì và tiếp tục phát triển. Kết quả này có sự đóng góp tích cực của việc thực thi chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng, thận trọng. Trong năm 2010 và những năm tiếp theo – thời kỳ hậu suy giảm kinh tế, kinh tế nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước; việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp chính sách kinh tế có ý nghĩa quan trọng và cần thiết.

1. Vấn đề tăng trưởng kinh tế theo mô hình tổng cung – tổng cầu

1.1. Theo mô hình tổng cung – tổng cầu, thì chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nếu sử dụng trong dài hạn thì không làm tăng trưởng kinh tế mà tác động làm tăng lạm phát: (Hình 1)

Hình 1: Mô hình tổng cung, tổng cầu

clip_image002

Trong đó:

Continue reading

CẦN TÔN TRỌNG NGHỊ QUYẾT 71/2006/NQ-QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11 VỀ PHÊ CHUẨN VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã thoả hiệp nhiều vấn đề với các bên đàm phán. Trong đó, đoạn 502 và 503, Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Báo cáo của Ban công tác) quy định: các liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ và các liên doanh đã thành lập trước ngày Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực có quyền thoả thuận trong điều lệ liên doanh tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%.

Để thực thi cam kết này, ngày 29/11/2006, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11  (Nghị quyết 71) phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO, theo đó các cam kết WTO được áp dụng trực tiếp. Liên quan đến Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71 (Phần Phụ lục) quy định: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:

-Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông là 65% (Điều 52 và 104). Điều này mâu thuẫn với cam kết WTO của Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế". Theo điều khoản trên, những quy định tại Nghị quyết 71 đã phải được thực hiện kể từ khi Nghị quyết này có hiệu lực. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn để thực hiện những quy định nêu trên của Nghị quyết 71.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 09/2010/TT-NHNN NGÀY 26 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động ngân hàng thương mại;
Theo đề nghị của Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng,

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần (gọi tắt là ngân hàng).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Ngân hàng quy định tại Điều 1 Thông tư này.

2. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cấp Giấy phép.

Điều 3. Thẩm quyền cấp Giấy phép

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định cấp Giấy phép theo các quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan.

Continue reading

BÁO CÁO ÁN, DUYỆT ÁN: LỢI BẤT CẬP HẠI

THÁI PHẠM

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng là Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hoàn toàn không quy định việc báo cáo án, duyệt án. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử thì việc báo cáo án, duyệt án trước khi xét xử đã trở thành một thông lệ của các Tòa án địa phương.

Hiện nay, rất nhiều Tòa án (nhất là Tòa án cấp huyện), việc báo cáo án và duyệt án trước khi xét xử là công việc phải tiến hành đối với tất cả vụ án. Điều đó cho thấy, việc báo cáo án, duyệt án đã được các Tòa án mặc nhiên coi như một thủ tục bắt buộc trong khi pháp luật tố tụng không quy định thủ tục này. Thông thường hàng tháng, sau khi có lịch xét xử thì Tòa án tổ chức các buổi họp thường gọi là họp đường lối(có khi mất một vài ngày, tùy thuộc số lượng vụ án chuẩn bị xét xử) để các Thẩm phán báo cáo án và lãnh đạo Tòa án duyệt án. Thành phần, gồm lãnh đạo Tòa án và các Thẩm phán, có nơi còn có sự tham gia của các Thư ký Tòa án. Về trình tự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa báo cáo nội dung vụ án và đề xuất hướng giải quyết, sau đó tập thể Thẩm phán và lãnh đạo Tòa án tiến hành thảo luận, nếu không thống nhất được quan điểm về hướng giải quyết theo đề xuất của Thẩm phán thì hầu như phải theo quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án. Với hướng giải quyết vụ án đã được duyệt thì Thẩm phán không thể nào làm khác. Thực tế đã có nhiều thẩm phán “vượt rào” xử khác so với đường lối chỉ đạo khi duyệt án nên bị lãnh đạo phê phán.

Vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật tố tụng không quy định việc báo cáo án, duyệt án nhưng thực tế hầu hết các Tòa án lại thực hiện “thủ tục bắt buộc” này đối với tất cả các vụ án? Phải chăng pháp luật tố tụng không phù hợp, chưa theo kịp  thực tiễn tố tụng? Cần loại trừ nguyên nhân này, vì nếu đây là một thủ tục phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn thì tại sao lãnh đạo Tòa án các cấp đều không thừa nhận thực trạng này? Vậy thủ tục này mặc nhiên tồn tại là có hai nguyên nhân.

Continue reading

CẦM SỚM CHẤM DỨT KHOÁN TRẮNG, LÀM THAY TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THÁI PHẠM

Hoạt động tố tụng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, quyền tự do, tài sản, danh dự, nhân phẩm, sinh mệnh chính trị của các cá nhân; quyền về tài sản, danh dự, uy tín của các cơ quan, tổ chức mà còn góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ công lý, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Xuất phát từ tầm quan trọng đó mà Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân cũng như Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đã quy định cụ thể các điều kiện về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, thời gian và năng lực công tác để được bổ nhiệm, bầu (hội thẩm) vào các chức danh tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng quy định rất cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, từng chức danh tiến hành tố tụng. Mỗi cơ quan, mỗi chức danh tố tụng chỉ được phép thực hiện các hoạt động tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình mà pháp luật quy định. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ quan trọng của từng hoạt động tố tụng mà pháp luật quy định giao quyền và nghĩa vụ cho chức danh tố tụng nào thực hiện. Nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tố tụng luôn gắn liền với mỗi cá nhân theo một chức danh tố tụng nhất định, không có quy định nào cho phép ủy quyền lại hoặc khoán trắng cho người khác làm thay. Tuy nhiên trên thực tế, tại nhiều địa phương việc khoán trắng, làm thaytrong hoạt động tố tụng lại xảy ra khá phổ biến.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) thì việc lấy lời khai của đương sự và việc hòa giải là hai hoạt động tố tụng công khai trước đương sự, thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của thẩm phán. Nhưng hiện nay, tại nhiều tòa án thì hai hoạt động tố tụng này lại được các thư ký tòa án nghiễm nhiên thực hiện thay cho thẩm phán. Những hoạt động tố tụng công khai trước đương sự nhưng vẫn làm thay được như vậy, thì đối với các hoạt động tố tụng khác, không có mặt đương sự sẽ được làm thay phổ biến hơn. Thực tế tại nhiều tòa án địa phương, thư ký tòa án không chỉ làm thay thẩm phán một vài hoạt động tố tụng mà còn được thẩm phán khoán trắng trong cả quá trình giải quyết vụ án (trừ việc xét xử tại phiên tòa):

Continue reading

PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI VÀ MỤC ĐÍCH KÍCH CẦU

TS. PHẠM SĨ LIÊM – Viện nghiên cứu đô thị và hạ tầng

Bộ xây dựng đang chủ trì thực hiện đề án phát triển nhà ở xã hội. Đây là hy vọng mới cho những người có thu nhập thấp, đồng thời là trách nhiệm lớn của nhiều cơ quan, doanh nghiệp.

Thế nào là nhà ở xã hội?

Đối tượng phục vụ của chính sách Nhà ở xã hội là những người thu nhập thấp, tuy có thu nhập ổn định nhưng sau khi trang trải các nhu cầu cuộc sống thì chỉ dành dụm được chút ít, khó tích lũy đủ mua nhà hoặc thuê nhà hợp vệ sinh. Theo Bộ Xây dựng thì khả năng tích lũy tối đa của công chức để chi cho nhà ở chỉ khoảng 11,5% tổng thu nhập, một tỷ lệ quá thấp. Chính vì vậy mà Điều 53 Luật Nhà ở quy định đối tượng được thuê nhà ở xã hội là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, với điều kiện chưa sở hữu nhà ở hay thuê nhà ở của nhà nước; hoặc có nhà ở của mình nhưng diện tích bình quân dưới 5m2. Trước mắt, đến năm 2015, Bộ Xây dựng đề nghị tập trung ưu tiên các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, công nhân độc thân tại các khu công nghiệp và sinh viên, học sinh.

Nhà ở xã hội bao gồm: Nhà ở cho thuê do Nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư; Nhà ở cho thuê mua cũng do Nhà nước và các thành phần kinh tế đầu tư; Nhà ở giá thấp (không quá 7 triệu đồng/m2) do các thành phần kinh tế đầu tư để bán trả tiền ngay hoặc trả dần cho các đối tượng ưu tiên và các đối tượng khác do UBND cấp tỉnh quy định.

Cơ chế tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các loại nhà ở nói trên bao gồm: Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất trong dự án lên bằng 1,5 lần so với quy chuẩn nhà nước; Thuế giá trị gia tăng bằng không, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm (miễn 50% trong 9 năm tiếp theo, miễn 90% trong thời gian còn lại), miễn thuế sử dụng đất 3 năm kể từ khi giao đất; Được chính quyền cho vay vốn ưu đãi hoặc bù lãi suất; Được hưởng tỷ lệ lãi suất định mức bằng 10% tổng mức đầu tư dự án; Một số trợ giúp khác, chẳng hạn được chỉ định thầu.

Continue reading