SO SÁNH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀNG VÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

HỒ VIẾT TIẾN – Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam, nói đến đầu tư là người ta thường nghĩ đến vàng, đô-la, nhà đất và chứng khoán. Đầu tư đô-la thực chất chỉ là vì lo sợ trước yếu tố lạm phát của đồng tiền Việt Nam, nên hiện nay, khi lạm phát giảm đáng kể, đầu tư vào đô-la rõ ràng là kém hiệu quả. Bên cạnh đó, chưa có cơ quan nào thống kê được biến động chính xác giá nhà đất. Chỉ có vàng và chứng khoán là có thể so sánh được. Mặt khác, thời gian vừa qua chứng kiến những biến động đáng kể của thị trường chứng khoán, đồng thời gần đây giá vàng biến động chưa từng thấy trong vòng 10 năm nay. Chính vì thế, nhiều nhà đầu tư bắt đầu tính toán so sánh giữa sở hữu vàng và đầu tư cổ phiếu. Bài viết này so sánh lợi nhuận và rủi ro của 2 loại hình đầu tư đó.

Trong bài này, chúng tôi phân tích so sánh hiệu quả đầu tư vàng và đầu tư cổ phiếu. Giá vàng lấy từ trang web của Tổng cục Thống kê và Niêm giám Thống kê các năm 2000 và 2001, giá cổ phiếu căn cứ vào chỉ số VN-Index, có nguồn từ các trang web của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. HCM và các công ty chứng khoán. Số liệu lấy theo tháng (ngày cuối tháng) và tính từ 31/7/2000 đến 30/04/2007. Tổng cộng có 82 tháng. Kết quả như sau :

1. Đầu tư cổ phiếu lời hơn nhưng có điều kiện

Đồ thị 1 mô tả mức tăng giá của vàng và cổ phiếu (không tính cổ tức) trong 6 năm 9 tháng. Tính trung bình, sau gần 7 năm, vàng tăng được 160,1%, tương đương với 15,2%/năm. Như vậy, rõ ràng, vàng đem lại lợi nhuận cao hơn cả lãi suất tiết kiệm cũng như trái phiếu. Trong khi đó, giá chứng khoán tăng 809,8%, tương đương với mức tăng 38,7%/năm. Như vậy, về dài hạn, đầu tư cổ phiếu mang lại lợi nhuận gấp hơn 2 lần đầu tư vàng.

Đồ thị 1 : Mức tăng giá cổ phiếu và vàng giai đoạn 7/2000 – 4/2007

Continue reading

AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ THƯƠNG MẠI: KẺ THẮNG, NGƯỜI THUA TRONG THẾ GIỚI KHÔNG HÀI HOÀ

JOHN S. WILSON VÀ TSUNCHIRO OTSUKI – Ngân hàng Thế giới

An toàn thực phẩm hiện là vấn đề nóng trong buôn bán các sản phẩm nông nghiệp. Các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm được xây dựng như thế nào để hạn chế những ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển là vấn đề luôn được quan tâm, nghiên cứu. Các chuyên gia đã xem đây là một cuộc chiến mà kẻ thắng và người thua đều đến từ “một thế giới không hài hòa”.

Bài viết này đề cập đến những tác động đối với việc xuất khẩu nông sản của các nước (đặc biệt là các nước đang phát triển) khi Uỷ ban châu Âu (EC) quy định tiêu chuẩn Aflatoxin chặt chẽ hơn tiêu chuẩn Codex (được WTO thừa nhận là tiêu chuẩn quốc tế).

Một đòi hỏi khách quan là cần có sự hiểu biết một cách chính xác hơn về các quy định an toàn thực phẩm ảnh hưởng thế nào đến thương mại và ở phạm vi rộng hơn, trong việc đối phó với các thách thức nhằm tuân thủ Hiệp định về áp dụng biện pháp kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS) của WTO. Hiệp định SPS đưa ra các hướng dẫn mà theo đó, các tiêu chuẩn sản phẩm nông nghiệp phải xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và không có sự phân biệt đối xử hay cản trở thương mại một cách tuỳ tiện. Các nguyên tắc của WTO cho phép các nước thành viên đưa ra các tiêu chuẩn quốc gia ở bất cứ mức nào mà họ cho là phù hợp, mặc dù các nước đều được khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hiện có. Các nguyên tắc của WTO cho rằng, hài hoà và tương đương là phương pháp được ưu tiên để đảm bảo không phân biệt đối xử. Hệ thống các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm không đồng bộ là trái với cả hai nguyên tắc trên của WTO và kém hiệu quả kinh tế, gây chi phí giao dịch cao cho nhà xuất khẩu và người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù số liệu trong bài viết này còn hạn chế, song cũng cho thấy là phần lớn các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi hệ thống tiêu chuẩn chưa đồng bộ này, theo đó các doanh nghiệp của các nước này phải đối mặt với các tiêu chuẩn khác nhau tại các thị trường xuất khẩu đa dạng.

Continue reading

Bài học về thương mại và môi trường NHÌN TỪ MỘT VỤ KIỆN TRONG WTO

VĂN PHÒNG TBT VIỆT NAM (tổng hợp)

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ rất thú vị về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Đó là vụ kiện tôm – rùa biển do Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra chống lại Hoa Kỳ. Kết luận của vụ kiện là bài học quý cho tất cả các nước thành viên WTO trong hoạt động xuất/nhập khẩu liên quan đến lĩnh vực thương mại và môi trường.

Mục tiêu là bảo vệ động vật quý hiếm hay là sự phân biệt đối xử?

Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển.

Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này, trừ khi Tổng thống Hoa Kỳ chứng nhận mỗi năm trước Thượng nghị viện là việc đánh bắt tôm tại nước liên quan thoả mãn các quy định về bảo vệ rùa biển. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Dân sự Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong hai năm 1991 và 1993, một số quy định được đưa ra nhằm thi hành Điều 609 nêu trên. Theo các quy định này, Điều 609 chỉ được áp dụng cho các nước vùng Caribê và Tây Atlantic. Tháng 4.1996, các quy định này đã được áp dụng cho tất cả các loài tôm được đánh bắt trên toàn thế giới.

Continue reading

BÀI HỌC VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG NHÌN TỪ MỘT VỤ KIỆN TRONG WTO

VĂN PHÒNG TBT VIỆT NAM (tổng hợp)

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ rất thú vị về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Đó là vụ kiện tôm – rùa biển do Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra chống lại Hoa Kỳ. Kết luận của vụ kiện là bài học quý cho tất cả các nước thành viên WTO trong hoạt động xuất/nhập khẩu liên quan đến lĩnh vực thương mại và môi trường.

Mục tiêu là bảo vệ động vật quý hiếm hay là sự phân biệt đối xử?

Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển.

Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này, trừ khi Tổng thống Hoa Kỳ chứng nhận mỗi năm trước Thượng nghị viện là việc đánh bắt tôm tại nước liên quan thoả mãn các quy định về bảo vệ rùa biển. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Dân sự Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong hai năm 1991 và 1993, một số quy định được đưa ra nhằm thi hành Điều 609 nêu trên. Theo các quy định này, Điều 609 chỉ được áp dụng cho các nước vùng Caribê và Tây Atlantic. Tháng 4.1996, các quy định này đã được áp dụng cho tất cả các loài tôm được đánh bắt trên toàn thế giới.

Continue reading

HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ: RỐI KHI CHIA DI SẢN

HỒNG TÚ

Để giải quyết tranh chấp di sản sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, TAND Tối cao hướng dẫn các tòa thụ lý yêu cầu phân chia theo dạng chia tài sản chung… Thực tế áp dụng vẫn phát sinh vướng mắc. Nhiều chuyên gia cho rằng nên bỏ hẳn hướng dẫn này vì vô hiệu hóa thời hiệu khởi kiện.

Theo quy định, thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, tức sau thời hạn này, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện và có tranh chấp thì tòa cũng không xem xét.

Một bên không thừa nhận, tòa bó tay

Vì nhiều lý do, không ít vụ tranh chấp di sản thừa kế chỉ phát sinh sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện. Vì thế, ngày 10-8-2004, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết 02 (hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình). Theo đó, khi hết thời hiệu khởi kiện thừa kế mà các đồng thừa kế có yêu cầu nhờ tòa chia giúp khối di sản thì tòa vẫn thụ lý, giải quyết nếu các đồng thừa kế có văn bản cam kết di sản là tài sản chung chưa chia, không có tranh chấp về hàng thừa kế và nhờ tòa phân chia giúp.

Thực tiễn đã có không ít trường hợp được giải quyết êm xuôi nhờ Nghị quyết 02. Nhưng ngược lại, hiện cũng đang có rất nhiều vụ việc bị ách tắc chỉ vì một nguyên nhân đơn giản: Một bên đương sự (thông thường là người quản lý, chiếm hữu di sản) không chịu thừa nhận đó là tài sản chung và không yêu cầu tòa phân chia giúp.

Chẳng hạn như trường hợp của anh Đ. Cha mẹ anh có tất cả tám người con. Hai cụ mất trước năm 1985, không để lại di chúc, chỉ để lại một căn nhà trên đường Lê Lai, quận Gò Vấp (TP.HCM). Sau đó, người anh cả đại diện các đồng thừa kế quản lý, sử dụng căn nhà. Rồi ông này tự tiến hành khai nhận di sản với tư cách đại diện thừa kế duy nhất để chiếm trọn 600 triệu đồng tiền đền bù giải tỏa nhà.

Continue reading

VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA BỘ TƯ PHÁP LIÊN BANG THỤY SỸ TRONG VIỆC THAM GIA KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ HỢP TÁC PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP

THS. ĐẶNG HOÀNG OANH – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tham gia ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về hợp tác pháp luật và tư pháp là một trong các chức năng, nhiệm vụ phổ biến của Bộ Tư pháp hầu hết các quốc gia. Bài viết giới thiệu tóm tắt các chức năng của Bộ Tư pháp Liên bang Thuỵ Sỹ trong lĩnh vực nêu trên, hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc nghiên cứu, tăng cường chức năng của Bộ Tư pháp Việt Nam trong công tác hợp tác pháp luật, tư pháp nói chung và công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp nói riêng.

Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang Thuỵ Sỹ (Federal Department of Justice and Police- FDJP) có rất nhiều chức năng khác nhau. Bộ xử lý các vấn đề chính trị-xã hội, như cùng chung sống hoà bình giữa công dân Thuỵ Sỹ và công dân nước ngoài, cư trú chính trị, an ninh trong nước và phòng chống tội phạm. Đối với FDJP thì các vấn đề về hôn nhân và quốc tịch cũng quan trọng như các vấn đề về quản trị công ty, giám sát hoạt động cờ bạc hay soạn thảo các luật và văn kiện về tương trợ tư pháp quốc tế và hợp tác cảnh sát.

Bộ có bốn văn phòng Liên bang:Văn phòng Tư pháp Liên bang, Văn phòng Cảnh sát Liên bang, Văn phòng di cư Liên bang và Văn phòng đo lường Liên bang.

1. Văn phòng Tư pháp Liên bang (Federal Office of Justice – FOJ)

Văn phòng Tư pháp Liên bang là cơ quan của Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang, chịu trách nhiệm về các vấn đề lập pháp liên quan đến luật hiến pháp và hành chính, luật tư và luật hình sự. Đây là cơ quan cố vấn cho các cơ quan khác trong Chính phủ Thuỵ Sỹ về mọi vấn đề lập pháp và soạn thảo ý kiến tư vấn. Với tư cách là cơ quan giám sát, Văn phòng Tư pháp Liên bang giám sát đăng ký thương mại, đăng ký hộ tịch và đăng ký đất đai, cũng như việc thủ đắc bất động sản của những người cư trú ở bên ngoài Thuỵ Sỹ.

Ở tầm quốc tế, FOJ đại diện cho Thuỵ Sỹ trước Toà án Nhân quyền châu Âu và trước nhiều tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, FOJ là cơ quan trung ương trong các vụ việc liên quan đến bắt cóc trẻ em quốc tế và hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền quốc gia và quốc tế trong những vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp và dẫn độ.

Continue reading