THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: PHÙ HỢP HAY VÔ HIỆU?

NGUYÊN TẤN

Một vụ việc tranh chấp khá đơn giản nhưng gây tranh cãi khi tòa cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng ký kết giữa các bên là phù hợp pháp luật; ngược lại tòa cấp phúc thẩm thì tuyên hợp đồng ấy là vô hiệu.

Sơ thẩm một đằng, phúc thẩm một nẻo

Năm 2008, vợ chồng ông A (*) – chủ một doanh nghiệp ký hợp đồng dịch vụ thuê Công ty TNHH B(*) làm đại diện ủy quyền để thay mặt mình đàm phán, thương thuyết, giải quyết trục trặc trong một thương vụ chuyển nhượng đất đai có giá trị lên tới 50 tỉ đồng mà vợ chồng ông A là bên nhận chuyển nhượng. Vợ chồng ông A đồng ý trả cho Công ty TNHH B khoản chi phí dịch vụ số tiền cũng không nhỏ: 300 triệu đồng!

Trong lúc công việc ủy quyền đang được tiến hành theo thỏa thuận thì bất ngờ vợ chồng ông A cắt hợp đồng, đồng thời đâm đơn kiện đòi lại số tiền trên với lý do Công ty TNHH B không có chức năng để thực hiện dịch vụ nói trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27-8-2009, TAND quận Phú Nhuận xác định: hợp đồng giữa vợ chồng ông A và Công ty TNHH B “là hợp đồng dân sự về dịch vụ phù hợp về hình thức lẫn nội dung được quy định tại Bộ luật Dân sự”. Việc nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng là vi phạm thỏa thuận mà các bên đã ký kết. Trên cơ sở phân tích này, án sơ thẩm đã bác yêu cầu đòi lại số tiền 300 triệu của vợ chồng ông A.

Thế nhưng, ở cấp phúc thẩm phiên tòa ngày 10-12-2009 lại xử theo hướng hoàn toàn ngược lại mà phần thắng thuộc về bên nguyên đơn.

Án phúc thẩm lập luận rằng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH B được phép kinh doanh các ngành nghề như tư vấn đầu tư, tư vấn kinh tế, dịch vụ thương mại, kinh doanh nhà, xây dựng nhà và nhiều ngành nghề khác nhưng không có ngành nghề nào như hợp đồng dịch vụ đã ký với ông bà A (tức đại diện ủy quyền). Các dịch vụ thương mại theo Luật Thương mại cũng không có nội dung nào quy định như hợp đồng các bên đã ký kết.

Continue reading

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

TS. HOÀNG VĂN TÚ – Văn phòng Quốc hội

1. Thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam

1.1. Các quy định của pháp luật về giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp là một hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước, do đó các nội dung của nó phải được các VBQPPL quy định và khi thực hiện giải thích pháp luật các chủ thể buộc phải tuân theo. Thực tế cho thấy, tương ứng với mỗi hệ thống pháp luật sẽ có một cơ chế giải thích pháp luật và theo đó cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật sẽ được thể hiện dưới các hình thức văn bản khác nhau, có thể là Hiến pháp, luật hoặc văn bản dưới luật. Tuy nhiên, một cách chung nhất, cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật thường quy định các nội dung về:

– Chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật;

– Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật;

– Hình thức và giá trị pháp lý của văn bản giải thích pháp luật;

– Quy trình thủ tục khi tiến hành giải thích pháp luật.

Hiến pháp 1959 (khoản 3 Điều 53) là VBQPPL đầu tiên quy định về giải thích pháp luật với tư cách là một thẩm quyền của UBTVQH. Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà nhân dân địa phương; Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các văn bản thể chế hoá quy định này. Tuy nhiên, các văn bản này mới chỉ quy định nguyên tắc mang tính định hướng mà chưa quy định các nội dung cụ thể và do đó việc giải thích pháp luật chưa được tiến hành trên thực tế.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và các VBQPPL quy định về giải thích pháp luật như: Luật tổ chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Toà án nhân dân; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; Luật Ban hành VBQPPL; Quy chế hoạt động của UBTVQH; Nghị quyết số 02 của UBTVQH ban hành về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội; Nghị quyết số 369 của UBTVQH ban hành về việc thành lập Ban Công tác lập pháp năm 2003… và một số VBQPPL khác, đã quy định về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà không quy định về giải thích pháp luật. Theo đó, hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định với những nội dung cơ bản như sau:

Continue reading

LÀM ĐÚNG LUẬT, KẾT CỤC VẪN SAI!

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Trong khi Bộ luật Lao động quy định rõ, người lao động muốn thôi việc, phải báo trước một số ngày nhất định, nhưng theo thông tư hướng dẫn, thì con số ấy lại biến đổi khó lường và có thể gấp đôi thời hạn do luật định. Trong những trường hợp này, luật rất chuẩn xác, nhưng nếu chỉ làm theo luật thì lại thành không đúng.

Thời hạn trong luật

Theo quy định tại điều 37 của Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007), người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo trước ít nhất là 3, 30 hoặc 45 ngày, tùy theo từng loại hợp đồng lao động ngắn hay dài hạn. Nếu người lao động làm việc theo loại hợp đồng không xác định thời hạn, thì phải báo trước ít nhất 45 ngày.

Theo đúng câu chữ trong bộ luật này, thì 45 ngày này đương nhiên được hiểu đó là 1,5 tháng theo ngày lịch thông thường. Vì những trường hợp cần quy định khác, thì các điều luật đều xác định rõ là “ngày làm việc”.

Với thời hạn 45 ngày rõ ràng như trên, người lao động cũng như người sử dụng lao động có thể dễ dàng tính toán ra số ngày chính xác để tránh việc vi phạm về thời hạn báo trước. Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9-5-2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động cũng không có giải thích gì khác về cách tính số ngày đó.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa của Bộ luật Dân sự về thời hạn, đó là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác và được tính theo Dương lịch.

Thời hạn ngoài luật

Tuy nhiên, sau gần chín năm áp dụng quy định trên của Bộ luật Lao động, thời hạn báo trước đã bị thay đổi khác hẳn. Tại Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22-9-2003 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, thì số ngày báo trước nói trên đã bị “biến” thành “ngày làm việc”. Như vậy là, thời hạn báo trước từ chỗ rõ ràng, đơn giản, trở thành một sự phức tạp, gây khó khăn vướng mắc, vì rất khó xác định số ngày cụ thể.

Continue reading