VÀI Ý KIẾN VỀ TÍNH XÃ HỘI – NHÂN VĂN KHI HIỆN THỰC HÓA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

NGUYỄN TÔN THỊ TƯỜNG VÂN – Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM

Thực tế, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật ra đời nhưng hiệu quả thực tế không như mong muốn, đơn cử Nghị định 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Từ khi có hiệu lực đến nay, việc thực hiện Nghị định này của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn, khả năng triển khai vẫn rất thấp, trong khi doanh nghiệp vẫn tiếp tục tìm đến các văn phòng luật sư hay tư vấn luật tư nhân như trước khi có Nghị định. Như vậy, Nghị định ra đời chỉ mang đến sự hy vọng, hoặc sự sáng sủa hơn cho hoạt động tư vấn luật vốn khá sôi động hiện nay.

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tương tự, làm sáng tỏ hơn bức màn trách nhiệm của các cơ quan chức năng khi làm sai, làm ẩu. Bởi vì, trước khi có Nghị định này, với các văn bản quy phạm pháp luật khác như Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã tạo ra tính pháp lý của việc bồi thường trong tố tụng hình sự. Mảng còn khá xa lạ là bồi thường thiệt hại do công tác hành chính gây ra. Nhưng, ở cả hai mảng, đều cần phải xem lại khả năng hiện thực hóa. Các góp ý ở Toạ đàm JICA ngày 4/3/2010 dựa trên chuẩn mực pháp lý, còn bài viết này của tôi xét trên khía cạnh xã hội – nhân văn. Khía cạnh này, khi ban hành chính sách, ít khi được xem xét tới đã gây ra khá nhiều khúc mắc khi có hiệu lực và khó khăn khi thi hành.

Ở mảng tố tụng hình sự, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước kề thừa và luật hóa từ Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH và đã xảy ra trong thực tiễn nên khá rõ và đầy đủ, ý kiến góp ý cũng nhiều. Nhưng thực tế là, số vụ được bồi thường thể hiện sự không tương ứng với số vụ oan sai; và để được bồi thường, người bị thiệt hại phải trải qua một thời gian khá dài đeo đuổi vụ kiện, có khi đến tàn gia bại sản, đôi khi liên đới nhiều người khác. Vậy, khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đi vào cuộc sống, dự báo nào sau đây được đưa ra: (1) số lượng vụ oan sai sẽ giảm đi, (2) số lượng người được bồi thường và bị bồi thường sẽ tăng lên?

Continue reading

BAN HÀNH VÀ THỰC THI LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC- MỘT BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.

TS. DƯƠNG THANH MAI – Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020 đã xác định hai trọng tâm là xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng các đạo luật quan trọng đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân như Luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật về Hội, Luật Trưng cầu ý dân….Trong bối cảnh Quốc hội và Chính phủ đang triển khai việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 48 và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã bắt đầu có hiệu lực để đi vào cuộc sống, bài viết này xin góp một góc nhìn về vị trí của đạo luật này trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

1. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là một phương thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ khi đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định về kinh tế và dân chủ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là phương thức tổ chức nhà nước dân chủ nhân dân theo những giá trị phổ biến của nhân loại về pháp quyền và những giá trị riêng của Việt Nam phù hợp với các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

Cho đến nay, chưa có văn kiện nào của Đảng và Nhà nước ta xác định chính thức các tiêu chí/giá trị của Nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, qua phân tích quá trình phát triển nhận thức và quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng về vấn đề này, có thể nhận diện những đặc trưng sau đây của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
(i) Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;

(ii) Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội;

Continue reading

QUYỀN DỰ HỌP ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG CỦA CỔ ĐÔNG NHỎ CÔNG TY CỔ PHẦN HIỆN NAY

THS. TRƯƠNG VĨNH XUÂN – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia khu vực IV

Hiện nay, cổ đông có tỷ lệ vốn góp cổ phần nhỏ trong công ty cổ phần (CTCP) chiếm số lượng rất lớn, đặc biệt là từ khi xuất hiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Song song với mức phát triển về số lượng của cổ đông nhỏ là sự vi phạm quyền lợi của họ trong CTCP, trong đó quan trọng là quyền dự họp Đại hội cổ đông. Thông qua thực tiễn đã xảy ra tại các CTCP hiện nay, chúng tôi mong muốn sẽ có những phân tích và đánh giá đem lại tính khách quan khi xem xét vấn đề này.

1. Cổ đông nhỏ là ai?

Cổ đông là những người góp vốn vào công ty. Muốn trở thành cổ đông CTCP, cá nhân hoặc tổ chức hoặc góp vốn thành lập công ty hoặc mua cổ phần từ cổ đông khác. Cổ đông có nhiều loại, tùy từng tiêu chí mà chúng ta có các loại cổ đông khác nhau. Dựa vào khối lượng vốn góp, chúng ta có cổ đông nhỏ và cổ đông lớn1. Việc xác định cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn không có ý nghĩa khi góp vốn, mà chỉ có ý nghĩa khi các cổ đông thực hiện quyền, nghĩa vụ.

Luật Doanh nghiệp 2005 (Luật DN) xác định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 10% tổng số cổ phần trở lên sẽ có thêm một số quyền khác so với cổ đông phổ thông2. Đồng thời, Luật DN cũng quy định mức cổ đông sở hữu 5% tổng số vốn điều lệ có thể tham gia Hội đồng quản trị3 và mức này cũng là cơ sở để cổ đông phải đăng ký/báo cáo với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền kể từ ngày có được tỷ lệ sở hữu đó4.

Luật Chứng khoán 2007 quy định: Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành5. Theo quy định của luật này, cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần của công ty.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 23/2010/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VIỆC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC CỦA CƠ QUAN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 18 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này bao gồm:

1. Tài sản nhà nước của Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là Cơ quan đại diện).

2. Tài sản nhà nước của các Cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài không thuộc cơ cấu tổ chức của Cơ quan đại diện (sau đây gọi chung là Cơ quan khác).

3. Tài sản là đất đai, trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện trao đổi theo hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước sở tại; bất động sản thuê theo hiệp định hoặc do Cơ quan đại diện, Cơ quan khác ký hợp đồng thuê là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nhà nước Việt Nam trong thời gian hiệp định hoặc hợp đồng có hiệu lực.

4. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của các doanh nghiệp của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

Continue reading

LUẬT GIỮA VÒNG VÂY LỢI ÍCH

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cũng vì việc vận động diễn ra công khai mà xã hội, tức là công luận, người dân có điều kiện theo dõi và giám sát việc cân nhắc, lựa chọn của người nắm quyền lực công giữa các phương án xây dựng, áp dụng pháp luật khác biệt.

image Dùng thế lực để chi phối việc làm luật cũng như việc thi hành luật là hiện tượng xã hội ở đâu thời nào cũng có: đơn giản, ai cũng muốn luật pháp phục vụ hơn là gây khó khăn cho mình.

Tuy nhiên, trong điều kiện các lợi ích được theo đuổi rất khác biệt, thậm chí đối lập nhau, sự tác động từ bên ngoài đối với người làm luật, người thi hành luật có thể mang dáng dấp của một cuộc tranh giành loại trừ: người được, thì kẻ mất; ở đây có người được đãi ngộ, nuông chiều, thì hẳn đồng thời ở đằng kia có người khác bị ruồng bỏ, bạc đãi. Chẳng hạn, bằng việc cho phép doanh nghiệp xăng dầu tăng giá bán, nhà chức trách đặt người tiêu dùng trong tình trạng buộc phải chi thêm (nghĩa là mất) một số tiền để mua cũng chừng đó nhiên liệu; phê duyệt một dự án quy hoạch xây dựng sân golf trên một vùng đất ruộng cũng đồng nghĩa với việc từ chối duy trì quyền canh tác, quyền định cư của những người nông dân đang sống trên đất đó.

Nếu cứ để mặc cho cuộc chơi dưới sự thống trị của quy luật hoang sơ “mạnh được, yếu thua”, thì sớm muộn gì các vùng đất “làm luật” và “thi hành luật” sẽ bị phe mạnh nhất đánh chiếm; hệ thống pháp lý tất yếu sẽ đi đến chỗ bị phân đôi, tương ứng với sự phân đôi của xã hội thành bên thắng, bên thua: quyền lợi và sự bảo đảm sẽ được ưu tiên dành cho một bộ phận thành viên có sức mạnh khống chế, còn gọi là tầng lớp trên; còn nghĩa vụ, rủi ro chủ yếu trút lên vai những thành viên yếu hơn, ở tầng lớp dưới. Người giàu có thể vào nhà người nghèo chẳng cần xin phép; còn người nghèo mà tự tiện đi vào đất của người giàu thì coi chừng bị chó dữ cắn chết, như trường hợp chết bi thảm của người phụ nữ mót cà phê mà báo chí và dư luận đề cập thời gian gần đây.

Continue reading

SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ MỘT VÀI LƯU Ý TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

 ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo. Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên. Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Là những câu hỏi sẽ được giải đáp bởi cơ chế "sự kiện bất khả kháng" trong luật hợp đồng.

1. Sự kiện bất khả kháng

Ngày 10/10/2008, Công ty A (Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu dưa chuột cho công ty B (Singapore), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B. Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xẩy ra ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam ảnh hưởng đến vụ mùa dưa chuột, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng. Vấn đề đặt ra là sự kiện lũ lụt ở khu vực Bắc Bộ có phải là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này hay không?

Ngày 15/12/2009, Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lô hải sản sang EU cho công ty B có trụ sở tại EU. Theo quy định của Hợp đồng thì hàng phải được giao tại cảng của EU trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 25/12/2009, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Tuy nhiên hàng đến chậm so với dự kiện 20 ngày, Công ty A nại lý do hàng đến chậm vì việc cơ quan hành chính Việt Nam còn lúng túng trong việc triển khai cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU nên thủ tục hành chính chậm chạp dẫn đến việc hàng đến chậm so với dự kiến và đề nghị được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Vậy việc cơ quan hành chính Việt Nam túng túng, chậm trễ trong việc triển khai thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Continue reading

QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP: CÓ MỘT “TỪ HẢI” THỜI NAY…

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Đã hai năm nay, nhiều người thân gọi đùa ông K., Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần KHB (vì lý do tế nhị, tên công ty và các nhân vật đã được thay đổi) là ông Từ Hải thời @, tức là ông K. đang bị “chết đứng”. Nhưng không phải ông K. chết đứng vì ái tình mà vì sự việc hy hữu của công ty cổ phần nơi ông là chủ tịch hội đồng quản trị. Kể câu chuyện của ông K. thiết nghĩ cũng bổ ích và lý thú đối với việc kinh doanh và luật pháp ở Việt Nam.

Tóm tắt sự việc

Đầu năm 2008, bốn người tâm đắc gồm các ông K., H., B., Đ. hợp tác, góp vốn thành lập Công ty cổ phần KHB, kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, tư vấn chuyển giao công nghệ, tổ chức sự kiện, đào tạo, quảng cáo… vốn là thế mạnh về chuyên môn của cả bốn người, đặc biệt là của ông K. và ông H. – những người đã có học vị tiến sĩ chuyên ngành. Số vốn điều lệ của công ty là 1 tỉ đồng, trong đó ông K. góp 300 triệu, ông H. 300 triệu, ông B. 200 triệu và ông Đ. 200 triệu đồng. Đáng lưu ý là ông B. và ông Đ. là hai anh em ruột. Ông B. được bầu làm Tổng giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty, còn ông K. là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Tháng 3-2008, việc góp vốn hoàn tất. Công ty đã thuê văn phòng và khai trương hoạt động. Ngay khi góp vốn, một sự kiện không bình thường đã xảy ra: ông Đ. đề nghị ông K. cho vay 200 triệu đồng để góp vốn và sẽ trả trong thời hạn 10 ngày. Ông K. đã đồng ý cho vay, ông Đ. đã có tên trong danh sách các cổ đông sáng lập và phiếu thu tiền góp vốn là 200 triệu đồng.

Nhưng sau đó, dù đã đôn đốc rất nhiều lần, ông Đ. vẫn không thanh toán trả cho ông K.Từ tháng 5 đến tháng 8-2008, ông B. – Tổng giám đốc công ty – đã lập nhiều giấy biên nhận “tạm ứng” tiền của công ty với tổng số tiền 400 triệu đồng. Sau khi đã “ứng” đủ 400 triệu đồng, ông B. bỗng dưng biến mất, không hề đến công ty nữa.

Continue reading

HÃY BỎ TRẦN LÃI SUẤT

TS. NGUYỄN QUANG A

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa có quyết định cho phép các ngân hàng thương mại có thể cho vay trung dài hạn theo lãi suất thoả thuận. Đây là một bước đi đúng hướng, tuy có muộn.

Trong thời gian qua có quá nhiều biện pháp hành chính đã được dùng trong nền kinh tế, gây lo ngại về xu hướng quay lại cách quản lý thời xưa đã bị cuộc sống phủ định. Ngân hàng Nhà nước có các công cụ “thị trường” của mình để điều tiết và nên huỷ bỏ các biện pháp hành chính, nhất là các loại trần lãi suất.

Dùng các trần lãi suất luôn làm méo mó thị trường, và các ngân hàng thương mại muốn hoạt động bình thường đều phải “lách”. Họ lách trần lãi suất cho vay bằng cách thu các loại phí.

Trần huy động tiền gửi thực ra không có, nhưng nếu bất cứ ngân hàng thương mại nào huy động trên 10,5%/năm là bị nhắc nhở, thanh tra toàn diện luôn. Các ngân hàng lại phải “lách” bằng cách thưởng, khuyến mãi đủ loại. Chi phí thực về huy động của các ngân hàng có khi lên đến 12%/năm hay hơn (gửi nhiều có thể được hưởng “lãi suất thật” lên đến 12 thậm chí 13%/năm). Họ không thể cho vay 13%/năm vì sẽ lỗ nặng.

Và như thế, khi cho vay, do bị trần lãi suất ràng buộc nên lãi suất ghi trên hợp đồng danh nghĩa luôn là mức trần (12%/năm), nhưng cái giá thật (lãi suất thực mà người vay phải trả) đã ở mức 15-17%/năm từ nhiều tháng nay rồi. Đó là thực tế cuộc sống, không thể trách các ngân hàng “lách” luật. Quy định chưa sát, không ăn nhập với cuộc sống, buộc họ phải làm vậy và làm thế không vi phạm luật hiện hành.

Continue reading

THỦ TỤC TỐ TỤNG PHẢI CHẶT CHẼ

PHẠM THÁI QUÍ

Báo ĐBND ra ngày 5.3.2010 có đăng bài “Thủ tục tố tụng còn phiền hà” của tác giả Phạm Dân. Sau khi đọc bài viết thấy rằng, công tác cải cách tư pháp mà đặc biệt là việc xây dựng pháp luật liên quan đến công tác tư pháp là vấn đề quan trọng được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, để có sự nhìn nhận đúng đắn, tôi thấy cần tham gia trao đổi về vấn đề mà tác giả đã nêu trong bài viết.

Nếu những ai quan tâm đến đời sống chính trị – xã hội dễ nhận thấy rằng, thời đại ngày nay đã có sự chuyển biến mạnh mẽ của tất cả các hình thức nhà nước, đó là đã giảm dần chức năng cai trị mà thay vào đó là chức năng phục vụ nhân dân. Theo đó, các quyền con người của mọi cá nhân phải được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Những bảo đảm đó chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn trong một nhà nước pháp quyền (nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải lấy tinh thần thượng tôn pháp luật làm đầu…). Thể hiện của sự tiến bộ trong quan hệ giữa Nhà nước và người dân, đó là đối với người dân thì được phép làm những gì mà pháp luật không cấm, nhưng đối với cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước thì chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi hoạt động công vụ của cơ quan, của cán bộ, công chức nhà nước liên quan đến quyền lợi của người dân ngày càng được pháp luật quy định cụ thể và kiểm soát chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong các lĩnh vực tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.

Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và triển khai thực hiện việc xây dựng nhà nước pháp quyền, tiến hành công cuộc cải cách tư pháp mà trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động của các cơ quan tư pháp được đặc biệt chú trọng. Thực hiện theo đúng tinh thần nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, hệ thống pháp luật của nước ta trong những năm qua đã được xây dựng, hoàn thiện dần theo hai xu hướng trái ngược nhau, đó là: Đối với hành lang pháp lý để người dân thực hiện các quyền công dân (sử dụng pháp luật) như: đăng ký kinh doanh, thương mại, hành nghề, thực hiện các quyền về cư trú, hộ tịch… thì quy định ngày càng thông thoáng. Còn đối với hành lang pháp lý để các cơ quan nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người dân (áp dụng pháp luật) như: xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là hệ thống pháp luật tố tụng (hình sự, dân sự và theo nghĩa rộng gồm cả thủ tục thi hành án hình sự, dân sự)… thì quy định ngày càng chặt chẽ và kín kẽ. Hai xu hướng này phù hợp với nhu cầu của xã hội trong cuộc sống văn minh, hiện đại và nhân văn.

Continue reading