NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ THỂ CHẾ PHÁP LÝ

PHAN LÊ

Sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO), các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế nước ta đều có những thay đổi. Ngân hàng Việt Nam cũng có những thay đổi về quản lý, về điều hành chính sách tiền tệ. Song, Ngân hàng Việt Nam vẫn đang ở tình thế "gà mắc tóc" trong tiến trình hội nhập. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là những vướng mắc lớn về thể chế pháp lý đã tồn tại từ lâu nhưng vẫn chưa được tháo gỡ.

NHỮNG VƯỚNG MẮC LỚN

Theo Điều 483, Bản cam kết Việt Nam gia nhập WTO, từ ngày 01/4/2007, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ngoài được mở NHTM 100% vốn nước ngoài (còn gọi là ngân hàng con) tại Việt Nam, với điều kiện tính đến cuối năm trước, ngân hàng mẹ có tài sản 20 tỷ USD. NHTM nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam, ngân hàng mẹ có tổng tài sản là 10 tỷ USD và cấp vốn cho chi nhánh tại Việt Nam ít nhất 15 triệu USD; NHTM nước ngoài góp với NHTM Việt Nam để hình thành ngân hàng liên doanh, NHTM nước ngoài góp vốn không quá 50% vốn điều lệ; NHTM nước ngoài được mua cổ phần NHTM cổ phần của Việt Nam, tối đa không quá 30% vốn điều lệ. Ngày 28/2/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2006/NĐ-CP để quy định chi tiết việc thực hiện nội dung nêu trên.

Tuy nhiên, khó có thể thực hiện đúng nội dung đã cam kết nêu trên thông qua một Nghị định của Chính phủ. Muốn thực hiện những điều Việt Nam cam kết gia nhập WTO, đòi hỏi Nhà nước CHXHCN Việt Nam thay đổi một số điều không còn phù hợp với thông lệ quốc tế của Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam.

Trước hết là địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá IX thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều Luật NHNN Việt Nam, nhưng không phù hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể là:

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI: KHOẢNG CÁCH GIỮA QUI ĐỊNH VÀ THỰC THI

CÔNG BÌNH

Theo đánh giá của UNDP, chỉ số phát triển giới của Việt Nam được đánh giá ở mức cao so với nhiều quốc gia có cùng trình độ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng giới ở nước ta vẫn tồn tại và giữa quy định của pháp luật với việc thực thi vẫn là một khoảng cách khá xa.

Có thể nói rằng, cho đến nay, nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ điều chỉnh về bình đẳng giới. Quyền của phụ nữ được thể hiện rõ trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới… Chính phủ, các bộ ngành và các địa phương cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Hệ thống văn bản trên đã tạo nên một khung pháp lý tương đối đồng bộ và toàn diện điều chỉnh về bình đẳng giới.

Nhìn chung, trong những năm qua, các quy định về bình đẳng giới đã được thực hiện khá nghiêm túc, đạt nhiều kết quả bước đầu rất khả quan. Tuy nhiên, theo kết quả các đợt giám sát về bình đẳng giới của Ủy ban Về các vấn đề xã hội, bên cạnh những tín hiệu đáng mừng, vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Tình trạng bạo lực gia đình, xâm hại tình dục trẻ em và phụ nữ vẫn tồn tại ở các địa phương. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, phụ nữ ở một số địa phương vẫn chưa đạt các chỉ tiêu đề ra. Tỷ số giới tính của trẻ sơ sinh ở một số tỉnh vẫn còn cao, chưa phù hợp với quy luật thông thường. Bên cạnh đó, định kiến giới vẫn còn tồn tại khá phổ biến trong xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vai trò và vị trí của phụ nữ và trẻ em gái tuy đã được cải thiện nhưng cơ hội học tập, phát triển của phụ nữ nói chung còn có nhiều hạn chế so với nam giới…

Continue reading

ĐỂ TRÁNH LẠM DỤNG TUYÊN HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Tiếp theo vấn đề hợp đồng phù hợp hay vô hiệu của TBKTSG số 9-2010 ra ngày 25-2-2010, bài viết này của TS. Nguyễn Quốc Vinh sẽ phân tích về nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi đang ký kinh doanh (ĐKKD) trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị để giải quyết vấn đề này.

Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD và trong văn kiện thành lập công ty, bao gồm điều lệ (Articles of Association) và thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association), được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (doctrine of ultra vires).

Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. “Ultra” theo tiếng La tinh có nghĩa là vượt quá còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người. Học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong pháp luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện (Acts of Parliament). Tuy nhiên, học thuyết chỉ bắt đầu được áp dụng phổ biến sau sự ban hành Đạo luật về công ty cổ phần năm 1856 (Joint Stock Company Act 1856).

Khi ban hành đạo luật này, các nhà lập pháp Anh quốc có suy nghĩ rằng một khi cho phép trách nhiệm của cổ đông là hữu hạn thì chủ nợ của công ty sẽ không được đảm bảo. Bởi vì, cổ đông trong công ty có thể lạm dụng địa vị trách nhiệm hữu hạn để trốn tránh trách nhiệm cá nhân của mình. Vì lẽ đó, để bảo vệ chủ nợ và cổ đông tương lai, đạo luật về công ty cổ phần 1856 yêu cầu rằng trong thỏa thuận thành lập, các cổ đông phải có điều khoản về phạm vi hoạt động (object clause) của công ty, trong đó liệt kê các lĩnh vực kinh doanh của công ty.

Continue reading

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP: QUI ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN

LÊ HOÀNG TÙNG

Thời gian gần đây, một số công ty cổ phần Việt Nam đã bày tỏ mong muốn và xúc tiến các thủ tục cần thiết để đăng ký niêm yết tại nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình đó gặp không ít khó khăn mà các yêu cầu về cơ chế quản trị nội bộ và thành viên HĐQT độc lập là một trong các vướng mắc.

Thành viên Hội đồng quản trị độc lập

Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý thường không phải là cổ đông nắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Do đó, luật về quản trị doanh nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường niêm  yết thường yêu cầu trong cơ cấu HĐQT công ty phải có sự tham gia của các thành viên HĐQT độc lập (Independent directors – ID). Các thành viên này có vai trò rất quan trọng trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.

Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong quy định về ID, nhưng tựu chung có thể thấy ID bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn về tính độc lập như sau:

1. Độc lập trong quan hệ nhân thân

– Không từng là nhân viên, người quản lý điều hành của công ty, người đại diện vốn của công ty mẹ tại công ty trong vòng 3-5 năm trước đó.

– Không có mối quan hệ, liên kết với người quản lý điều hành, nhân sự cấp cao của công ty, cổ đông lớn (sở hữu một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của công ty trở lên).

Continue reading

THỦ TỤC TỐ TỤNG CÒN RƯỜM RÀ

PHẠM DÂN

Hiện nay, các cơ quan hữu quan đang chú trọng những giải pháp cải cách trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, một số quy định về thủ tục tố tụng vẫn bộc lộ hạn chế; việc giải quyết các vụ việc còn rườm rà, thiếu thuận lợi đối với người dân và các cơ quan, tổ chức khi có vấn đề cần đến sự xem xét, giải quyết của các cơ quan tư pháp.

Hiện nay, công dân khi tham gia vào các quan hệ tố tụng trong lĩnh vực dân sự còn bị ràng buộc bởi khá nhiều quy định không hợp lý. Thông thường, một người muốn khởi kiện dân sự thì phải viết đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự mới được Tòa án chấp nhận. Quá trình điều tra, giải quyết vụ việc, một thủ tục bắt buộc là phải qua bước hòa giải tại Toà án; nếu các bên thống nhất được với nhau những vấn đề cần thiết thì Tòa án ra quyết định công nhận tự thỏa thuận của các đương sự, quyết định này có giá trị như một bản án; nếu không tự thỏa thuận được thì mới đưa ra xét xử, kết quả ghi nhận bằng một bản án. Như vậy đã có thể thấy, khi vụ việc được Tòa án tiến hành xét xử, buộc một bên phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia thì các bên đã thể hiện sự quyết tâm để đạt được mục đích của mình. Lẽ  ra, khi các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được Tòa án chuyển đến, thì cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành theo nội dung các bên đã thỏa thuận, hoặc tòa án đã phán quyết để bảo vệ cho các đối tượng có quyền lợi bị xâm hại. Thế nhưng, theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thì ngoài 5 trường hợp quy định tại khoản 1 điều này (chủ yếu liên quan thi hành án phí, các khoản sung công quỹ Nhà nước…), các trường hợp còn lại chỉ phát sinh trách nhiệm của cơ quan thi hành án khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án (thực tế thường gọi là thi hành theo yêu cầu). Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự còn quy định, đơn của người được thi hành án phải nói rõ các nội dung yêu cầu, gửi kèm bản án hoặc quyết định công nhận thoả thuận; trên cơ sở đó, cơ quan thi hành án mới ra quyết định thi hành án, tiến hành các hoạt động xác minh tài sản, tổ chức cưỡng chế, kê biên tài sản…

Continue reading

VÌ SAO BÃO MANG TÊN PHỤ NỮ?

LÊ HOÀNG

Việc đăng bài viết chỉ để chia sẻ vui không mang tính kết luận của một quan điểm – Civillawinfor

Trên thế giới, chỉ có việt nam là gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên bão theo các danh từ mỹ mìêu và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp.

Đã nhiều lần tổ chức bảo vệ nhân quyền kêu ca về vấn đề này, và các quốc gia cũng thử sữa chữa. Nhưng than ôi, hễ đặt tên bão khác đi, thì hoặc nó không đến, hoặc tệ hơn nó đến mà hổng ai đề phòng, gây hậu quả thảm khốc.

Gần đây , các nhà khoa học đã tổ chức hội thảo, xem xét sự giống nhau và khác nhau giữa 1 cơn bão và 1 “quý cô”. Cuối cùng họ đã đư ra kết luận như sau:

Sự giống nhau:

1 – Bão và phụ nữ đều hình thành từ những vùng bí hiểm và từ những nguyên nhân bí hiểm.

2 – Đường đi của bão và phụ nữ đều không thể đoán trước.

3 – Cả phụ nữ và bão đều có thể bất ngờ mạnh lên.

4 – Cả 2 đều có kèm theo mưa.

5 – Cả hai đều có thể gây hư hại cho cây cối, nhà cửa và hoa màu.

6 – Trước khi bão tới và trước khi phụ nữ nổi giận, trời rất đẹp.

7 – Vật thổi tung trước tiên thường là quần áo.

8 – Phương pháp đề phòng tốt nhất là đóng cửa ngồi im trong nhà,

9 – Có nhiều tiếng nức mạnh.

10 – Muốn tồn tại đều phải biết sống chung.

Continue reading