THỰC TRẠNG KINH DOANH ĐA NGÀNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

TRẦN THỊ NGUYỆT & TRẦN TRUNG VĨ – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

TÓM TẮT

Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty Nhà nước là mô hình doanh nghiệp thể hiện sức mạnh kinh tế của một đất nước. Vấn đề quản lý và năng lực quản lý của Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước luôn là vấn đề được quan tâm cả ở phương diện kinh tế và phương diện xã hội. Hiện nay, các doanh nghiệp khổng lồ này đang bị xã hội lên tiếng chỉ trích về xu hướng mở rộng kinh doanh đa ngành xa rời ngành kinh doanh chính. Vấn đề quản lý Nhà nước đối với phần vốn Nhà nước đang bộc lộ sự bất hợp lý.

Việc tìm ra một mô hình cơ quan quản lý Nhà nước phù hợp để quản lý các doanh nghiệp này là một việc làm bức thiết. Bài viết này đề cập tới mô hình tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam hiện nay và vấn đề năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh của hệ thống tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước trong xu hướng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực.

Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay không hiếm các doanh nghiệp có quy mô lớn tồn tại dưới dạng tập đoàn kinh tế hay tổng công ty Nhà nước. Do điều kiện phát triển kinh tế đặc thù của Việt Nam mà các tập đoàn kinh tế hay tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở các quyết định hành chính của Nhà nước chứ không phải được hình thành trên nhu cầu tích tụ nội tại hoặc theo nhu cầu của thị trường như ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường khác. Chính vì thế, vấn đề quản lý và năng lực quản lý của Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước luôn là vấn đề được quan tâm cả ở phương diện kinh tế và phương diện xã hội.

Theo các số liệu thống kê của Bộ Tài chính Việt Nam đến hết năm 2008, vốn đi vay của 70 tập đoàn kinh tế và tổng công t y Nhà nước đã là hơn 448 ngàn tỷ VND, gấp 4 lần số vốn chủ sở hữu. Điều đáng chú ý ở đây là vấn đề hiệu quả kinh doanh của hệ thống tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước này như thế nào khi mà họ đã sử dụng vốn đó vào các mục đích kinh doanh ngắn hạn, vào các lĩnh vực nhiều rủi ro, nhạy cảm, đầu tư dàn trải. Bài viết này bàn về hai vấn đề: năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh của hệ thống tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam hiện nay trong xu hướng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực.

Continue reading

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA HÌNH THỨC BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THS. BÙI THANH LAM

Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được áp dụng khá hiệu quả trên thế giới là thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Thông qua thị trường M&A, nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức đầu tư: (a) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, (b) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, (c) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường, (d) hợp nhất, sáp nhập với doanh nghiệp ở nước có dự định đầu tư.

Trên thế giới, việc tạo ra môi trường và hành lang pháp lý đồng bộ cho việc thu hút FDI đều được các nước chú trọng, tạo ra những điều kiện tốt nhất cho thị trường M&A phát triển. Với giá trị lên đến hàng ngàn tỷ USD mỗi năm, thị trường M&A không chỉ là kênh hút vốn của Nhà nước, doanh nghiệp mà còn tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường quốc gia dự định đầu tư một cách nhanh nhất, tiết kiệm được chi phí lớn nhất. Vì vậy, FDI và M&A có mối quan hệ biện chứng, việc hút lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A, và ngược lại M&A là giúp cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường, bài viết này xin giới thiệu về một số khía cạnh liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới.

Theo thống kê từ Tổ chức Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNTACD), kể từ năm 2004 đến năm 2006, thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng liên tục, giá trị vốn FDI của năm 2005 trên thế giới là 916,3 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004, giá trị vốn FDI của năm 2006 đạt trên 1200 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2005, 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI của thế giới cũng đã vượt ngưỡng 700 tỷ USD. Nguồn vốn FDI đi qua nhiều kênh khác nhau, trong đó kênh mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) góp phần quan trọng vào việc gia tăng số lượng và giá trị của lượng FDI trên toàn cầu. Theo những đánh giá của Thomson và PricewaterhouseCoopers’ (PwC) thì tổng giá trị M&A trong năm 2006 đã lên đến gần 3500 tỷ USD với gần 40.000 vụ, xu hướng cổ phần hoá, tư nhân hoá đang diễn ra tại các nước phát triển và đang phát triển là những cơ sở quan trọng cho thị trường M&A bùng nổ.

Continue reading

NGUỒN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS. NGÔ HOÀNG OANH – Bộ Tư pháp

Trên thế giới tồn tại hai hệ luật mang đặc trưng khác biệt là hệ luật Châu Âu lục địa và hệ luật Anh – Mỹ (còn gọi là hệ thông luật). Xuất phát từ sự khác biệt của các hệ luật mà ở các nước thuộc hệ luật Châu Âu lục địa, nguồn luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng là các văn bản chứa các quy phạm pháp luật về ngân hàng. Các nước thuộc hệ luật Anh – Mỹ ngoài các văn bản quy phạm pháp luật, nguồn Luật ngân hàng còn có án lệ. Ngoài ra, nói đến nguồn luật điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng của các nước trên thế giới, chúng ta còn phải kể đến các tập quán và thông lệ quốc tế, các hiệp ước và hiệp định quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.

1. Luật Ngân hàng các quốc gia

Cũng giống như Luật Ngân hàng của Việt nam, Luật Ngân hàng của hầu hết các nước trên thế giới cũng bao gồm chủ yếu hai loại quy phạm pháp luật, đó là các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản lý nhà nước về ngân hàng và các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tổ chức và kinh doanh ngân hàng.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu luật ngân hàng của một số nước trên thế giới.

Pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng Mỹ:

Luật về Ngân hàng ở Mỹ phản ánh toàn bộ lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng nước này trong suốt quá trình hoàn thiện về các hoạt động cũng như hệ thống ngân hàng của các bang. Sự hình thành của các hệ thống ngân hàng vào giữa thế kỷ 19 đã để lại dấu ấn trong hệ thống pháp luật Hoa kỳ, hiện nay một phần lớn các văn bản pháp luật được thông qua bởi Quốc hội và các bang, ban hành vào giữa và cuối thế kỷ 19 vẫn có hiệu lực. Vào những năm 70 và 80 đã có một cuộc cách mạng đối với hệ thống ngân hàng Mỹ, đó là sự đổi mới về công nghệ và các hoạt động ngân hàng.

Tính đến 31/12/2004, hệ thống ngân hàng Mỹ có 7630 ngân hàng thương mại, 211 ngân hàng nước ngoài từ 60 nước trên thế giới, ngoài ra còn phải kể đến các tổ chức nhận tiền gửi khác như quỹ tín dụng, hiệp hội tiết kiệm và một hệ thống các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính và không nhận tiền gửi khác1

Continue reading

ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG  -  Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao

Kế thừa và phát triển các quy định của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động trước đây (gọi chung là các pháp lệnh tố tụng), Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) có 7 điều (từ Điều 56 đến Điều 62) quy định đương sự trong vụ án dân sự. Bài viết này nhằm nghiên cứu làm rõ khái niệm này.

1. Khái niệm Đương sự trong vụ án dân sự

Điều 56 Bộ luật TTDS quy định: “ Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

So với các pháp lệnh tố tụng thì khái niệm “đương sự” trong BLTTDS mở rộng hơn. Pháp lệnh tố tụng dân sự quy định: Các đương sự là công dân, pháp nhân. Pháp lệnh tố tụng kinh tế quy định đương sự là cá nhân, pháp nhân. Với quy định này, các tổ chức không có tư cách pháp nhân như tổ hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh… không phải là đương sự. Rõ ràng quy định như trên không bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự. Với quy định trong điều 56 BLTTDS đã khắc phục được những thiếu sót trong các pháp lệnh tố tụng và đã bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong BLDS.

– Đương sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch. Điều 57 BLTTDS đã đưa ra khái niệm năng lực pháp luật Tố tụng dân sự vào lực hành vi tố tụng dân sự của công dân Việt Nam mà các pháp lệnh tố tụng trước đây chưa nêu

Bộ luật quy định: đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng, họ không thể tự mình tham gia tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

Continue reading