BÀN VỀ SỬ DỤNG THUẬT NGỮ PHÁP LÝ TRONG MỘT SỐ BỘ LUẬT HIỆN HÀNH

THS. NGUYỄN QUANG LỘC – Thẩm phánToà án nhân dân tối cao

Một trong những vấn đề rất quan trọng đặt ra trong công tác lập pháp là độ chính xác, tính thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý. Độ chính xác, tính thống nhất trong sử dụng thuật ngữ pháp lý không chỉ ở một văn bản pháp quy mà cao hơn là trong các Bộ luật. Việc sử dụng thuật ngữ pháp lý không chính xác, không thống nhất đối với những vấn đề pháp lý giống nhau hoặc tương tự như nhau, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới nhận thức về quy phạm pháp luật khác nhau và việc áp dụng pháp luật cũng không thống nhất. Chúng tôi xin nêu một số ví dụ như sau:

1-  Về việc sử dụng thuật ngữ "hậu quả" và "hiệu lực":

Điều 254 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị:

1) Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.

2) Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Điều 237 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị:

1) Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.

Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không có kháng cáo, kháng nghị:

Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính không có quy định về vấn đề này.

Continue reading

XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO ĐIỀU 35, 36 CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐINH VĂN VỤ – TAND tỉnh Cao Bằng

Trong bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hương, Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20 (tháng 10 năm 2009) có nêu để trao đổi về một việc dân sự.

Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là hai vợ chồng đăng ký nhân khẩu thường trú tại thị trấn Y huyện Y, tỉnh YB. Do cuộc sống không hạnh phúc, nên tháng 9 năm 2007, ông Nguyễn Văn A đã làm đơn xin ly hôn bà B. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của ông A được ly hôn bà B. Nhưng bản án sơ thẩm đã bị bà B kháng cáo hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật. Trong khi chờ cấp phúc thẩm xem xét vụ kiện, thì năm 2008, ông A đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh YB với bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại phường N, thành phố YB, tỉnh YB. Sau khi kết hôn, ông Nguyễn Văn A cũng chuyển hộ khẩu về ở cùng với bà Nguyễn Thị T.

Nhận thấy việc kết hôn với ông Nguyễn Văn A là trái pháp luật, nên bà Nguyễn Thị T đã làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố YB, tỉnh YB hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà và ông Nguyễn Văn A.

Bài viết đưa ra hai quan điểm về cách xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bà T như sau:

+Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 35 BLTTDS thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh YB.

+ Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 36 BLTTDS thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố YB, tỉnh YB.

Sau khi nghiên cứu nội dung bài viết của tác giả và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Toà án, chúng tôi có một số ý kiến trao đổi như sau.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VI PHẠM BẢN QUYỀN: AI ĐỊNH GIÁ TANG VẬT XÂM PHẠM QUYỀN?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Theo yêu cầu của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp (KDCN) xe máy, cơ quan quản lý thị trường (QLTT) đã kiểm tra và phát hiện 106 xe máy xâm phạm KDCN. Để có căn cứ xác định khung tiền phạt và số tiền phạt cụ thể, cơ quan QLTT đã xác định giá trị của các chi tiết xâm phạm đối với xe xâm phạm kiểu dáng xe Future Neo. Các chi tiết tạo nên KDCN xâm phạm là toàn bộ phần đầu xe (cụm đèn pha, đèn xi nhan). QLTT định giá 30.000 đ/bộ, nhưng giá thực tế của cụm đầu xe này do Sở Tài chính xác định, cung cấp cho cơ quan điều tra là 90.000 đ/bộ (thời điểm tháng 9.2008) và 76.000 đ/bộ (thời điểm tháng 3.2009).

Đối với ốp sườn trước trái, phải (vè), QLTT định giá 50.000 đ/bộ nhưng Sở Tài chính xác định giá thực tế là 100.000-116.000 đ/bộ. Đối với chắn bùn sau (vè sau), QLTT định giá 20.000 đ/bộ nhưng Sở Tài chính định giá theo thực tế ngoài thị trường đến 50.000 đ/bộ.

Theo đó, mức giá của Sở Tài chính xác định dao động từ 425.000 đến 450.000 đ/bộ linh kiện có yếu tố xâm phạm, trong khi Chi cục QLTT thẩm định chỉ có 170.000-180.000 đ/bộ.

Trên cơ sở giá trị các chi tiết do Sở Tài chính xác định với tổng số xe xâm phạm là 106 xe, cơ quan cảnh sát điều tra cho rằng, có sự chênh lệch khi định giá giá trị lô hàng này, dẫn tới định giá sai làm thiệt hại cho Nhà nước. Cơ quan cảnh sát sẽ xem xét đề nghị xử lý theo hướng khởi tố vụ án hình sự hoặc xử lý hành chính, tùy theo mức độ sai phạm và tổng giá trị tài sản sau khi được thẩm định giá chính xác.

(Nguồn: Sài Gòn Giải phóng, ngày 16.6.2009)

Lời bình

1. Cơ quan QLTT đã xác định 106 xe là tang vật của vụ xâm phạm quyền về KDCN, vì trên các xe này có các yếu tố xâm phạm”. Đó là các yếu tố được tạo ra từ hành vi xâm phạm. Đối với KDCN đó là sản phẩm, phần sản phẩm bị coi là yếu tố xâm phạm quyền đối với KDCN thuộc trường hợp là trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét, kể cả trường hợp đã được cấp Bằng độc quyền KDCN, có tập hợp các đặc điểm tạo dáng hợp thành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao (gần như không thể phân biệt được sự khác biệt) KDCN của chủ sở hữu khác đã được bảo hộ mà không được sự đồng ý của người đó.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CHỨNG CỨ ĐÂU?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Công ty TNHH Thương mại xây dựng sản xuất Phương Nga (Công ty Phương Nga) có đơn yêu cầu Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thành phố Hồ Chí Minh xử lý vi phạm hành chính đối với hai công ty khác vì cho rằng hai công ty này đã xâm phạm độc quyền giải pháp hữu ích của mình.

Bản chất giải pháp hữu ích của Công ty Phương Nga là khi muốn vận chuyển xi măng từ nhà máy sản xuất đến các công trình xây dựng, thông thường phải dùng xe ô tô chuyên dụng (dạng như xe bồn). Muốn vận chuyển theo cách này thì ít nhất phải có đường sá để xe chở xi măng chạy đến được công trình. Do đó, Công ty Phương Nga đã mày mò tìm cách giải quyết và cuối cùng nghĩ ra cách lấy công nghệ của xe bồn sang áp dụng cho xà lan. Hiểu nôm na là, do xi măng có dạng hạt mịn và nhẹ nên Công ty Phương Nga dùng máy nén khí và các ống dẫn để tạo áp lực hút xi măng “chảy” trực tiếp từ nhà máy – theo ống dẫn – xuống tàu và khi đến công trình thì có thể bơm ngược xi măng từ tàu – theo ống dẫn – ra bồn chứa xi măng của công trình.

Tháng 5.2006, Công ty Phương Nga nộp đơn đến Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT), Bộ KH&CN xin được cấp bằng bảo hộ đối với giải pháp kỹ thuật: “Hệ thống chứa, bơm xi măng rời lên bờ từ phương tiện vận tải thủy bằng máy nén khí”. Đến tháng 11.2007, Cục SHTT đã cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho Công ty Phương Nga, có giá trị độc quyền trong vòng 10 năm (đến năm 2016).

Chính vì cách thức hiệu quả trên nên ngay sau khi Công ty Phương Nga áp dụng giải pháp hữu ích này thì một số đơn vị cung cấp xi măng khác cũng bắt chước làm theo. “Như vậy là vi phạm sự độc quyền về giải pháp hữu ích của công ty chúng tôi”, Công ty Phương Nga khẳng định và đã có văn bản yêu cầu hai công ty khác ngưng hành vi xâm phạm, nhưng đến nay hai đơn vị này vẫn chưa ngưng. Lý do là, các công ty bị cho là xâm phạm quyền cho rằng mình không xâm phạm gì – “Giải pháp của Công ty Phương Nga đã có từ lâu đời, nhiều nơi đã ứng dụng chứ không có gì mới lạ, độc quyền cả!”.

Từ thực trạng trên, Công ty Phương Nga đã gửi đơn yêu cầu Thanh tra Sở KH&CN xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu giải pháp của mình. Tuy nhiên, Thanh tra Sở cho rằng, muốn xử lý xâm phạm thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm, trong đó có tài liệu mô tả hệ thống chứa và bơm xi măng của bên xâm phạm và so sánh hệ thống này với hệ thống được cấp bằng độc quyền.

Trong khi đó, Công ty Phương Nga cho biết, chỉ có cách dùng “gián điệp kinh tế” thì may ra mới xâm nhập nội bộ của công ty kia mà lấy tài liệu mô tả chứ làm sao mà có được chứng cứ như Thanh tra Sở yêu cầu. Do đó, hiện tại Công ty Phương Nga đang chuẩn bị hồ sơ để kiện ra tòa yêu cầu các đơn vị này chấm dứt hành vi xâm phạm.

(Nguồn: Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh online, 30-31.12.2009).

Bình luận

Continue reading

BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

PGS-TS. TRẦN VĂN ĐỘ -  Tòa án Quân sự Trung ương

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

Continue reading

HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ

THS. BÙI THỊ KIM NGÂN – Giảng viên Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Sự cần thiết phải ban hành những quy định riêng đối với lao động nữ

Lao động nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới, họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình. Đó là những vấn đề mang tính tự nhiên (lao động nữ có thời kỳ mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hàng tháng, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau…) hay mang tính xã hội (tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người từ hàng ngàn đời nay. Đặc biệt đối với các nước Á Đông…). Điều này gây ra sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, chẳng hạn như: học vấn, việc làm, cơ hội thăng tiến, trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ trong gia đình…

Những vấn đề tự nhiên cũng như các vấn đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do độc lập, tự do lao động, cơ hội thăng tiến mà lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao động nam trong quan hệ lao động. Vì thế khi tham gia quan hệ lao động, lao động nữ phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở doanh nghiệp, công sở đến công việc gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái, phụng dưỡng bố mẹ…).

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, ngoài chức năng làm mẹ, chức năng chăm sóc gia đình của lao động nữ có những thay đổi nhất định. Do áp lực của công việc và khả năng lao động của lao động nữ (đặc biệt giới trí thức) đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan hơn, ngay trong mỗi gia đình, người chồng cũng phải có cách nhìn thực tế hơn, nhất là đối với những phụ nữ tài năng để chia sẻ và tạo cơ hội cho người bạn đời của mình phát huy được khả năng, trí tuệ phục vụ cho đất nước, xã hội và gia đình.

Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên cũng như xã hội không phải lao động nữ nào cũng nhận được sự thông cảm, chia sẻ từ người chồng, của xã hội mà thực tế nhiều trường hợp người phụ nữ đành phải lựa chọn hạnh phúc gia đình hoặc cơ hội học tập thăng tiến… Người xưa có câu “hạnh phúc người đàn ông là sự nghiệp, còn sự nghiệp của người đàn bà là tình yêu”, câu nói đó phần nào phản ánh những hạn chế về giới, người phụ nữ thường xem hạnh phúc gia đình là điều quý giá và khi bắt buộc phải lựa chọn thì đa số họ sẽ chọn hạnh phúc gia đình.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 25/2010/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 3 NĂM 2010 VỀ CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các doanh nghiệp được chuyển đổi theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

3. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc chuyển đổi, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Điều 3. Chủ sở hữu và phân công, phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Continue reading

VĂN MINH GIAO TIẾP THỜI HỘI NHẬP

DIỆU TRANG

Chuyện thứ nhất. Trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ gần đây của một đoàn doanh nghiệp Việt Nam, trên đường về, tại một sân bay ở Nhật, một doanh nhân của ta bước vào duty–free shop (cửa hàng miễn thuế). Anh này thản nhiên cầm một cái ví da hiệu Cartier, không cần xem giá, mang ra quầy tính tiền. Và kết cục là anh phải trả lại cái ví hơn 700 USD đó vì giá cao hơn anh tưởng nhiều…

Chuyện thứ hai. Trong một chuyến đi làm việc tại Thái Lan, một nữ doanh nhân có kinh nghiệm của Việt Nam đã phạm một sai lầm đáng tiếc. Chị vào siêu thị, chọn một cái kính, như người ta thì phải cầm ở tay cộng khai trước khi ra bàn thanh toán, đằng này chị lại "tiện tay" cho vào túi xắc và "quên" không trả tiền. Ra đến cửa mới nhớ thì sợ quá, chị không biết xử trí thế nào đành… vứt vào sọt rác. (Điều này thể hiện rằng chị không có ý ăn trộm). Theo hệ thống camera giám sát, bảo vệ siêu thị đã tìm ra chị và sau lời phân trần đã chấp nhận “hộ tống” cho chị ra thanh toán tiền. Chuyện có lẽ đã xong nếu anh em trong đoàn không nhìn thấy và nóng vội, chưa hiểu đầu đuôi thế nào đã lớn tiếng với người bảo vệ khiến anh này tức quá gọi cảnh sát tới. Kết quả là chị phải ở lại mấy tháng chờ xét xử xong, về nước cũng "thân bại danh liệt".

Hai câu chuyện với hai thời gian, hai điạ điểm và hai chủ thể hoàn toàn khác nhưng lại có nhiều nét tương đồng. Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội từng có nhiều chuyến công du đến các nước đã dành cho Tạp chí Truyền hình một cuộc nói chuyện thú vị về một điều "nhỏ mà không nhỏ": ứng xử văn minh trong môi trướng quốc tế. Đi công cán nước ngoài sao cho văn minh – đó là vấn đề cần được quan tâm trong thời buổi hội nhập như hiện nay. Câu chuyện dưới quan sát sắc sảo của một người làm công tác đối ngoại có lẽ sẽ làm nhiều người phải suy nghĩ.

Continue reading

KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VÀ CẤU TRÚC CỦA GIAO DỊCH SÁP NHẬP, MUA LẠI DOANH NGHIỆP

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

1. Các hình thức của giao dịch M&A

Sau khi đã hiểu được sự cần thiết của giao dịch M&A, câu hỏi đặt ra với các doanh nghiệp là thực hiện M&A như thế nào.

Thông thường một giao dịch M&A phải trải qua các bước:

– Tìm kiếm đối tác

– Thẩm định, xác định giá trị giao dịch

– Đàm phán, ký kết, thực hiện Hợp đồng M&A

Trong giao dịch M&A, vấn đề cần quan tâm trước tiên đó là hình thức pháp lý mà pháp luật cho phép để thực hiện giao dịch. Hình thức pháp lý ở đây được hiểu là các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định mà các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ. Hình thức pháp lý của giao dịch M&A sẽ quyết định các công việc cụ thể cần thực hiện cũng như quyết định chúng sẽ được thực hiện như thế nào và tại thời điểm nào.

Pháp luật Việt Nam quy định về các hình thức thực hiện giao dịch M&A như sau:

– Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp thông qua việc góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần.

– Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông của công ty. Không giống như hình thức góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp, đây là hình thức đầu tư không làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp nhưng có thể làm thay đổi cơ cấu sở hữu vốn góp/cổ phần của doanh nghiệp.

Continue reading

NHỮNG THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Theo Sắc lệnh ngày 29/5/2009 thông qua việc thành lập Cục Quan hệ Người tiêu dùng (Consumer Affairs Agency – CAA) trực thuộc Văn phòng Nội các (Cabinet Office), ngày 1/9/2009 CAA chính thức đi vào hoạt động với hơn 200 nhân viên để xử lý các vụ việc có liên quan đến người tiêu dùng . Trước đây, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng là một trong những chức năng của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC).

Việc tách riêng cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cùng khung khổ pháp lý mới liên quan đến chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng gắn với việc thay đổi đáng kể pháp luật về các hành vi thương mại không lành mạnh Nhật Bản với những thay đổi trong Đạo luật số 54 năm 1957 về chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại lành mạnh có hiệu lực từ ngày 4/1/2010. Theo đó, việc xử lý các hành vi thương mại không lành mạnh chủ yếu gây hậu quả đến người tiêu dùng sẽ được chuyển sang thuộc thẩm quyền của CAA .

Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc ban hành Luật và Chính sách cạnh tranh ở châu Á, những kinh nghiệm của Nhật Bản trong lĩnh vực này có thể sẽ rất bổ ích cho Việt Nam. Thứ nhất, liên quan tới việc trong năm 2010Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng, theo hình mẫu Nhật Bản có thể nghĩ đến việc thành lập Cục Bảo vệ Người tiêu dùng như một cơ quan độc lập chứ không phải có một Ban Bảo vệ người tiêu dùng thuộc Cục Quản lý cạnh tranh như hiện nay.

Thứ hai, cần có biện pháp để áp dụng cơ chế đòi bồi thường thiệt hại đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh ở Nhật Bản chủ yếu được xử lý thông qua cơ chế đưa ra Toà án đòi bồi thường thiệt hại. Qua hơn 4 năm chính thức có hiệu lực, Luật Cạnh tranh năm 2004 mới được áp dụng để xử lý hơn 20 vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Continue reading