LUẬT LỆ LẮT LÉO, BÓP MÉO THỊ TRƯỜNG

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Lãi suất không chỉ là “món chính” của các ngân hàng, mà còn là “thực đơn” của một nền kinh tế 80 triệu dân. Thế nhưng, luật lệ liên quan đến lãi suất đã bao lần rơi vào tình cảnh lắt léo, tréo ngoe và bất khả thi. Nhà quản lý đau đầu, dân chúng hoang mang, ngân hàng lo sợ.

Bộ luật ngã vật trước… bộ, ngành (!?)

Lãi suất là chỉ số đo lường hoạt động và hiệu quả của nền kinh tế. Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự và nhiều văn bản khác đều có những quy định lấy mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) làm căn cứ trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, căn cứ mà các Bộ luật đã dựa vào hóa ra là ảo. Chẳng hạn, theo Luật Lao động, nếu doanh nghiệp chậm trả lương, phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn do NHNN công bố. Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng quy định về nghĩa vụ trả chậm của bên vay là phải trả lãi theo lãi suất tiết kiệm do NHNN quy định. Các điều luật quy định thật cụ thể, rõ ràng, nhưng nếu phải áp dụng vào thực tế, thì cho ngay một đáp án: Bế tắc. Vì từ năm 1996 đến nay, hoàn toàn không có cơ sở pháp lý để xác định và áp dụng theo mức lãi suất tiết kiệm do NHNN công bố. NHNN cho mình là “vô can” trước việc “khai tử” các điều luật nói trên.

Một loạt quy định về lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả, lãi suất chậm thi hành án,… trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997,… cũng bất ngờ bị “tuyên án tử hình”, vì NHNN đã bỏ hẳn việc quy định về lãi suất tiết kiệm từ tháng 01/1996, bỏ ấn định cụ thể lãi suất nợ quá hạn từ tháng 6/1999 và bỏ quy định về lãi suất cho vay từ tháng 6/2002. (xem biểu đồ trần lãi suất cho vay).

Continue reading

NHÌN LẠI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

LÊ DUY NGHĨA – Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương

Như vậy đã qua 2 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Dù trước khi gia nhập WTO chúng ta đã được tập dượt thông qua việc tham gia các tổ chức kinh tế – thương mại khu vực, tiếp cận với các nền kinh tế hàng đầu thế giới, song vẫn không khỏi lấn bấn trước thời vận mới.

Tuy vậy với quan điểm biện chứng, biết rõ mình đi lên từ điểm xuất phát thấp, trước sự kiện này chúng ta không quá lạc quan về thời cơ bởi không phải thuận lợi nào cũng nâng bước ta đi, ban tặng ta quả ngọt, đồng thời cũng không quá băn khoăn về những thách thức bởi thấu hiểu rằng không phải bất cứ khó khăn nào cũng cản ngăn ta đi tới, mang đến cho ta trái đắng. Vào giao thời giữa 2008 và 2009, hãy nhìn lại bước đi ban đầu trong hành trình cùng WTO với sự lựa chọn "ngoại thương" là đối tượng để suy xét, vì đây là lĩnh vực nhạy cảm, bộc lộ sớm và khá toàn diện trước những tác động của thời cuộc mới.

Xuất khẩu (XK) của năm 2007 ước đạt 48,5 tỷ USD, tăng 21,9 % so với năm 2006. Với nhập khẩu (NK) các chỉ số tương ứng là ước đạt 62,6 tỷ USD và 39,6 % . Nhập siêu (NS) 14,1 tỷ USD Tỷ lệ NS 29,1%.

Trên nền tảng thành công đó, chúng ta hành quân vào năm 2008 với nhiều hy vọng về những điều tốt đẹp. Song năm 2008 kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; thân nhiệt nền kinh tế đất nước lên xuống thất thường. Trước đây, quý IV thường "thừa thắng tiến lên", còn thời khắc này của năm 2008 lại bắt đầu chao đảo vì làn gió khủng hoảng toàn cầu bắt đầu lan đến. Cho nên chúng ta phải đợi đến tháng cuối cùng mới thở phào nhẹ nhõm, mới chắc chắn thành công. Hơn thế nữa lại thành công trên cả 3 mặt: đẩy mạnh XK, hạn chế tốc độ tăng NK, kiềm chế NS.

Xin nhìn lại từng lĩnh vực qua các thời khắc trong năm để thấy đạt được kết quả trên là đáng trân trọng.

Continue reading

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2010

LÊ HẢI VÂN – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mặc dù có sự giảm sút cả về vốn đăng ký và vốn giải ngân so với cùng kỳ năm trước, nhưng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam trong bối cảnh khó khăn của năm nay vẫn đạt kết quả khá cao so với các năm trước đó. Riêng thu ngân sách nhà nước từ khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2009 ước đạt 2,47 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và tăng 23% so với cùng kỳ 2008.

Vượt qua khó khăn, thu hút FDI đạt được thành tích đáng khích lệ

Năm 2009 là một năm đầy thách thức đối với thu hút FDI vào Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam vừa vượt qua những khó khăn của năm 2008 như lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh… lại phải đối mặt với cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho dòng FDI toàn cầu tiếp tục suy giảm đáng kể. FDI đầu tư ra tại 47 quốc gia (chiếm 60% tổng dòng FDI ra toàn cầu, trong đó có các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản, Đức, Pháp và Hoa Kỳ) đã giảm 57% trong năm 2009. Dòng FDI vào 57 nền kinh tế (chiếm 60% tổng FDI toàn cầu, trong đó các quốc gia tiếp nhận lớn nhất như Trung Quốc, Bra-xin và Nga) cũng sụt giảm tới 54% trong năm 2009. Giá trị các thương vụ mua lại và sáp nhập (M&As) qua biên giới cũng sụt giảm tới 77% trong năm 2009. Khả năng và ý định đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) một nguồn FDI lớn đã bị ảnh hưởng đáng kể do tác động của suy thoái kinh tế dẫn tới các chính sách thắt chặt tín dụng tại nước đầu tư, giảm kỳ vọng thị trường, giảm giá trị tài sản do thị trường chứng khoán đi xuống và giảm lợi nhuận của các tập đoàn. Thêm vào đó, các TNCs còn phải đối mặt với những thay đổi khó lường trong chính sách của các nền kinh tế để ứng phó với khủng hoảng.

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu cũng như của nền kinh tế trong nước, ĐTNN vào Việt Nam trong năm 2009 cũng suy giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2008. Các số liệu sơ bộ tính đến 15-12-2009 cho thấy, Việt Nam thu hút được 839 dự án FDI với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 21,48 tỉ USD, chỉ bằng 53,9% về số dự án mới và 30% vốn đầu tư đăng ký so với cùng kỳ 2008. Vốn đầu tư thực hiện ước đạt 10 tỉ USD, bằng 87% so với cùng kỳ năm 2008. Xuất khẩu của khu vực ĐTNN, kể cả dầu khí, năm 2009 ước đạt 29,9 tỉ USD, bằng 86,6% so với năm 2008 và chiếm 52,7% tổng xuất khẩu cả nước. Nếu không tính dầu thô, khu vực ĐTNN xuất khẩu 23,6 tỉ USD, chiếm 41,7% tổng xuất khẩu và bằng 98% so với năm 2008. Nhập khẩu của khu vực ĐTNN năm 2009 ước đạt 24,8 tỉ USD, bằng 89,2% so với năm 2008 và chiếm 36,1% tổng nhập khẩu cả nước. Như vậy, khu vực FDI xuất siêu 5,03 tỉ USD trong khi mức thâm hụt thương mại của các khu vực kinh tế dự kiến lên tới 12 tỉ USD năm 2009.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DOANH NGHIỆP: QUI ĐỊNH CHƯA RÕ, TÒA LÚNG TÚNG

NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO PLTPHCM

Các tòa kinh tế hiện cũng còn không ít vướng mắc, khó khăn trong quá trình xử lý án, nhất là việc xác định thế nào là thành viên công ty, xử lý tài sản thế chấp… nên đã kiến nghị TAND Tối cao gỡ rối.

Tòa Kinh tế TAND TP.HCM than rằng khái niệm thành viên công ty hiện đang khiến nhiều thẩm phán lúng túng, không biết xác định thế nào cho đúng.

Rối khái niệm thành viên công ty

Có người cho rằng khái niệm này trong Bộ luật Tố tụng dân sự không đồng nghĩa với quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005. Nghĩa là khi có tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau thì tòa không phân biệt đó là công ty TNHH, công ty hợp danh hay công ty cổ phần. Cuối cùng tòa phải theo luật tố tụng dân sự mà giải quyết.

Tuy nhiên, có thẩm phán lắc đầu bảo không phải, khái niệm này được hiểu giống nhau giữa hai luật. Nên khi có tranh chấp giữa các thành viên công ty TNHH và công ty hợp danh thì tòa dựa vào luật doanh nghiệp để giải quyết. Riêng tranh chấp giữa các thành viên của công ty cổ phần về cổ phiếu thì tòa dựa vào luật tố tụng dân sự giải quyết.

Cạnh đó, tranh chấp việc góp vốn giữa các thành viên với nhau cũng có nhiều quan điểm. Khi một thành viên chuyển nhượng vốn của mình cho một người ngoài dù các thành viên khác đều biết nhưng hai người chưa đăng ký thay đổi thành viên công ty thì khi có tranh chấp, người được chuyển nhượng không được coi là thành viên công ty. Lúc này tòa phải giải quyết tranh chấp việc chuyển nhượng phần góp vốn theo hợp đồng chuyển nhượng vốn góp.

Continue reading

CÁC HÌNH THỨC PHÁP LÝ CHỦ YẾU CỦA TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI

TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH – Trường Đại học Luật Hà Nội

Trong hoạt động thương mại, bên trung gian thực hiện các dịch vụ nhằm tạo điều kiện để bên có nhu cầu bán hàng, cung ứng dịch vụ… thiết lập quan hệ với bên có nhu cầu mua hàng, sử dụng dịch vụ… hoặc thông qua bên này mà hàng hoá, dịch vụ sẽ đến được với bên thứ ba. Ngay từ thế kỷ 19, luật pháp của nhiều nước trên thế giới (như Pháp, Đức, Ý, Nhật) đã quan tâm điều chỉnh các hoạt động thương mại qua trung gian. Ở nước ta, Luật Thương mại năm 2005 (LTM) đã đưa ra định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại (TGTM), đồng thời, các hoạt động này được tập hợp thành một chế định: Các hoạt động TGTM (tại chương V, từ Điều 141 đến Điều 177).

Xin được nêu và so sánh ba hình thức hoạt động TGTM chủ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại theo pháp luật của các nước trên thế giới là: đại diện thương mại (ĐDTM), môi giới thương mại (MGTM), uỷ thác thương mại (UTTM) với các hình thức tương ứng theo pháp luật Việt Nam[1], đồng thời chỉ ra những nội dung cần lưu ý khi xác định hình thức cũng như hoạt động TGTM trên thế giới.

1. Đại diện thương mại[2]

Hiện nay, ĐDTM là hình thức hoạt động TGTM phổ biến nhất trên thế giới và được pháp luật của hầu hết các nước ghi nhận. Ở Pháp, ĐDTM được quy định từ Điều L134 -1 đến Điều 134 -17 Bộ luật thương mại (BLTM)[3]; ở Đức được quy định từ Điều 84 đến Điều 92 BLTM[4]; ở Nhật được quy định từ Điều 46 đến Điều 51 BLTM ; ở Thái Lan được quy định từ Điều 797 đến Điều 832 Bộ luật Dân sự và thương mại (BLDS và TM)5. Để kết hợp luật của các quốc gia thành viên liên quan đến những bên ĐDTM độc lập, Hội đồng châu Âu đã ban hành chỉ thị số 86/653/EEC ngày 18/12/1986 về những bên ĐDTM[5].

Qua nghiên cứu cho thấy, ĐDTM theo pháp luật của các nước nói trên có bản chất giống với hoạt động đại diện cho thương nhân theo pháp luật Việt Nam (được quy định trong LTM 2005 từ Điều 141 đến Điều 149).

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT NUÔI CON NUÔI VÀ VẤN ĐỀ LỒNG GHÉP GIỚI

PGS. TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ tư pháp

Trên cơ sở Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 47) và Luật bình đẳng giới (Điều 21 và Điều 22), trong quá trình soạn thảo Luật nuôi con nuôi, Ban soạn thảo cũng đã trao đổi về vấn đề có hay không có vấn đề giới, nói cách khác là yêu cầu thiết lập sự bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực nuôi con nuôi, cũng như tác động của việc thi hành Luật sau này đối với vấn đề bình đẳng nam nữ. Sau nhiều lần trao đổi, Ban soạn thảo đã đi đến nhất trí rằng, dự án Luật nuôi con nuôi không có vấn đề nổi cộm về bình đẳng nam nữ. Bởi những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, xét một cách tổng thể, thì nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội mang tính nhân đạo, làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con lâu dài, ổn định giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm người được nhận làm con nuôi (trẻ em không có gia đình) được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường gia đình. Vì thế, mọi việc nuôi con nuôi đối với trẻ em, không kể là trẻ em trai hay trẻ em gái, đều phải hướng đến mục đích đó. Dự thảo Luật nuôi con nuôi đã quy định theo hướng như vậy. Còn xét về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, thì dự thảo Luật điều chỉnh một cách chung nhất đối với quan hệ nuôi con nuôi liên quan đến cả hai giới nam và nữ, không thiên về một giới cụ thể nào. Về nguyên tắc, mọi cá nhân hay cặp vợ chồng, nếu có đủ điều kiện thì đều được nhận nuôi con nuôi; mọi trẻ em, không phân biệt nam nữ, nếu có đủ điều kiện và đúng đối tượng, đều có thể được nhận làm con nuôi. Nội dung xuyên suốt của dự thảo Luật đã quy định trên nguyên tắc bình đẳng như vậy.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 47 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 21 Luật bình đẳng giới, trên quan điểm yêu cầu lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, Ban soạn thảo thấy rằng, dự thảo Luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi chủ yếu đối với trẻ em – đối tượng từ 15 tuổi trở xuống, chủ yếu là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, không có gia đình – thuộc cả hai giới nam và nữ. Với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em, không kể trẻ em nam hoặc trẻ em nữ, dự thảo Luật (Điều 14 và Điều 30) đã đưa ra quy định chung về điều kiện và đối tượng trẻ em được cho làm con nuôi. Quy định này được áp dụng cho trẻ em thuộc cả hai giới mà không có sự phân biệt. Theo đó, khi trẻ em có đủ điều kiện và thuộc diện được cho làm con nuôi, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết cho trẻ em làm con nuôi theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà không đặt vấn đề ưu tiên cho trẻ em trai hay trẻ em gái được làm con nuôi.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 06/2010/TT-NHNN NGÀY 26 THÁNG 2 NĂM 2010 HƯỚNG DẪN VỀ TỔ CHỨC, QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH, VỐN ĐIỀU LỆ, CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN, BỔ SUNG, SỬA ĐỔI GIẤY PHÉP, ĐIỀU LỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) hướng dẫn thực hiện các vấn đề về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi Giấy phép, Điều lệ của ngân hàng thương mại, như sau:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này hướng dẫn chi tiết về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi Giấy phép, Điều lệ của ngân hàng thương mại quy định tại Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại (sau đây gọi là Nghị định số 59).

2. Đối với ngân hàng thương mại liên doanh và ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài; áp dụng các quy định tại Thông tư này đối với những vấn đề không được quy định tại Thông tư số 03/2007/TT-NHNN ngày 05/6/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/02/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các ngân hàng thương mại (sau đây gọi là ngân hàng);

2. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến tổ chức và hoạt động của ngân hàng quy định tại Điều 1 Thông tư này.

Continue reading