SOẠN LUẬT – CUỘC GIẰNG XÉ GIỮA CÁC LỢI ÍCH

con0012 NGUYỄN LONG VÂN

Đã từ lâu, các nhà soạn Luật của chúng ta đa số là người trong bộ máy hành pháp, soạn thảo ra các bản dự thảo Luật, sau đó mới đưa ra Quốc hội thảo luận, góp ý, sửa đổi và thông qua. Với nhãn quan của một kẻ “bề trên”, với địa vị là người sẽ nắm công cụ quyền lực, với thói quen và sự hiểu biết của bộ máy còn nặng thói quan liêu…và vì sự sống còn của chính mình, các nhà soạn thảo có “công tâm” đến đâu chăng nữa thì  bản dự thảo Luật về Hội có đến lần thứ 100 cũng khó lòng đem lại dân chủ thực sự cho người dân trong vấn đề lập Hội.

Từ nóng ruột đến bức bối, rồi cảm giác ngạt thở khi chờ đợi các nhà lập pháp của nước nhà quy hoạch và thực hiện quá trình làm Luật. Có những Bộ luật, các nước đã thực hiện từ “tám mươi đời” rồi mà nay chúng ta vẫn loay hoay ở mức Dự thảo. Lại có những Bộ luật ra đời sau một thời gian dài thai nghén như “voi chửa” nhưng vẫn chưa thể áp dụng vào cuộc sống vì chưa có Nghị định hướng dẫn. Lại có những Bộ luật có Nghị định hướng dẫn rồi nhưng không được cuộc sống chấp nhận vì xa rời thực tế…

Chỉ riêng việc soạn thảo các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005 đã có dự thảo đến lần thứ 17 rồi mà vẫn chưa ngã ngũ. Nếu nhìn vào con số này, thật khó lòng trách cứ các nhà soạn Luật của chúng ta thờ ơ với số phận của đất nước, chểnh mảng với sự nghiệp phục vụ nhân dân.

Cuộc sống thì vẫn trôi như dòng nước chảy. Chỉ có điều nó cứ phải biến dạng, uốn lượn theo sự xuống cấp của đạo đức và văn hóa công sở và vì sự thiếu hụt các hành lang pháp lý. Tốn thời gian, giảm nguồn lực, vì thế tụt hậu là điều cũng dễ hiểu.

Continue reading

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – Washington DC

Binh Pháp Tôn Tử có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thế có nghĩa là nếu đối thủ biết bí mật thương mại của ta thì ta trăm trận trăm thua. Bí mật thương mại của một công ty là tất cả những thông tin và kiến thức dùng trong công việc làm ăn của công ty mà chỉ có người của công ty biết được: công thức sản phẩm, danh sách các đối tác, danh sách các nhà cung cấp, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, kế hoạch tiếp thị, v.v… Các loại thông tin này nếu bị lộ ra ngoài có thể đặt công ty trong tình trạng ra trận trong khi địch đã rõ hết đường đi nước bước của ta. Vậy thì làm thế nào để các công ty có thể bảo vệ được các bí mật thương mại của mình?

Bí mật thương mại khác với sở hữu trí tuệ (intellectual property) ở chỗ là tài sản trí tuệ như bằng sáng chế (patent), thương hiệu (trademark) và tác quyền (copyright) là tài sản công khai, phải đăng ký với Nhà nước cho mọi nguời biết. Phần thưởng cho việc đăng ký công khai là độc quyền khai thác trong một thời gian luật định. 

Bí mật thương mại (trade secret) có lợi ở chỗ là công ty có độc quyền khai thác bí mật vô hạn định, ngày nào bí mật còn là bí mật thì công ty còn độc quyền khai thác.  Tuy nhiên, bí mật thương mại nếu bị “bật mí” thì xem như không còn giá trị mấy.  Coca Cola là một trong những công ty đã chọn con đường không đăng ký bằng sáng chế (để được bảo vệ độc quyền trong một thời gian) công thức làm nước Coca Cola, mà giữ công thức này hoàn toàn bí mật (để được độc quyền vĩnh viễn). Cho đến ngày nay, Coca Cola vẫn thành công trong việc bảo vệ bí mật công thức này.  McDonald cũng có nhiều công thức làm thực phẩm bí mật không đăng ký bằng sáng chế với Nhà nước.

Dĩ nhiên là các đối thủ của một công ty có quyền tìm cách khám phá ra công thức bí mật bằng cách “thiết kế ngược,” nghĩa là phân tích một sản phẩm để tìm ra công thức chế tạo. Cách này hoàn toàn hợp pháp, và nếu công ty không đăng ký bằng sáng chế, thì công thức có thể bị mất. Tuy vậy, trong một số các lĩnh vực, như là thực phẩm chẳng hạn, thiết kế ngược để tìm đúng công thức cho ra đúng mùi vị không phải là việc dễ dàng.

Continue reading

“NHÃN HIỆU” VÀ “THƯƠNG HIỆU”

NGUYỄN ĐÌNH SAN

“Nhãn hiệu” và “Thương hiệu” là 2 từ lúc đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, thương trường rồi sau đó mới mở rộng, hàm chứa nghĩa sang những lĩnh vực khác. “Nhãn hiệu” là cái vỏ, cái mác bên ngoài; còn “Thương hiệu” là cái làm nên giá trị của thứ đó. Nhãn hiệu thì có thể gắn với nội dung, chất lượng, có thể không. Hiểu nôm na, nhãn hiệu chỉ đơn giản là tên của một hãng, một sản phẩm hàng hoá.

Ví dụ như Sony, Daewoo, Hanel… (hàng địên tử); 555, Dunhill, Marlboro, Vinataba, Thăng Long… (Thuốc lá) là nhãn hiệu. Còn thương hiệu gắn với những sản phẩm nổi tiếng, chiếm được sự ưa chuộng của đa số khách hàng. Bản thân các nhãn hiệu không có tính cạnh tranh nhau vì đơn thuần chỉ là cái tên, sự phân biệt giữa các đơn vị kinh tế. Chỉ thương hiệu mới có tác dụng này, mới có khả năng loại bỏ nhau do chất lượng, uy tín đối với khách hàng khác nhau. Nhãn hiệu có thể đi liền với thương hiệu, có thể không. Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, nhiều người ở Hà Nội đều biết đến hiệu dầu cao con hổ nổi tiếng Chính đại dược hàng. Đây là loại thuốc dùng để xoa bóp khi bị cảm lạnh, đau bụng rất hiệu quả. Dầu nhờn, được đựng vào hộp tròn, dẹt, to hơn đồng xu một chút, màu đỏ, có hình con hổ nổi. Không hiểu vì sao đến nay không thấy nữa. Bây giờ có thể có nhiều loại thuốc mới nhập khẩu từ nước ngoài cũng tốt, nhưng người ta vẫn không quên dầu cao con hổ của Chính đại dựơc hàng. Nhãn hiệu này đã là một thương hiệu. Khi đó không có dầu bôi nào sánh bằng. Hoặc như hiện nay, trong rất nhiều hãng cà phê đã nổi bật hãng Trung Nguyên. Thương hiệu này đã lấn át tất cả các hãng cà phê khác, gần như độc chiếm thị phần toàn quốc và một số nước trên thế giới. Đó là thương hiệu.

Như vậy, chỉ thương hiệu mới có giá trị, còn nhãn hiệu thì chẳng có ý nghĩa nếu không gắn liền với thương hiệu. Nhìn sang lĩnh vực khác – nghiên cứu khoa học hoặc văn học nghệ thuật chẳng hạn – điều đang bàn cũng không nằm ngoài những lẽ trên. Tất cả những bằng cấp (trung học, cao đẳng, đại học); học hàm (phó giáo sư, giáo sư); học vị (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), rồi những kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, thi sĩ… đều chỉ là “nhãn hiệu”, để phân biệt với các nghề nghiệp khác. Ngoài thông tin về công việc, nghề nghiệp, chưa nói lên điều gì. Phải là “thương hiệu”. Ví như ở nước ta, có tới hàng nghìn người làm nghề châm cứu nhưng chỉ Nguyễn Tài Thu mới là “thương hiệu” hàng đầu. Cũng như vậy trong những “thương hiệu” ở lĩnh vực nông học, phải nhắc đến 2 “thương hiệu” là Lương Đình Của và Vũ Tuyên Hoàng (cả 2 vị đều đã qua đời). Không thể kể hết mọi lĩnh vực đều có những “thương hiệu” đặc biệt, vượt lên, nổi trội hơn các “nhãn hiệu” khác.

Continue reading

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học ngoại thương Hà Nội

Nếu không vì lý do bất khả kháng, người bán không nên tự tuyên bố ngừng thực hiện hợp đồng

Khi một bên vi phạm hợp đồng và vi phạm đó là vi phạm cơ bản thì bên kia có quyền hủy hợp đồng. Thực tiễn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế cho thấy không dễ dàng để xác định đâu là vi phạm cơ bản.

Tranh chấp giữa Bên mua là các Cty của Argentina và của Hungary, Bên bán là một Cty của Nga. Bên mua kiện bên bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã không giao hàng như cam kết. Bên bán cho rằng Bên mua đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã chậm thanh toán. Tranh chấp được xét xử tại Hội đồng trọng tài Zurich, phán quyết tuyên ngày 31/5/1996. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng.

Diễn biến tranh chấp

Từ năm 1991, người bán Nga (một tổ chức của Chính phủ) ký kết một số hợp đồng bán nhôm cho một số người mua có trụ sở kinh doanh ở Argentina và Hungary (bên mua). Việc giao hàng được tiến hành đúng thời hạn cho tới khi Cty người bán chuyển quyền sở hữu cho một Cty tư nhân của Nga. Cty này ngay lập tức tuyên bố sẽ không tiếp tục thực hiện việc giao hàng. Trong quá trình trao đổi thư từ giữa hai bên sau đó, bên mua lưu ý rằng, họ sẽ phải chịu những thiệt hại nặng nề nếu như hàng hoá không được giao đúng hạn. Bên bán đưa ra hoá đơn theo đó ghi rõ số tiền cụ thể đòi bên mua phải thanh toán theo nhiều chuyến hàng trước đó. Bên bán cho rằng, việc bên mua trì hoãn thanh toán tiền hàng những lô hàng trước dẫn tới vi phạm cơ bản nghĩa vụ của bên mua, do vậy, bên bán có quyền từ chối thực hiện hợp đồng. Bên mua đề nghị đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng bên bán từ chối. Bên mua đã kiện bên bán ra trọng tài đòi bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh do không giao hàng.

Continue reading

HỦY BỎ HỢP ĐỒNG DO CHẬM GIAO HÀNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương Hà Nội

Thông thường, khi người bán chậm giao hàng, người mua không được quyền hủy hợp đồng mà chỉ được đòi bồi thường thiệt hại. Tuy vậy, trong một số tình huống nhất định, người mua có quyền hủy hợp đồng ngay khi người bán không thể giao hàng khi hết thời hạn.

Tranh chấp giữa Cty Diversitel Communications Inc. (Canada) và công ty Glacier Bay Inc. (Mỹ). Người bán Mỹ không giao hàng khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng. Hai bên tranh cãi về việc liệu người mua Canada có quyền hủy hợp đồng hay không. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Công lý tối cao tại Ontario (Ontario Supreme Court of Justice), phán quyết tuyên ngày 6/10/2003.

Diễn biến tranh chấp

Người mua Canada và người bán Mỹ đã ký kết một hợp đồng mua bán hệ thống cách nhiệt chân không. Để đáp ứng những thỏa thuận đã tồn tại từ trước tới nay với Bộ Quốc phòng Canada về chất lượng thiết bị và quá trình lắp đặt hệ thống tại một nhà máy ở Bắc Cực, người mua đã cố định một lịch trình giao hàng cụ thể.

Người mua đã thanh toán theo giá hợp đồng nhưng người bán không giao hàng trong thời gian đã thỏa thuận. Người mua đã kiện người bán ra Tòa án Công lý tối cao bang Ontario yêu cầu hủy hợp đồng. Người bán không đồng ý, cho rằng người bán không có đủ căn cứ để hủy hợp đồng.

Phân tích và quyết định của Tòa án

Về luật áp dụng, Tòa tuyên bố rằng Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp vì Canada và Mỹ đều là thành viên của công ước này. Để xem xét hợp đồng có thể bị hủy hay không, Tòa đã dẫn chiếu điều 25 CISG: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1334/BGDĐT-VP NGÀY 18 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỀ PHÔI BẰNG TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Kính gửi:

Ban biên tập Báo Tuổi trẻ

Báo Tuổi trẻ ngày 17/3/2010 có đăng bài “Hàng vạn phôi bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng bị lỗi” trong đó có nội dung phôi bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng có dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nhưng không có dòng chữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” và không có chỗ để dán ảnh người học. Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo có ý kiến như sau:

Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp trình độ đại học, cao đẳng. Việc in phôi bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được dựa trên cơ sở quy định tại Thông tư số 21/2009/TT-BGDĐT ngày 12/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mẫu bằng tốt nghiệp cao đẳng, Thông tư số 22/2009/TT-BGDĐT ngày 12/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mẫu bằng tốt nghiệp đại học. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng không phải là văn bản quy phạm pháp luật hay công văn hành chính. Vì vậy, mẫu bằng tốt nghiệp đại học, bằng tốt nghiệp cao đẳng không thể hiện thể thức trình bày theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật hoặc công văn hành chính.

Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng còn được cấp cho người nước ngoài học tập tại Việt Nam. Do đó, mẫu bằng tốt nghiệp đại học, bằng tốt nghiệp cao đẳng được xây dựng trên cơ sở tham khảo bằng tốt nghiệp đại học của một số nước và mẫu giấy tờ mang tính quốc tế của một số bộ, ngành cũng chỉ ghi “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Một số giấy tờ có yêu cầu dán ảnh như Giấy chứng minh nhân dân sau một thời gian nhất định phải làm thủ tục cấp đổi để dán ảnh lại mới nhằm đảm bảo việc quản lý nhân thân bằng hình thức nhận diện qua ảnh. Tuy nhiên, theo quy định bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ cấp một lần không cấp lại và không thể sau một thời gian nhất định cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng lại yêu cầu người học làm thủ tục cấp đổi văn bằng do ảnh đã cũ. Văn bằng là loại giấy tờ đặc biệt, được sử dụng lâu dài và đi theo suốt cuộc đời người được cấp văn bằng. Hơn nữa, tham khảo mẫu văn bằng các trình độ đào tạo của một số nước trên thế giới, đều không dán ảnh trên văn bằng. Ảnh dán trên văn bằng không đảm bảo độ chính xác để đối chiếu khi mà theo thời gian, người được cấp văn bằng sẽ thay đổi so với ảnh. Trong điều kiện công nghệ hiện đại, nếu có mục đích gian lận trong sử dụng văn bằng thì có thể thay ảnh, làm ảnh giả, làm giả dấu nổi đóng giáp lai trên ảnh. Do đó, việc dán ảnh không có tác dụng nhiều trong quản lý văn bằng.

Continue reading

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA MỘT NHÀ NƯỚC THÔNG MINH

LG. CAO BÁ KHOÁT

Chuyển các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thành công ty cổ phần (gọi tắt là cổ phần hóa) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là một xu thế tất yếu khách quan, không thể cưỡng lại được. Tuy nhiên, do lực cản từ nhiều phía, tốc độ cổ phần hóa hãy còn rất ì ạch. Đến hôm nay, có thể khẳng định rằng, đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cổ phần hóa tiến tới tư nhân hóa các DNNN là biểu hiện sinh động nhất cho một Nhà nước thông minh.

Trước hết, DNNN là sản phẩm tất yếu của mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị. Tùy điều kiện cụ thể của mỗi nước, các DNNN ra đời và tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng đều theo một con đường chung: Nhà nước lập ra DNNN để tăng thu ngân sách phục vụ cho lợi ích chung của xã hội; khi dân chưa biết kinh doanh thì Nhà nước lập ra DNNN để hướng dẫn, làm mẫu cho dân làm theo; khi dân đã biết kinh doanh thì Nhà nước chuyển giao cho dân làm, Nhà nước chỉ làm những gì dân chưa làm được, không cạnh tranh với dân mà là người tổ chức quản lý để dân kinh doanh trên một mặt bằng cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước từng bước thoát khỏi vị thế là nhà đầu tư, tập trung tài lực vào công việc quản lý an ninh xã hội và thu thuế để phục vụ xã hội. Đó là một trong những biểu hiện của Nhà nước thông minh.

DNNN không phải là sản phẩm độc quyền của một quốc gia nào. Tất cả các nước có nền kinh tế phát triển đều phải thực hiện lộ trình tư nhân hóa để Nhà nước thoát khỏi vị thế là nhà đầu tư. Đó chính là bài toán tối ưu, Nhà nước bỏ vốn đầu tư ít nhất và thu được nhiều thuế nhất và vẫn đảm bảo phát triển đất nước. Và chỉ khi Nhà nước thực hiện bài toán tối ưu hóa đầu tư như thế mới là một Nhà nước thông minh

Tối ưu hóa đầu tư trước hết phải là xã hội hóa đầu tư, tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh để mọi công dân đều có cơ hội đầu tư bình đằng như nhau, để mọi công dân đều có cơ hội thành lập doanh nghiệp tạo việc làm cho xã hội. Các nước phát triển có tiêu chí số dân/ doanh nghiệp trung bình 20 người dân có 1 DN, chỉ số đó ở ta hiện nay là 750 dân/1DN, có tỉnh lên tới 3.000 dân/1DN. Rõ ràng là tốc độ xã hội hóa đầu tư của ta còn quá thấp. Một Nhà nước thông minh phải biết tạo điều kiện cho sự phát triển kho tàng chất xám của 80 triệu dân Việt Nam. Đó là kho tài nguyên quý nhất mà lâu nay ta không khai thác hợp lý. Bằng nhiều chính sách và biện pháp khuyến khích dân kinh doanh, đó là một Nhà nước thông minh.

Continue reading

NHÂN DỊP 200 NĂM BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

NGUYÊN LÂM

Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 1995 (Bài này được viết vào thời điểm năm 2004 – Civillawinfor). Trong bối cảnh như thế, giới luật không thể không nhắc đến một sự kiện lịch sử lớn diễn ra trong năm nay: 200 năm Bộ luật Dân sự Pháp, một trong 5 Bộ luật của Napoleon. Ra đời năm 1804, nơi thì bị áp đặt, nơi được tiếp nhận tự nguyện, dù ít hay nhiều, Bộ luật Dân sự Pháp hiện nay là cơ sở cho bộ luật dân sự ở hơn 70 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Thoạt đầu có ý nghĩa làm biến đổi hệ thống pháp luật nước Pháp thế kỷ 19, sau đó tác động tới cả hệ thống dân luật (civil law) trên toàn thế giới. Đến nay, dù đã qua 200 năm với bao biến đổi về chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, Bộ luật này vẫn tràn đầy sức sống. Phải chăng, để Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng có được tuổi thọ như vậy, chúng ta  thử tìm hiểu xem, đằng sau các điều khoản, câu chữ của Bộ luật Dân sự Pháp ẩn giấu triết lý nào, chủ thuyết nào, tư tưởng nào, hay nói cách khác, tinh thần nào đã làm nên sức sống đó?    

Khi giải thích nguyên nhân tạo nên sức sống của Bộ luật Dân sự Pháp, các nhà nghiên cứu luật học có tiếng trên thế giới đều có chung nhận xét: tư duy của những nhà làm luật Pháp hồi đó xác định ngay từ đầu rằng, chức năng của nhà làm luật là “nén chặt” (compress) các nguyên tắc chung nhất, tránh quá sa vào chi tiết. Các nhà soạn thảo nhận thức rõ rằng, ngay cả một nhà làm luật nhìn xa trông rộng nhất cũng không thể thấy hết được mọi vấn đề nảy sinh trong thực tế, vì thế cần phải để một khoảng tự do cho thẩm phán trong quá trình áp dụng có thể làm cho luật phù hợp với cuộc sống, đáp ứng được những thay đổi trong cuộc sống. Mặt khác, thẩm phán cùng với nhà làm luật cùng phát triển, mở rộng các quy định của Bộ luật và đem lại những tư tưởng pháp lý mới cho Bộ luật.

Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH RÕ KHI NÀO GIAO DỊCH DÂN SỰ BỊ VÔ HIỆU

HẢI TOÀN

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) phần liên quan đến hợp đồng, nhất là những quy định về các trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu đã nhận được nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình lấy ý kiến xây dựng Luật.

Theo đánh giá chung của nhiều chuyên gia thì những quy định hiện hành về hợp đồng thể hiện sự can thiệp “quá mức” cần thiết của Nhà nước vào quá trình, hình thành tồn tại và phát triển của quan hệ hợp đồng. Điều này, ảnh hưởng đến quá trình vận hành của thị trường cũng như quyền tự do thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng. Điển hình, vi phạm hình thức hợp đồng (phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng, hoặc chứng thực…) được xem là điều kiện để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Ngoài ra, nhiều quy định chưa tạo điều kiện thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quả việc khai thác, sử dụng các loại tài sản hiện có của Nhà nước. Theo Điều 320 thì vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch. Quy định này, không phù hợp với thực tế và không bảo đảm  tính linh hoạt của giao dịch dân sự khi mà một người có thể lấy tài sản của một người khác để đảm bảo cho nghĩa vụ của mình miễn là được sự đồng ý của người đó. Ngoài ra, những quy định về bảo hộ các quyền dân sự cũng chưa có sự thỏa đáng, nhất là thời hiệu yêu cầu Tòa tuyên bố giao dịch dân sư vô hiệu (Điều 136), thời hiệu yêu cầu Tòa giải quyết tranh chấp (Điều 427), thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 607)

Theo pháp luật hiện hành, có 3 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu: vô hiệu do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối và đe dọa; không tuân thủ các quy định về hình thức. Tại điều 131 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, các trường hợp bị tuyên là vô hiệu khi có sự nhầm lẫn về nội dung và có lỗi của một bên giao kết hợp đồng, còn đối với các trường hợp như : nhầm lẫn về chủ thể giao kết hợp đồng, cả hai bên trong quá trình giao dịch bị nhầm lẫn thì chưa được quy định trong luật. Từ thực tế, nhất là công tác xét xử cho thấy, đáng lẽ Tòa phải tuyên là vô hiệu trong các trường hợp trên để đảm bảo quyền lợi của các bên, nhưng không thể tuyên vì pháp luật không quy định.

Phó chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Từ Văn Nhữ nêu lên một thực tế trong quá trình xét xử là theo quy định công nhân quốc phòng không được chuyển nhượng nhà được phân nhưng trên thực tế việc chuyển nhượng vẫn phổ biến. Vậy, vấn đề đặt ra là hợp đồng chuyển nhượng đó có bị tuyên là vô hiệu không, và khi bị tuyên là vô hiệu thì quyền của người nhận chuyển nhượng được giải quyết như thế nào?

Continue reading