PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU – MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA GIỚI LUẬT GIA, LUẬT SƯ

ĐÀO MINH ĐỨC

Các luật gia, luật sư vừa là các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, vừa là đối tác đồng hành cùng doanh nghiệp trong hoạt động xác lập và bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu. Với mong muốn tìm hiểu sự quan tâm, ý kiến của giới này về các định chế liên quan đến nhãn hiệu trong pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát nhỏ đối với các luật gia, luật sư trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh. Dưới đây là một số ý kiến rút ra qua cuộc khảo sát này.

Mẫu khảo sát và phương thức khảo sát

Luật SHTT bắt đầu có hiệu lực từ 1.7.2006 và 5 Nghị định hướng dẫn thi hành đã được ban hành vào cuối tháng 9.2006. Nhận biết vai trò của giới luật gia, luật sư trong việc xây dựng và thực thi Luật SHTT, vào quý 4 năm 2006 và quý 1 năm 2007, người viết bài này đã gửi 140 phiếu điều tra về các chế định liên quan đến nhãn hiệu trong pháp luật về SHTT hiện hành tới 140 luật gia, luật sư là những người đang làm việc tại các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp (SHCN), các văn phòng luật sư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam và các chuyên gia pháp lý của một số cơ quan quản lý, Đoàn Luật sư, Hội Luật gia Tp Hồ Chí Minh. Số phiếu nhận lại là 116, trong đó có 22 phiếu đã bị loại qua câu hỏi kiểm tra chéo. Kết quả có 79 phiếu của các luật gia, luật sư đã tìm hiểu pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam từ mức 30% trở lên và có tham gia tư vấn ít nhất 1 vụ việc/tháng được đưa vào tổng hợp xử lý.

Trong mẫu điều tra này, có 21 người đã tìm hiểu pháp luật về nhãn hiệu với mức khoảng 30%; 19 người đã tìm hiểu khoảng 30-50%; 22 người đã tìm hiểu khoảng 50-80% và 17 người đã tìm hiểu khoảng 80-100%. Dưới góc độ thực thi pháp luật về nhãn hiệu: Có 46 luật gia, luật sư tiếp nhận và xử lý 1 yêu cầu tư vấn/tháng; 18 luật gia, luật sư tiếp nhận và xử lý từ 2 đến 4 yêu cầu tư vấn/tháng và 15 luật gia, luật sư tiếp nhận và xử lý trên 4 yêu cầu tư vấn/tháng.

Continue reading

XỬ LÝ VI PHẠM KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP – NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ YẾN, NGUYỄN TRỌNG TÚ, NGUYỄN VĂN HẢI – Công ty Cổ phần Sở hữu Công nghiệp INVESTIP, Bộ KH&CN

Tình trạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp (KDCN) ở nước ta ngày càng phổ biến, phức tạp và đa dạng. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến vấn đề này, hoặc nếu có quan tâm thì lại gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với những vi phạm. Bài viết phân tích thực trạng vi phạm và tình hình xử lý vi phạm KDCN hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp khắc phục.

THỰC TRẠNG VI PHẠM KDCN

Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý Thị trường (Bộ Công thương) phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ việc liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có kiểu dáng “cải tiến” của các kiểu dáng đã được đăng ký bảo hộ KDCN. Thực trạng này không những gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính cả về uy tín và doanh thu mà còn trực tiếp gây thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng.

Từ lâu, cái tên Duy Lợi đã trở nên rất quen thuộc trong ngành võng xếp Việt Nam về cuộc chiến chống hàng giả, hàng nhái. Sau hành trình khó khăn, tốn kém, năm 2004, Công ty TNHH Duy Lợi đã thắng một vụ kiện tại Nhật Bản và năm 2005 đã thắng một vụ kiện khác tại Mỹ về việc vi phạm KDCN. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Duy Lợi lại phải đau đầu vì tình trạng vi phạm kiểu dáng võng xếp của doanh nghiệp ở thị trường ViệtNam. Năm 2005, Duy Lợi tuyên bố có tất cả 16 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất võng xếp vi phạm kiểu dáng độc quyền sản phẩm võng xếp của mình.

Một ví dụ điển hình khác về vi phạm KDCN là trường hợp xe máy Honda. Thời gian gần đây, nhiều người tiêu dùng bất ngờ thấy có những địa chỉ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh rao bán các dòng xe Honda Spacy, SCR, AirBlade… với giá 16 triệu đồng/chiếc, thậm chí rẻ hơn. Theo giá niêm yết của Honda, hiện nay Honda Spacy chính hãng nhập khẩu có giá trên 90 triệu đồng/chiếc, còn xe AirBlade giá cũng khoảng trên 30 triệu đồng/chiếc. Như vậy, giá những chiếc xe “chợ đen” nêu trên được rao bán rẻ hơn rất nhiều so với xe gốc. Các sản phẩm xe máy chợ đen không chỉ nhái kiểu dáng bên ngoài, mà còn dán nhãn và gắn mác Honda lên trên sản phẩm. Theo ước tính của các chuyên gia, mỗi năm, thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng hơn 1 triệu chiếc xe máy giả, nhái, trong đó có đến 50% là xe giả, nhái Honda!

Continue reading

GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

image TRỊNH HÒA BÌNH

Năm 2001, nước ta bắt đầu thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2001 -2010 với các mục tiêu: Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong việc thực hiện Chiến lược đó, mặc dù chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tỷ lệ sinh đã giảm đáng kể, nhưng mức độ lại không đồng đều, có lúc chững lại và đột biến gia tăng. Vậy thực tế dân số Việt Nam đang ở tình trạng nào? Nguyên nhân của thực trạng đó và những thách thức đối với vấn đề dân số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ra sao? Nhân ngày Dân số thế giới (11.7), chúng ta cùng nhau phân tích, lý giải những vấn đề về tình trạng dân số ở nước ta hiện nay.

Gia tăng dân số và những thách thức đáng báo động

Theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) đầu năm 2008, tổng số trẻ sinh ra trong quý I năm 2008 đã tăng hơn 18.000 trẻ (tăng 7,2%) so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, có tới 39/64 tỉnh/thành phố có mức sinh tăng mạnh: Sóc Trăng (tăng 41,2%), Sơn La (40%), thành phố Hồ Chí Minh (30,2%), Hà Nội (27,6%), Phú Thọ (23%) Cũng theo Tổng cục DS-KHHGĐ, trong thời gian này, số trẻ mới sinh ra là con thứ 3 khoảng 182.000 trẻ, tăng hơn 35% so với cùng thời điểm năm 2007. Đặc biệt, đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại tập trung chủ yếu ở đối tượng công chức nhà nước, những gia đình khá giả. Cùng với đó, tỷ lệ mất cân bằng giới tính cũng đang khá cao, ở nhiều địa phương, số trẻ em trai đã vượt số trẻ em gái từ 20 đến 25%. Có 16 tỉnh/thành phố có tỷ lệ giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/100 nữ và 20 tỉnh/thành phố là 111 đến 120 nam/100 nữ.

Bấy lâu này người Việt Nam vẫn thường xem vấn đề “nhập khẩu” vợ là chuyện khác thường, nhưng có thể một ngày gần đây viễn cảnh sẽ hiện hữu như một thực tế. Cách đây 10 năm, tỷ lệ giới tính ở Việt Nam ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới (100 bé gái thì có 105-107 bé trai), nhưng trong vài năm trở lại đây, khi chúng ta thực hiện cuộc vận động dân số với khẩu hiệu dừng lại ở 1-2 con để nuôi dạy cho tốt đã góp phần hạn chế mức sinh, nhưng lại làm cho các gia đình phải cân nhắc, lựa chọn giới tính thai nhi để sinh bằng được con trai. Hệ quả là, khoảng cách tỷ lệ giới tính (số trẻ em trai/trẻ em gái) ở nước ta ngày càng tăng cao. Cụ thể, năm 2000, tỷ lệ này mới ở mức bình thường là 106/100, thì đến cuối năm 2007 đã lên đến mức báo động là 126/100. Tỷ lệ này gia tăng theo số lần sinh, đặc biệt đối với những gia đình sinh con thứ 3 trở lên. ở nhiều vùng, số lượng bé trai đã vượt số lượng bé gái 20-25%. Mặt khác, tình trạng phụ nữ di cư lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương. Thực tế này không bao lâu nữa sẽ dẫn đến tình trạng nhiều bé trai khi trưởng thành sẽ không lấy được vợ, giống như tình trạng của Trung Quốc. Nguy cơ này có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội như: ẩu đả, hiếp dâm, buôn bán phụ nữ qua biên giới… tăng lên.

Continue reading

ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM

TRẦN THỊ MAI HOA

Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là một hình thức đầu tư khá phổ biến tại nhiều nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc… Kinh nghiệm của các nước này cho thấy, ĐTMH là một kênh cung cấp vốn hiệu quả và quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển nền khoa học và công nghệ của quốc gia. Tuy nhiên, đối với Việt Nam hình thức đầu tư này còn khá mới. Thông qua việc phân tích hình thức, cơ chế hoạt động của ĐTMH nói chung và những rào cản đối với ĐTMH tại Việt Nam nói riêng, tác giả đã đưa ra một số giải pháp trên hai cấp độ: Vĩ mô và vi mô nhằm phát triển hình thức đầu tư này tại Việt Nam.

Đặc điểm của ĐTMH

ĐTMH xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1946. Đến nay, hình thức đầu tư này đã khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Tại Mỹ, nhiều công ty công nghệ danh tiếng như Microsoft, Apple, Yahoo… đã được thành lập và phát triển từ nguồn vốn ĐTMH.

Khác với các hình thức đầu tư tài chính thông thường, đối tượng được nhận vốn ĐTMH phần lớn là các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ tiên tiến có quy mô vừa và nhỏ đang trong giai đoạn khởi nghiệp. Vì đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ tiên tiến nên độ rủi ro rất lớn, nhưng ngược lại nếu thành công thì lợi nhuận thu được rất cao. ĐTMH có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, đầu tư vào các doanh nghiệp mà không cần phải có một khoản đặt cọc hay ký quỹ nào.

Thứ hai, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm rót vốn vào doanh nghiệp chủ yếu dựa trên sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp.

Thứ ba, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó thì có nghĩa là họ sẽ đồng tham dự vào việc kiểm soát điều hành doanh nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bị mất khoản đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Tuy nhiên, rủi ro cao thì sẽ được bù đắp bởi lợi nhuận cao khi doanh nghiệp đó thành công.

Continue reading

BÀN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT BIÊN GIỚI NHẰM BẢO HỘ HIỆU QUẢ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. ĐẶNG VŨ HUÂN -  Bộ Tư Pháp

Bảo hộ sở hữu trí tuệ là vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế và là lĩnh vực được WTO quan tâm xây dựng hành lang pháp lý khá chặt chẽ thông qua Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Đây là một Hiệp định đa phương của WTO có tính toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài các yêu cầu chung quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong xây dựng pháp luật, các thiết chế thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; phải đối xử công bằng đối với các chủ thể và đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TRIPS còn quy định về các biện pháp kiểm soát biên giới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (quy định từ Điều 51 đến Điều 60 của Hiệp định).

Trong bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi về các biện pháp kiểm soát biên giới theo yêu cầu của TRIPS và những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ.

1. Yêu cầu của các Hiệp định quốc tế về kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, ngăn chặn sự thâm nhập của bất kỳ loại hàng hóa giả mạo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào vào thị trường nội địa của các quốc gia đã trở thành yêu cầu không chỉ riêng cho hệ thống pháp luật của từng quốc gia, mà nó đã trở thành các cam kết quốc tế.

Trước khi có Hiệp định TRIPS, thì Công ước về Bảo hộ sở hữu công nghiệp (Công ước Pari năm 1883, được sửa đổi tại Stockholm năm 1967) tại Điều 9 có quy định về thu giữ khi nhập khẩu hàng hóa có gắn trái phép nhãn hiệu hàng hóa hay tên thương mại.

“1. Tất cả hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách bất hợp pháp đều bị thu giữ khi nhập khẩu vào những nước thành viên của Liên hiệp, nơi mà nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại đó có quyền được bảo hộ pháp lý.

2. Việc thu giữ hàng hóa cũng áp dụng tại nước nơi đã xảy ra việc sản xuất hàng hóa có gắn nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách trái phép hoặc tại nước nơi hàng hóa đã được nhập vào.

Continue reading

KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ

JEAN – PIERRE ANCEL – Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.

Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.

Về nguyên tắc thứ nhất (tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế), nguyên tắc này ngày nay đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận. Dự Luật của Việt Nam dĩ nhiên là giữ lại nguyên tắc này. Ở Pháp, nguyên tắc này được thiết lập từ một quyết định của Tòa Phá án (Tòa án Tư pháp tối cao) năm 1963. Tại quyết định này, Tòa Phá án tuyên bố nguyên tắc theo đó điều khoản trọng tài quốc tế có tính độc lập so với hợp đồng chính. Từ nguyên tắc đó, vào năm 1999, Tòa Phá án đã suy ra nguyên tắc về tính hiệu lực điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản hợp đồng có một chế độ pháp lý riêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực. Giải pháp táo bạo này đã bị chỉ trích rất nhiều do có những ý kiến cho rằng thỏa thuận hợp đồng không thể tồn tại mà không có luật điều chỉnh. Hiệu lực của hợp đồng luôn phải phù hợp với quy định của một đạo luật hoặc một văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định. Theo giáo sư Fouchard, đây không phải là trường hợp hợp đồng có xung đột pháp luật vì người ta không tìm được luật áp dụng đối với thỏa thuận này. Theo tôi, luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài đơn giản chỉ là thỏa thuận giữa các bên – kể từ khi các bên đã quyết định về thỏa thuận trọng tài, quyết định này có hiệu lực bắt buộc và trở thành luật của các bên.

Continue reading

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG: NHỮNG BẤT CẬP CẦN SỬA

LS. NGUYỄN BÌNH AN – Văn phòng luật sư Ngọn Lửa Việt – Đoàn Luật sư TP.Hà Nội

Thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội khoá XII, Tổng LĐLĐVN được giao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì soạn thảo Dự án Luật Công đoàn (sửa đổi) và Bộ LĐTBXH được giao chủ trì soạn thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) để trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 5.2010 và thông qua vào kỳ họp tháng 10.2010.

Từ khi ban hành cho đến nay, Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã tạo một hành lang pháp lý quan trọng điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ hài hoà, ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội. Khi nền kinh tế và xã hội phát triển nhanh với điểm nhấn VN gia nhập WTO, BLLĐ đã lộ ra những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào quan hệ lao động.

Bất cập giữa luật và văn bản hướng dẫn

Theo tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề 2006, trường hợp người học nghề, tập nghề được DN tổ chức dạy nghề không thu phí học nghề, nếu đã ký HĐLĐ và cam kết làm việc cho DN theo một thời hạn nhất định mà không làm việc hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cam kết làm việc cho DN thì phải bồi thường chi phí dạy nghề (theo Điều 24, BLLĐ, Điều 37 Luật Dạy nghề 2006).
Tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề là vậy, nhưng Nghị định số 44/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành đã loại trừ một số trường hợp, đó là khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ đúng và đủ theo các quy định tại Điều 37 BLLĐ thì không phải bồi hoàn chi phí đào tạo.
Trong thực tế, để chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc của NLĐ VN, các DN có vốn đầu tư nước ngoài, bằng chi phí của mình, đã đưa NLĐ của mình sang các nước phát triển để đào tạo từ vài tháng đến vài năm với cam kết NLĐ phải làm việc cho DN trong khoảng thời gian nhất định. Nhiều NLĐ đã về nước, đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của DN nói riêng và kinh tế VN nói chung.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 478/BXD-QLN NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN BÁN NHÀ THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CHO NGƯỜI ĐANG THUÊ THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/CP

Kính gửi:

– Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
– Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 29/5/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 827/TTg-KTN cho phép các địa phương tiếp tục thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ đến hết năm 2010 và giao Bộ Xây dựng nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách mới để áp dụng sau khi chấm dứt chính sách bán nhà này. Ngày 7/7/2008, Bộ Xây dựng cũng đã có công văn số 1320/BXD-QLN hướng dẫn và đôn đốc các địa phương về vấn đề này.

Để đảm bảo việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước hoàn thành đúng tiến độ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và để có cơ sở tổng hợp, đề xuất chính sách quản lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước sau khi kết thúc việc bán nhà, Bộ Xây dựng đề nghị UBND thành phố Hà Nội và UBND thành phố Hồ Chí Minh thực hiện một số nội dung như sau:

1. Chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy nhanh việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định 61/CP trên địa bàn; đối với những nhà ở không thuộc diện được bán và nhà ở thuộc diện được bán nhưng người thuê không có nhu cầu mua thì thực hiện rà soát, thống kê và lên kế hoạch quản lý theo quy định hiện hành trong khi chờ Chính phủ ban hành chính sách mới.

2. Tổ chức tuyên truyền và thông báo công khai, rộng rãi để người dân biết rõ chủ trương của Chính phủ chỉ thực hiện chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước đến hết năm 2010.

3. Tổng hợp và báo cáo về Bộ Xây dựng kết quả thực hiện việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị định 61/CP (số nhà đã bán, số nhà còn lại) và đề xuất chính sách quản lý đối với những nhà ở còn lại này.

Continue reading

“ĐỘC QUYỀN CHỨC VỤ” CÁI GỐC CỦA THAM NHŨNG

image TS. PHẠM ANH TUẤN

Tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đã trở thành quốc nạn. Quốc nạn tham nhũng là một trong những dấu hiệu cảnh báo năng lực quản lý của bộ máy Nhà nước không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước. Vì thế, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng đang được Quốc hội đưa ra lấy ý kiến nhân dân để sớm ban hành, áp dụng (Bài được viết trước thời điểm Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành – Civillawinfor). Tham nhũng, dù xảy ra ở đâu thì cũng là tội phạm đặc biệt, được thực hiện trước hết bởi các “quan chức”.

Nguồn gốc của tham nhũng là độc quyền. Độc quyền đẻ ra “xin-cho”. “Xin – cho” đẻ ra tham nhũng. Ở Việt Nam, tham nhũng xảy ra chủ yếu ở khu vực Nhà nước hoặc giữa khu vực Nhà nước với khu vực ngoài Nhà nước. Trong khu vực ngoài Nhà nước, tham nhũng cũng có, nhưng nhỏ và chưa nhiều. Vì thế, muốn chống tham nhũng hiệu quả, phải tập trung trước hết vào khu vực Nhà nước.

Cuộc “đấu” đầy cam go

Đấu tranh chống tham nhũng rất khó, vì ba lý do: Thứ nhất, đó là phải chống lại sai phạm của các “quan chức”. Chức, quyền càng cao, khi thoái hóa, biến chất càng có điều kiện tham nhũng lớn, với những thủ đoạn rất tinh vi. Nếu các “quan chức” kéo bè, kéo cánh để tham nhũng thì càng khó chống. Không ít trường hợp, người chống tham nhũng bị quy chụp là “chống lại lãnh đạo, chống lại chế độ” hoặc là “gây mất đoàn kết nội bộ”, để rồi bị chính người tham nhũng trừng trị. Thứ hai, rất khó xác định đâu là thu nhập do tham nhũng, đâu là thu nhập chính đáng, khi còn sử dụng tiền mặt là phương tiện thanh toán chủ yếu như hiện nay. Thứ ba, nhờ tham nhũng mà kiếm được của cải, vật chất không cần lao động nên khi thấy tham nhũng không bị nghiêm trị, người người đua nhau tham nhũng để kiếm lợi. Khi đó, tham nhũng sẽ lây lan theo hiệu ứng đô-mi-nô, làm băng hoại đạo đức toàn xã hội.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 40/2010/TT-BTC NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN XÁC ĐỊNH THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐỐI VỚI KHOẢN CHÊNH LỆCH DO ĐÁNH GIÁ LẠI TÀI SẢN

Căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản như sau:

Điều 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng.

1. Đối tượng áp dụng là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp).

2. Phạm vi áp dụng là khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp theo quy định.

Điều 2. Căn cứ tính thuế.

1. Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thực hiện đánh giá lại tài sản cố định (TSCĐ) theo quy định để chuyển đổi thành Công ty cổ phần thì giá trị TSCĐ được ghi nhận để trích khấu hao theo giá trị đánh giá lại và phần chênh lệch giữa giá trị TSCĐ đánh giá lại và giá trị còn lại của TSCĐ ghi trên sổ kế toán được ghi tăng phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 29/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ XÃ ĐÃ NGHỈ VIỆC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ Luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với các đối tượng sau đây:

1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

4. Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CHUNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Nghị quyết số 56/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2006 – 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 là 730.000 đồng/tháng.

Điều 2. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này áp dụng đối với:

1. Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

2. Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

3. Công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước;

4. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

Điều 3. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được dùng làm cơ sở:

1. Tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại Điều 2 Nghị định này.

Continue reading

CHUYỂN ĐỘNG CÓ HƯỚNG CỦA TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ

image THU SAN – NGUYỄN THẾ HÙNG

Một loại hoá đơn mới trên cơ sở nghiên cứu môn Ngũ hành cho phép chính phủ thu được một nguồn thuế lớn lao, giúp ổn định giá thị trường, kiềm chế lạm phát, hơn nữa loại hoá đơn ấy còn cho phép tích lũy được một nguồn vốn cực lớn cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Đó chính là “hoá đơn vé”.

Đồng tiền rất gần gũi với chúng ta trong xã hội hiện đại. Nó như không khí đối với nền kinh tế. Nếu nguồn cung ứng tiền tệ hạn hẹp thì nền kinh tế bị ngạt thở. Nhưng đồng tiền là một đối tượng vận động có hướng rất rõ ràng. Không phải cứ căng ngực hít là tiền chảy ào vào lá phổi của một nền kinh tế. Dưới góc độ Ngũ hành có thể phân tích sự vận động của đồng tiền để từ đó tìm ra cách làm cho nó chảy mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế hiện nay của nước ta.

1. Bản chất Ngũ hành của đồng tiền

Theo Ngũ Hành, có thể xếp sự vận động của đồng tiền vào hành Hoả. Một cá nhân rèn luyện tích luỹ kỹ năng lao động để có nghề nghiệp là hành Kim. Khi anh ta mang kỹ năng và sức lao động ra làm việc, thì những vận động ấy thuộc hành Thuỷ. Kết quả lao động được trả lương là hành Mộc. Lúc anh ta tiêu tiền để đổi lấy sản phẩm và dịch vụ nào đó thì sự vận động của đồng tiền lúc ấy thuộc hành Hoả. Sản phẩm và dịch vụ mà người lao động đã đổi lấy được thuộc hành Thổ. Trong Thổ tích Kim để lại bắt đầu một vòng Ngũ hành mới. Những vòng mới này vô cùng phong phú, đa dạng, cả về hình thức, lẫn nhịp độ. Nhưng nước ta, Việt Nam, lại thuộc phương Nam, cơ bản thuộc Hoả, nên tâm lý nhân dân nói chung thuộc Hoả. Tâm lý ấy làm cho các vòng Ngũ hành trao đổi sản phẩm và dịch vụ nói trên có biểu trưng như là những ngọn lửa nhỏ.

Đặc trưng cơ bản của quá trình ngọn lửa nhỏ (vòng Ngũ hành bé) là rất khó khăn trong việc cấp sức nóng để tạo được các vòng vận động sau lớn hơn vòng trước. Thực chất, các vòng Ngũ hành nhỏ chỉ như những đám cháy liu riu, nhiều khi cháy cạn nguồn mà không làm bén một đám cháy mới. Ví dụ, một bác xích lô ở Sài Gòn, ngày đạp dăm cuốc xe, kiếm được trăm ngàn. Trăm ngàn ấy có khi buộc phải tiêu hết, chỉ để tái tạo sức “đạp” cho ngày hôm sau, khó có thể tạo ra tích luỹ lớn sao cho sau mươi năm đủ để mua được một căn hộ giữa Sài Thành hoa lệ.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: GIÀNH NHAU CON HEO NÁI TRÔI SÔNG

PHƯƠNG LOAN

Hai bên tranh nhau con heo bị nước lũ cuốn, tòa xác định heo không thể trôi ngược dòng nên cho nhà ở đầu nguồn lũ thắng kiện.

Ra trước TAND tỉnh Quảng Nam trong phiên phúc thẩm vụ tranh chấp con heo nái bị nước lũ cuốn trôi có vợ chồng nguyên đơn Hà Phước Phùng và bị đơn Đoàn Thị Tuyết, cùng ngụ xã Điện An (Điện Bàn).

Ai cũng nhận heo của mình

Tại tòa, ông Phùng trình bày: Trong đợt lũ tháng 11-2007, heo nái nhà ông và nhà bà Tuyết đều bị nước lũ cuốn trôi. Thời điểm đó, ông Hà Mính (một người cùng xã) vớt được một con heo nái. Nghe tin, bà Tuyết đến gặp ông Mính nhận đó là heo của mình và đưa ông Mính 200.000 đồng để chuộc heo. Biết chuyện, ông Phùng đến nhà bà Tuyết xem rõ thực hư và phát hiện con heo đó chính là heo của ông. Ông xin chuộc lại nhưng bà Tuyết không chịu nên ông gửi đơn khởi kiện ra TAND huyện Điện Bàn.

Ông Phùng mô tả con heo nái của ông thuộc loại heo Móng Cái, tai nhỏ, miệng ngắn, đầu đen, có chấm trắng ngay giữa trán, có 12 vú trong đó hai vú sau gần nhau. Heo có một vạch lông trắng quàng ngang cổ, nặng khoảng 60-65 kg. Nửa trên thân heo từ vai lưng đến đuôi có màu đen; phần từ vai xuống hai chân trước và phần bụng đến hai chân sau có màu trắng. Heo ông đã đẻ một lứa, được tiếp tục phối hai liều tinh vào ngày 26 và 27-9 âm lịch năm 2007, hiện đang mang thai.

Bà Tuyết lại khẳng định con heo nái bà đang nuôi đúng là heo của bà bị nước lũ cuốn trôi nên bà không đồng ý trả heo cho ông Phùng. Bà cũng mô tả con heo nái của bà thuộc giống heo Móng Cái, mắt hí, da mốc, có 12 vú, lông không đậm không lợt, miệng không dài, cân nặng không xác định, hai chân sau cong ra phía sau. Heo của bà đã đẻ một lứa, tiếp tục được phối tinh hai lần vào ngày 14 và 15-9 âm lịch năm 2007, hiện đang mang thai.

Continue reading

ĐỂ TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU CHÍNH XÁC

LÊ TRỌNG DŨNG – Văn phòng Luật sư Gia Phạm

Sự ra đời của Bộ luật Dân sự 2005 với những kế thừa các quy định pháp luật trước đây về hợp đồng vô hiệu, cùng với sự tiếp thu kinh nghiệm pháp luật trên thế giới đã phần nào khắc phục tình trạng nhiều hợp đồng bị tuyên vô hiệu một cách không cần thiết.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ, một số quy định không rõ ràng và cách vận dụng pháp luật thiếu linh hoạt đã dẫn đến tình trạng Nhà nước can thiệp quá mức vào tự do hợp đồng, gây không ít hậu quả xấu cho các bên liên quan. Để tuyên bố hợp đồng vô hiệu một cách chính xác, có sức thuyết phục, cần hướng tới các vấn đề sau:

Tôn trọng tự do hợp đồng

Để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật hợp đồng của một quốc gia, người ta thường xem xét các giá trị của tự do hợp đồng. Tự do hợp đồng được hiểu là khi tham gia quan hệ hợp đồng, các bên được tự do lựa chọn đối tác, tự do chọn loại hình hợp đồng thích hợp để đạt mục tiêu, tự do xác lập các điều khoản và tự do quyết định có giao kết hợp đồng hay không.

Một số người cho rằng để bảo vệ quyền tự do của người khác và lợi ích của cộng đồng nên phải hạn chế tự do hợp đồng. Và tự do hợp đồng bị vô hiệu khi các bên tham gia hợp đồng có thỏa thuận vi phạm trật tự công, đạo đức xã hội hoặc các bên tham gia hợp đồng không hoàn toàn tự nguyện.

Nhưng có lẽ tự do hợp đồng chỉ có một giá trị nổi bật nhất là hạn chế sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền vào tự do của công dân. Do đó, cần đảm bảo tự do hợp đồng của các bên trong quan hệ hợp đồng, đồng thời có những quy định pháp luật hạn chế ở mức thích đáng tự do hợp đồng nhằm bảo đảm trật tự công và đạo đức xã hội.

Continue reading

“TỪ HẢI” CHẾT ĐỨNG VÀ CHẾT OAN!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 11-2010 đã đăng bài Có một “Từ Hải” thời nay của tôi và số 12-2010 có đăng bài “Từ Hải” không chết đứng! của tác giả Nguyễn Hữu Long, trao đổi lại về bài Có một “Từ Hải” thời nay nói trên. Sự việc hóa ra không đơn giản trong thực tế!

Trước hết, tác giả bài Có một “Từ Hải” thời nay xin cám ơn và trân trọng ý kiến trao đổi của tác giả Nguyễn Hữu Long. Tôi đồng ý với phân tích của tác giả vì nếu theo các quy định của Luật Doanh nghiệp thì kết luận “Từ Hải không chết đứng” là đúng.

Song, có một sự thật trong nền hành chính của nước ta là, dù quy định của pháp luật đã có nhưng không ít “Từ Hải” vẫn chết, vừa chết đứng, vừa chết oan.

Bởi lẽ, nguyên nhân làm cho “Từ Hải” chết không chỉ vì những quy định chưa đầy đủ và chặt chẽ của pháp luật mà còn phụ thuộc vào cách hành xử của các công chức thừa hành nhiệm vụ. Khi các công chức “lạnh lùng, vô cảm” và trả lại hồ sơ hoặc yêu cầu phải cung cấp những thủ tục không thể thực hiện thì dù có làm đúng luật, “Từ Hải” cũng vẫn “chết”.

Trường hợp ông K., Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần KHB, trong câu chuyện ở bài Có một “Từ Hải” thời nay là ví dụ điển hình.

Không phải ông K. và những luật gia tư vấn cho ông K. không biết quy định tại điều 102 và điều 104 của Luật Doanh nghiệp 2005. Khi tổ chức đại hội đồng cổ đông lần thứ hai với hai cổ đông sáng lập chiếm 60% vốn điều lệ, ông K. đã trình cho cơ quan đăng ký kinh doanh hồ sơ thay đổi người đại diện theo pháp luật và tin rằng đó là hồ sơ hợp lệ, vấn đề sẽ được giải quyết. Song, cán bộ thụ lý hồ sơ đã yêu cầu ông K. bổ sung chứng cứ chứng minh rằng, hai cổ đông không dự họp đã ký nhận giấy mời họp nhưng không dự họp. Ông K. không có chứng cứ đó nên đành “ôm” hồ sơ quay về.

Khi triệu tập đại hội đồng cổ đông lần thứ ba, ông K. cho người đưa giấy mời họp đến nhà riêng của ông B. và ông Đ. và yêu cầu hai ông này ký xác nhận: Đã nhận giấy mời họp. Nhưng ông B. và ông Đ. đã không ký theo yêu cầu.

Continue reading

SUY NGẪM 43

libel Trong nội dung chất vấn thành viên Chính phủ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) – phiên họp thứ 19, liên quan đến vụ hỏa hoạn xảy ra tại chung cư 18 tầng ở Q.Thanh Xuân, Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng tỏ ra ngạc nhiên về việc đơn vị thi công đã không làm đúng loại vật liệu theo tiêu chuẩn quy định, nhưng không hiểu sao lại vẫn được nghiệm thu?

Bộ trưởng cho rằng, về mặt quy chuẩn, quy phạm, “chúng tôi đánh giá là tương đối đầy đủ”, Bộ đã ban hành 1.250 tiêu chuẩn, bao trùm tất cả các khâu trong quá trình xây dựng, chỉ thiếu ở một số lĩnh vực mới như tàu điện ngầm. Việc vi phạm có thể khâu kiểm tra chưa làm hết vì “công trình nhiều quá, có đi kiểm tra nhưng chưa hết, đó cũng là cái cần rút kinh nghiệm”.

Giải pháp ông đưa ra là bộ đang tiến hành kiểm tra, nhắc nhở và yêu cầu khắc phục tình trạng vi phạm. Đồng thời, sẽ bổ sung những tiêu chuẩn còn thiếu.

Xem ra, Luật của chúng ta không thiếu (cụ thể trong lĩnh vực xây dựng), cái thiếu là sự kiên quyết, minh bạch trong thực thi, áp dụng pháp luật. Hướng giải quyết  nhắc nhở, khắc phục vi phạm (thực tế đâu phải trường hợp vi phạm nào cũng được phát hiện?!), và coi đó là kinh nghiệm để sửa đổi, bỏ sung luật thì có nên coi những người sai là người có sáng kiến pháp luật hay là người phạm luật phải chịu chế tài?

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

BÀN VỀ SỬ DỤNG THUẬT NGỮ PHÁP LÝ TRONG MỘT SỐ BỘ LUẬT HIỆN HÀNH

THS. NGUYỄN QUANG LỘC – Thẩm phánToà án nhân dân tối cao

Một trong những vấn đề rất quan trọng đặt ra trong công tác lập pháp là độ chính xác, tính thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý. Độ chính xác, tính thống nhất trong sử dụng thuật ngữ pháp lý không chỉ ở một văn bản pháp quy mà cao hơn là trong các Bộ luật. Việc sử dụng thuật ngữ pháp lý không chính xác, không thống nhất đối với những vấn đề pháp lý giống nhau hoặc tương tự như nhau, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới nhận thức về quy phạm pháp luật khác nhau và việc áp dụng pháp luật cũng không thống nhất. Chúng tôi xin nêu một số ví dụ như sau:

1-  Về việc sử dụng thuật ngữ "hậu quả" và "hiệu lực":

Điều 254 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị:

1) Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.

2) Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Điều 237 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị:

1) Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.

Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không có kháng cáo, kháng nghị:

Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính không có quy định về vấn đề này.

Continue reading

XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO ĐIỀU 35, 36 CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐINH VĂN VỤ – TAND tỉnh Cao Bằng

Trong bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hương, Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20 (tháng 10 năm 2009) có nêu để trao đổi về một việc dân sự.

Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là hai vợ chồng đăng ký nhân khẩu thường trú tại thị trấn Y huyện Y, tỉnh YB. Do cuộc sống không hạnh phúc, nên tháng 9 năm 2007, ông Nguyễn Văn A đã làm đơn xin ly hôn bà B. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của ông A được ly hôn bà B. Nhưng bản án sơ thẩm đã bị bà B kháng cáo hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật. Trong khi chờ cấp phúc thẩm xem xét vụ kiện, thì năm 2008, ông A đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh YB với bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại phường N, thành phố YB, tỉnh YB. Sau khi kết hôn, ông Nguyễn Văn A cũng chuyển hộ khẩu về ở cùng với bà Nguyễn Thị T.

Nhận thấy việc kết hôn với ông Nguyễn Văn A là trái pháp luật, nên bà Nguyễn Thị T đã làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố YB, tỉnh YB hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà và ông Nguyễn Văn A.

Bài viết đưa ra hai quan điểm về cách xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bà T như sau:

+Quan điểm thứ nhất cho rằng: Căn cứ theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 35 BLTTDS thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh YB.

+ Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 36 BLTTDS thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố YB, tỉnh YB.

Sau khi nghiên cứu nội dung bài viết của tác giả và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Toà án, chúng tôi có một số ý kiến trao đổi như sau.

Continue reading